Bài 11: Rửa tay

Đã đọc: 2080           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

I. Nguyên tác và phiên âm

淨手
以水盥掌,
當願眾生,
得清淨手,
受持佛法。
唵,主迦囉耶莎訶。
 Tẩy thủ 
Dĩ thủy quán chưởng, 
Đương nguyện chúng sinh,
Đắc thanh tịnh thủ 
Thọ trì Phật pháp. 
Án, chủ-ca-ra-gia sa-ha.

II. Dịch nghĩa: Rửa tay

Dùng nước rửa sạch chân tay,
Cầu cho tất cả mọi loài
Có được đôi tay trong sạch,
Giữ gìn chính pháp Như Lai.
Oṃ sukarāya svāhā.

III. Chú thích từ ngữ

Quán (盥): Rửa rái, rửa sạch.

Chưởng (掌): Bàn tay, lòng bàn tay.

Thủ (手): Tay. Mỗi cái tay gồm có ba phần: Cánh tay, bàn tay và năm ngón tay. Là bộ phận năng động của cơ thể, hai tay giúp con người làm các động tác nắm, mở, nâng lên, đưa xuống, kéo lê, ghì chặt… Nhờ có hành động của bàn tay, con người tiến bộ hơn con vật, có khả năng biến các ước mơ trở thành hiện thực.

Thọ trì (受持, S. udgrahana): a) Lãnh thụ và ghi nhớ, hay tiếp nhận và thực tập, như trong thuật ngữ “thọ trì giới luật” hay “thọ trì Phật pháp”. b) Tiếp nhận và giữ gìn, như trong thuật ngữ “thọ trì tam y” (受持三衣). Thọ trì còn có nghĩa là nương theo mà thực hành, hay hạ thủ công phu với tâm chuyên cần liên tục.

Phật pháp (佛法, P. buddhadhamma, buddha-sāsana; S. buddhadharma, buddha-śāsana): Chỉ cho tất cả chân lý (P. dhamma; S. dharma) và đạo đức (P. sīla; S. Śīla) được đức Phật thuyết giảng trong 45 năm, được biên tập thành Kinh tạng và Luật tạng.

Theo kinh Tăng Chi (A.III.285), chân lý Phật dạy có 6 đặc điểm: a) Khéo giảng (Svākkhāto bhagavatā dhammo), đầy đủ văn và nghĩa lý, b) Thiết thực hiện tại (Sandiṭṭhiko), tức có kết quả hiện đời, c) Siêu việt thời gian (Akāliko), tức không bị lỗi thời trước phát triển của khoa học, d) Đến để mà thấy (Ehipassiko), tức cần kiểm chứng bằng trí tuệ, e) Mục đích hướng thượng (Opanayiko), không phải là triết lý suông, f) Được người trí công nhận (Paccattaṃ veditabbo viññūhi).
Theo kinh Tăng Chi, đạo đức Phật dạy có 7 công năng: a) Hướng đến nhàm chán (Ekantanibbidā), b) Vô nhiễm (Virāga), c) Diệt khổ (Nirodha), d) An tịnh (Upasama), e) Thắng trí (Abhiññā), f) Giác ngộ (Sambodha), g) Niết-bàn (Nibbāna).

Siêng năng đọc tụng, khảo cứu và thực hành chân lý Phật dạy trong đời sống, ta giải phóng được vô minh, không còn mê tín, tăng trưởng trí tuệ, kết thúc sợ hãi, thấu rõ mọi thứ, nhờ đó, sống an lạc và hạnh phúc bền vững trong đời.

IV. Giải thích gợi ý

Giữ vệ sinh và đảm bảo an toàn thực phẩm có thể giúp ta ngăn được các loại bệnh do truyền nhiễm cấu uế từ bàn tay bốc thực phẩm ăn. Người Ấn Độ không phải là cộng đồng duy nhất dùng tay bốc ăn. Các nước Pakistan, Bangladesh, Bhutan, Nepal… cũng ăn bốc. Thời hiện đại, dù đầy đủ muỗng nĩa inox, nhiều cư dân trên hành tinh vẫn thích ăn bốc bằng tay như thói quen văn hóa ẩm thực.

Người Ấn Độ mặc định rằng bàn tay trái sử dụng cho vệ sinh cá nhân, bàn tay phải bốc thực phẩm ăn. Trước khi vào bàn cơm, người Ấn Độ đến bồn rửa tay, thường được đặt trước nhà ăn, có xà bông, giấy, khăn. Rửa sạch tay trước khi ăn là thói quen tích cực đối với người ăn bốc. Người Ấn Độ thường thái nhỏ thực phẩm, nấu nhuyễn nhừ rồi dùng tay trộn đều với nhau, vo thực phẩm cho tròn, đưa vào miệng ăn, không để rơi rớt, không để dính râu. Người Ấn Độ không ăn canh, không ăn rau tươi như người Việt Nam.

Do tính đặc thù của thực phẩm, người Ấn Độ không có nhu cầu sử dụng đũa. Cũng giống như tại Việt Nam, khi ăn bánh xèo, bánh cuốn, ăn bằng tay mới thấy ngon. Người Ấn Độ thường ăn thực phẩm vo tròn, nên thực phẩm của họ được gọi là “đoàn thực”, do đó, ăn bốc bằng tay tạo ra nhiều dịch vụ và tạo cảm giác ngon hơn.

Khi ăn vụng, da bàn tay tiếp xúc với lưỡi, dịch vị trong miệng sẽ tiết ra nhiều, hỗ trợ cho sự tiêu hóa khi nuốt thực phẩm vào bao tử. Về phương diện y học, ăn bằng tay sẽ ngon hơn là ăn bằng muỗng và đũa vì đũa, muỗng tiếp xúc với lưỡi không tạo ra dịch vị tương tự như bằng tay được. Khi ăn bằng bốc tay, để đảm bảo vệ sinh, ta phải rửa sạch tay. Vào thời đức Phật, Ngài và các vị thánh đệ tử cũng ăn bốc bằng tay.

Khi rửa tay, ngoài việc mong bàn tay này được sạch, ta cần cam kết sử dụng tính năng của bàn tay để phụng sự nhân sinh, nhằm mang lại các giá trị cao quý cho cuộc đời. Ở đây, chức năng cao nhất của tay là giữ gìn chính pháp của Như Lai. Dùng bàn tay này bố thí, cúng dường, giúp đời, cứu người, làm Phật sự, mang tình thương đến mọi nơi, thì bàn tay này tạo ra nhiều lợi lạc.
Ai đã từng có quãng đời vi phạm luật pháp, thay vì trừng phạt bàn tay thì hãy rửa tâm; khi tâm thanh tịnh, bàn tay sẽ hướng về việc lành. Nếu trước đây dùng tay ăn cắp, nay chuyển nghiệp bằng cách dùng tay bố thí, cúng dường. Thay đổi nghiệp bằng thay đổi tâm sẽ giúp ta thay đổi các hành động của bàn tay. Khi động cơ bất thiện đã chấm dứt, thì bàn tay ta sẽ bắt đầu làm các việc lợi lạc cho đời.

Trên nền tảng đó, Bồ-tát Quan Thế Âm đã hóa thân thành Thiên Thủ Thiên Nhãn, 1.000 bàn tay và 1.000 con mắt. Để các bàn tay phụng sự đời bằng thái độ vô ngã vị tha, thì các hành động từ bi phải được trí tuệ soi sáng. Trí tuệ ở đây được thể hiện qua hình ảnh con mắt. Trong một hành động vị tha đều có một con mắt trí tuệ soi sáng. Trong mỗi ứng dụng lòng từ bi phải có trí tuệ song hành. 500 người tạo thành một tập thể lớn. 1000 con mắt tạo thành chất xám tập thể. Có được từ bi lớn và trí tuệ lớn thì thành quả phụng sự chúng sinh chắc chắn sẽ hiệu quả hơn.

V. Câu hỏi ôn tập

1. Trình bày ý nghĩa “bàn tay thanh tịnh”?
2. Thế nào là “trọ trì Phật pháp”?

***

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập