Bài 10: Rửa sạch nhơ bẩn

Đã đọc: 1638           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

I. Nguyên tác và phiên âm

去穢
洗滌形穢,
當願眾生,
清淨調柔,
畢竟無垢。
唵,賀曩密栗帝莎訶。
 Khử uế 
Tẩy địch hình uế, 
Đương nguyện chúng sinh, 
Thanh tịnh điều nhu, 
Tất cánh vô cấu. 
Án, hạ-nẳng mật-lật-đế sa-ha.


II. Dịch nghĩa: Tẩy nhơ bẩn 

Rửa sạch thân hình nhơ bẩn,
Cầu cho tất cả chúng sinh
Sạch sẽ, điều hòa, nhu thuận,
Không còn cấu uế trong tâm.
Oṃ hāna mṛte svāhā.

III. Chú thích từ ngữ

Khử uế (去穢): Rửa sạch các nhơ uế. Trong ngữ cảnh của bài thi kệ này, “khử uế” có nghĩa bóng là rửa hậu môn và chỗ kín bằng nước, chứ không chùi bằng giấy như ngày nay. Nhân rửa hậu môn và chỗ kín, sau khi đi cầu, người xuất gia nêu quyết tâm dùng nước Phật pháp, rửa tâm, rửa lời, rửa hành vi, rửa phàm tục, gột rửa sạch sẽ tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ.

Tẩy địch (洗滌): Kỳ rửa, tắm rửa, rửa rái, rửa sạch sẽ.

Hình uế (形穢): Thân thể nhơ bẩn, thân dơ hôi, thân bất tịnh. Do có các lỗ (lỗ mắt, lỗ mũi, lỗ miệng, lỗ tai, lỗ đi tiểu, lỗ đi cầu, lỗ chân lông) bài tiết ra ngoài, thân thể con người bị nhơ uế. Một ngày không tắm, thân thể trở nên hôi dơ. Mượn hình ảnh dơ hôi của thân thể, bài thi kệ này sánh ví tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ là các chất làm cho tâm con người bị nhơ bẩn, bất tịnh.

Thanh tịnh (清淨, P. suddha, visuddha, parisuddh; S. śuddha, viśuddha, pariśuddha): Sạch sẽ, không còn nhơ bẩn (vô cấu, 無垢). Về phân loại hành vi, có ba thanh tịnh: a) Thân thanh tịnh (身清淨) tức thân hình sạch sẽ, do hóa sinh (chứ không sinh ra từ bào thai, từ trứng, từ sự ẩm thấp), b) Tâm thanh tịnh (心清淨) do tu tập đạo đức, thiền định và trí tuệ, c) Tướng thanh tịnh (相清淨) tức đầy đủ 32 tướng đại nhân trang nghiêm, uy dũng.

Về bản chất, có hai loại thanh tịnh: a) Tự tánh thanh tịnh (自性清淨), tức bản tâm vốn thanh tịnh, dù trải qua nhiều kiếp số, đóng nhiều vai trong các cảnh giới, b) Ly cấu thanh tịnh (離垢清淨), tức thanh tịnh tâm do xa lìa và chuyển hóa tất cả phiền não, trần cấu như tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ.

Về đạo và đời, có hai loại thanh tịnh: a) Thế gian thanh tịnh (世間清淨) do tu tập Phật pháp, tạm thời chán ngán phiền não, tâm hướng về thanh tịnh, nhưng chưa thật sự thanh tịnh, b) Xuất thế gian thanh tịnh (出世間清淨) tu tập vô lậu, chấm dứt hoàn toàn các phiền não, tâm trở nên thanh tịnh, tâm chứng quả a-la-hán, Bồ-tát và thành Phật.

Điều nhu (調柔): Điều hòa, nhu nhuyến. Thân thể con người được cấu tạo bởi bốn yếu tố: Đất, nước, lửa, gió, dù nương tựa nhau, nhưng chúng chống trái nhau. Khi làm chủ được thân, con người trở nên điều hòa, thăng bằng. Khi làm chủ được tâm, con người trở nên nhu mì, an vui.

IV. Giải thích gợi ý

Đây là bài thiền kệ mở rộng sự thực tập về thanh tịnh, liên hệ đến hình ảnh rửa sạch của nước.

Vào nhà vệ sinh hay nhà tắm có liên hệ đến việc rửa sạch hai bộ phận nhạy cảm là hậu môn và chỗ kín. Nhân việc tẩy tịnh đó, ta quán tưởng đến sự sạch sẽ trên toàn thân. Từ động tác tẩy rửa, thân thể và mọi thứ liên hệ được sạch sẽ, nhờ đó, có được sức khỏe tốt. Khi thực tập thiền kệ này, ta mong mọi người đạt được sự hòa thuận, không còn nhơ bẩn, cấu uế nào trong tâm.

Khi cơ thể bị dơ, ta có cảm giác khó chịu trong tâm. Không làm chủ được tâm, ta có thể có các bất hòa giữa ta với những người đồng tu. Tắm rửa mỗi ngày, cơ thể được sạch sẽ, thân mình được thoải mái, làn da tiếp xúc với không khí trong lành làm ta sảng khoái, góp phần giúp ta sống tốt trong ngày, sống một cách hài hòa, không gây hấn, không tạo chia rẽ, không phân biệt đối xử, không có trọng và khinh, không có bạn và thù, xem tất cả là đồng tu.

Kinh Dược Sư đề cập đến hai vị Bồ-tát là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu, một bên là mặt trời và bên còn lại là mặt trăng. Trời, trăng thì không gặp nhau, nếu gặp nhau trong một thời điểm, tại một địa điểm thì thường dẫn đến nhật thực hoặc nguyệt thực, có hại cho sức khỏe và tổn hại mùa màn. Hai vị Bồ-tát này tuy khác biệt nhưng không gây trở ngại cho nhau, lại bổ sung và hỗ trợ nhau. Nhờ tâm chuyển hóa tích cực, hai vị Bồ-tát đã phát triển các mẫu số chung là quang tức ánh sáng và sự chiếu soi.

Mặt trời chiếu ánh sáng ban ngày, không phân biệt cây to, vừa, nhỏ được nó truyền ánh sáng, tạo diệp lục tố. Tùy theo năng lực tiếp thu, mà diệp lục tố được tiếp nhận khác nhau ở từng chủng loại thảo mộc. Tùy theo vị trí và thời điểm mà những loài thực vật tiếp nhận ánh sáng cũng hoàn toàn khác. Tại Thụy Điển vào tháng 6-7, lúc 22:00 vẫn còn sáng, tương tự, ở các nước châu Âu khoảng 21:00, trời vẫn còn sáng. Trong khi đó tại Việt Nam và nửa kia của trái đất, khoảng 6-7 giờ chiều, trời đã tối rồi.

Nhờ sự chiếu soi ánh sáng trí tuệ để phục vụ chúng sinh mà các vị Bồ-tát khác nhau trở thành bạn đồng hành. Thực tập theo hai vị bồ-tát Nhật Quang và Nguyệt Quang, chúng ta sẽ có được tinh thần hòa thuận.

Trong kinh Trường Bộ Trung Bộ, đức Phật dạy: “Như trăm sông tuôn về biển cả, tên của các sông như sông Hằng, sông Yamuna… không còn nữa, chỉ còn một danh xưng duy nhất là biển cả. Vị của biển thuần nhất là vị mặn thôi”. Tương tự, trước khi đến với đạo Phật, có người xuất thân từ giới vua chúa, dòng dõi hoàng tộc, có người là chính trị gia, quan chức triều đình, có người là tu sĩ Bà-la-môn, có người làm công tác giáo dục, có người là sĩ, công, nông và thương gia, có người lao động tay chân... khi vào Phật pháp, tất cả chỉ còn một danh xưng là sa-môn (Thích tử), tức những hành giả tu tập theo truyền thống Đức Phật Thích-ca, không phân biệt đối xử.

Nhờ tinh thần sống hài hòa, những khác nhau về cá tính, ta rũ bỏ sạch và xem các đồng tu như anh chị em ruột thịt. Thực tập hòa hợp giúp ta sống an lạc trong một phòng nhỏ, các giường san sát với nhau. Người không có sự điều thuận, dù nhà to cũng không hài lòng. Tâm hòa thuận sẽ giúp ta thiết lập được hòa bình, hạnh phúc và an vui với những người xung quanh.

Các cấu uế tham, sân, si chưa được chuyển hóa phải quyết tâm chuyển hóa đến tận gốc rễ, không để chúng hoành hành, tác động, chi phối gì đến ta. Thực tập như thế, sự chuyển hóa sẽ diễn ra theo chiều hướng tốt.

Trong một bài kinh Trung Bộ, có ba tăng sĩ đồng tu, đã phát nguyện hỗ trợ nhau, dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau trên đường tu. Họ mặc định rằng nếu ai đi khất thực về trước sẽ có bổn phận sắp xếp bàn, chậu rửa chân, khăn, chỗ ngồi để những vị khất thực về sau cùng ăn trong chính niệm. Nếu chờ các vị khác quá lâu thì có thể ăn trước, chừa phần còn lại cho các vị đồng tu. Những người về sau, cứ như thế ngồi vào bàn đã soạn sẵn và ăn phần được chừa. Sau khi ăn xong, đi rửa bát. Họ chỉ nói với nhau những gì thật sự cần thiết. Dù ít nói với nhau nhưng họ thấu hiểu nhau và giúp đỡ nhau.

Trong các Phật sự, nếu người A đi thuyết giảng thì người B làm những việc khác, người C hỗ trợ các đồng tu. Không ai nhắc nhở ai, không ai sinh nạnh ai, tất cả tu học và làm việc trong hòa thuận. Nếu người nào vì lý do sức khỏe, thì nhờ bạn đồng tu làm thế công việc của mình. Khi làm phận sự của người khác, ta phải phát tâm hoan hỷ và nghĩ rằng hôm nay tôi có phước, nhờ bạn đồng tu nghỉ mệt mà mình làm được hai công việc. Quan niệm tích cực này giúp ta dấn thân phụng sự không ganh tỵ. Sự ganh tỵ và tâm hơn thua là trở ngại lớn, như chiếc ổ khóa, khóa lại các Phật sự của nhau. Hãy tập tùy hỷ công đức và hợp tác công đức để các Phật sự chóng thành tựu.

V. Câu hỏi ôn tập

1. Trình bày ý nghĩa “cấu uế” trong bài kệ này?
2. Thế nào là “thanh tịnh” và làm cách nào để được thanh tịnh?

***

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập