Bài 25: Cúng cơm cho chúng sinh

Đã đọc: 1560           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

I. Nguyên tác và phiên âm


出生
法力不思議,
慈悲無障礙,
七粒遍十方,
普施周沙界。
唵,度利益莎訶。
Xuất sanh
Pháp lực bất tư nghì, 
Từ bi vô chướng ngại, 
Thất lạp biến thập phương, 
Phổ thí châu sa giới, 
Án, độ lợi ích sa-ha.

 II. Dịch nghĩa: Cúng cơm cho chúng sinh

Năng lực pháp mầu khôn tả,
Từ bi chẳng bị gì ngăn,
Bảy hạt biến cùng pháp giới,
Ban tặng tất cả chúng sinh.
Oṃ Trhyiṃ svāhā.

III. Chú thích từ ngữ

Xuất sinh (出生): Còn gọi là “xuất thực” (出食), hay “sinh phạn” (生飯), viết đủ là “xuất chúng sinh phạn” (出眾生食) có nghĩa là “cho chúng sinh ăn” hay “mang thực phẩm của mình cho chúng sinh ăn” (自我飯中出他眾生食). Từ “xuất sinh kệ” (出生偈) có nghĩa là “bài kệ đọc lúc cho chúng sinh ăn” (出生之時所唱之偈).

Pháp lực (法力): Năng lượng Phật pháp (佛法力量). Sức mạnh của chính pháp có khả năng kết thúc khổ đau, mang lại hạnh phúc; chấm dứt sinh tử, hướng đến Niết-bàn.

Bất tư nghị (不思議, S. acintya): Còn gọi là “bất khả tư nghị” (不可思議). Không thể nghĩ bàn; vượt khỏi tư duy; không phải chỗ suy lường của thức; không thể dùng tư duy mà chạm thấu được. Ý nói về chân lý sâu xa (甚深之理, 理之深妙), tư lự đặc sắc (希奇之思慮), không thể dùng ngôn ngữ phân tích được (不可以言議之也).

Từ bi (慈悲): Từ (P. metta) và bi (P. karuna). Từ là năng lực mang lại an lạc cho chúng sinh (給一切眾生安樂). Bi là dứt sạch khổ cho các chúng sinh (拔一切眾生痛苦). Từ là tình thương cao thượng và tích cực. Bi là cảm thông nỗi thống khổ của chúng sinh. Thực tập từ bi mỗi ngày giúp ta sống trong hòa bình, xóa thù thành bạn, thân tâm an lạc.

Vô chướng ngại (無障礙): Không trở ngại, không trục trặc, không bị rắc rối, thông suốt.

Thất (七, S. sapta): Số 7. “Thất thất” (七七) là 49 ngày. “Thất thất kỵ” (七七忌) đồng nghĩa với “thất thất nhật” (七七日) là ngày cúng thứ 49. Sau khi con người chết, mỗi tuần đều cúng chay, làm thiện sự để hồi hướng cho người quá cố. Cúng 7 ngày 1 lần được gọi là “trai thất” (齋七).

Thí (施, P=S. dāna): 1) Ban cho (給施), hiến tặng, biếu, bố thí, từ thiện (charity), 2) Cúng dường (donation), sớt bát (alms, alms-giving), 2) Sự rộng lượng. Bố thí là gieo ruộng phước (puṇya-kṣetra). Từ “thí chủ” (施主, S. dānapati) có nghĩa là người cúng dường, người bố thí, người thực hành bố thí. Từ “thí bất cầu báo” có nghĩa là “bố thí mà không mong cầu quả phước”.

Phổ thí (普施): Bố thí cùng khắp, bố thí không phân biệt.

Sa giới (沙界): Viết đủ là “Hằng hà sa số thế giới” (恒河沙數世界), có nghĩa là các thế giới nhiều như số cát [sông Hằng]. “Hằng hà sa số” là số từ chỉ cho số nhiều, không thể tính đếm được.

V. Giải thích gợi ý

Đây là bài thiền kệ dành cho vị thầy chủ lễ của thời trai đường, thường là thầy trụ trì hay vị tôn túc có hạ lạp cao, quán tưởng và mong thực phẩm cúng này có thể tặng khắp các chúng sinh.

Trước khi ăn cơm, người xuất gia nghĩ đến các chúng sinh khổ đau, bất hạnh. Vị tăng chủ lễ trai đường dùng muỗng bỏ bảy hạt cơm vào một ly nước nhỏ đã được rửa sạch, liên tưởng bảy hạt cơm này sẽ được nhân lên khắp cùng thế giới, tỷ lệ thuận với tâm quán tưởng của ta. Đối tượng của sự cúng này là tất cả chúng sinh đang bất hạnh, thiếu thốn, nghèo khó. Mục đích cúng là mong rằng các chúng sinh nương vào quán tưởng này mà có được sự tinh tấn trong công ăn việc làm của họ, nhờ đó họ có được chén cơm manh áo, vượt qua cảnh màn trời chiếu đất, cơ nhỡ. Giá trị của bài thực tập này nằm ở sự nhất tâm quán tưởng và lòng từ bi đối với sinh linh.

Chính pháp của Phật sâu sắc nhiệm mầu. Năng lực của Phật pháp có thể chuyển hóa được tất cả nỗi khổ niềm đau và nghịch cảnh ở hiện đời và đời tương lai. Áp dụng và tu chính pháp trong cuộc đời, mới thấy được sự mầu nhiệm của lời Phật dạy. Đặt để Kinh sách Phật ở viện bảo tàng hay trong tủ chứa chỉ có phước báu tôn kính không đáng kể. Nếu không đọc, không nghiền ngẫm, không ứng dụng Kinh điển vào đời sống thực tiễn thì chẳng có lợi ích gì. Ứng dụng Phật pháp sẽ giúp ta trải nghiệm Phật pháp trên thân và trong tâm. Khi bị bế tắc một chuyện gì đó chưa tháo gỡ được, hãy chính niệm đọc một vài bài Kinh có thể giúp ta mở tâm khai trí, nhờ đó, có được giải pháp tốt.

Đang giận ghét người nào đó, khi đọc kinh Pháp Cú đến câu: “Hận thù diệt hận thù, đời này không có được; Tình thương chuyển hận thù là định luật muôn đời”, ta sẽ tha thứ, không còn hận thù nữa. Cố gắng tránh hận thù. Khi bị tấn công, hãy né. Khi bị hiểu lầm hãy tìm cách giúp người hiểu sai không còn gây hấn nữa. Giả sử “cây đã lặng mà gió chẳng muốn ngừng” thì cũng đừng vì thế mà đối đầu với kẻ gây chuyện. Hãy để luật pháp nghiêm trị kẻ xấu. Khi nhờ luật pháp giúp đỡ, đừng để tâm sân hận trở thành động cơ. Nếu không đủ tang chứng, vật chứng, việc kiện tụng không thành công, hãy tin tưởng rằng nhân quả sẽ xử lý những kẻ xấu ác. Suy nghĩ tích cực này giúp ta thoát khỏi sân hận.

Đức Phật dạy ta quán tưởng hình ảnh kẻ đang chạy ngược gió, cầm đuốc đốt người. Việc đốt người chưa xảy ra nhưng người cầm đuốc ngược gió đã bị phỏng tay. Tương tự, ngửa mặt phun nước miếng lên trời để phỉ nhổ vào người ta không thích, nước miếng chưa đến trời đã rớt ngay trên mặt người phun. Hành động bạo lực, nguyền rủa, chửi bới, gây hấn người khác cũng giống như cầm đuốc ngược gió, hay phun nước miếng lên trời vậy. Hãy thực tập giữ tâm bình thản để không bị khổ đau chi phối, để thấy sự mầu nhiệm của Phật pháp.

Quán tưởng tất cả chúng sinh là cách làm cho năng lượng từ bi được lan rộng từ trái tim ta đến lời nói và việc làm cụ thể. Phát ngôn không phải để lấy lòng hay nịnh hót người khác, mà để người đang chán nản, thất vọng nghe lời khuyên được phấn chấn, vươn lên; người bi quan yếm thế nhờ đó có được niềm vui, nỗ lực chuyển hóa các bất hạnh trong đời. Lòng từ bi không phân biệt thân sơ, màu da, sắc tộc, giới tính, tuổi tác, bất luận tôn giáo và quốc tịch. Bất kỳ ai có duyên với Phật pháp, ta đều vận khởi tâm từ bi, mang lại lợi lạc cho họ. Tương tự, ta quán tưởng từ bảy hạt cơm, tất cả chúng sinh đều có được các tặng phẩm, có công ăn việc làm, đầu tư có kết quả, thành tựu các sự nghiệp. Kế đến, ta mong cho chúng sinh đạt công đức hành trì, có lòng từ bi chuyển hóa, có pháp Phật nhiệm mầu, để sớm kết thúc mọi bất hạnh.

Trong tương lai, nếu các tổ chức Phật giáo có được những nguồn vốn từ các đại gia Phật giáo, giúp những người bất hạnh có vốn làm ăn, định hướng sự nghiệp thích hợp cho họ thì số lượng quần chúng sẽ gia tăng bội phần, ứng dụng từ bài kệ này về pháp tu bố thí Ba-la-mật.

Mỗi chùa, ngoài chức năng đạo đức và tâm linh thông qua hành trì chuyển hóa, nên là nơi giới thiệu cơ hội nghề nghiệp cho những người kém may mắn. Công ty nào có nhu cầu tuyển dụng công nhân, có thể nhờ nhà chùa phát những tờ bướm thông tin để giúp mọi người tìm kiếm công ăn việc làm. Phải tổ chức bài bản để tránh tình trạng lạm dụng, làm mất đi sự trang nghiêm của chốn thiền môn. Nếu có phương pháp làm tốt, quần chúng sẽ thấy rõ, nhờ đến chùa họ có công ăn việc làm và các mối quan hệ có giá trị, từ đó, mọi người sẽ đến với đạo Phật nhiều hơn, mang lại hạnh phúc cho bản thân và tha nhân nhiều hơn.

V. Câu hỏi ôn tập

1. Trình bày “năng lực của chính pháp”?
2. Năng lực của từ bi có khả năng trị liệu gì?

***

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập