Bài 5: Xuống giường, gieo giống từ bi

Đã đọc: 2679           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

I. Nguyên tác và phiên âm

下單
從朝寅旦直至暮,
一切眾生自迴護,
若於足下喪其形,
願汝即時生淨土。
唵,逸帝律尼莎訶。
Hạ đơn
Tùng triêu Dần đán trực chí mộ,
Nhất thiết chúng sinh tự hồi hộ,
Nhược ư túc hạ táng kỳ hình,
Nguyện nhữ tức thời sinh tịnh độ.
Án, dật-đế luật-ni sa-ha.

II. Dịch nghĩa: Xuống giường

Từ sớm, trưa, chiều đến tối.
Mỗi loài giữ mạng sống mình.
Nếu bước chân này giẫm chết.
Cầu cho sớm được vãng sanh.
Oṃ juṣṭi rūḍhi svāhā.

III. Chú thích từ ngữ

Đơn (單): 1) Một mình, đơn độc, lẻ loi, 2) Cái giường mà diện tích của nó chỉ đủ để một Tăng sĩ nằm ngủ. Dụng cụ này biểu thị lối sống giản đơn nhưng thanh cao và không chấp thủ của Tăng sĩ Phật giáo.

Hạ đơn (下單): Bước khỏi giường. Rời giường, bước chân xuống đất. Trong tiếng Bạch thoại, há đơn là đặt hàng (to place an order).

Triêu (朝): Sáng sớm, khi mặt trời chưa ló dạng.

Dần (寅): Từ 03-05 giờ sáng.

Đán (旦): Lúc mặt trời vừa mọc lên.

Mộ (暮): Chiều tối, khi mặt trời lặn.

Chúng sinh (眾生, P. satta; S. sattva): Chỉ chung cho con người và con vật có tình thức (有情) hoặc hàm thức (含識), vốn được hình thành bởi nhiều yếu tố (集眾緣所生). Trong ngữ cảnh bài thi kệ này, “chúng sinh” chỉ các loài bò, bay, máy, cựa, côn trùng vi tế… có sinh mạng, ham sống, sợ chết. Chúng sinh là đối tượng được bảo hộ bằng lòng từ bi của Tăng sĩ. Các chúng sinh phải trải qua nhiều lần sinh tử (歷眾多生死) do nghiệp chi phối. Khi trừ diệt được 3 yếu tố đầu của năm kiết sử thấp (gồm thân kiến (P. sakkāya-diṭṭhi), nghi hoặc (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbata-parāmāsa), dù vẫn còn là bậc hữu học (sekha), hành giả không còn là chúng sinh nữa, trở thành bậc dự lưu, nhập vào gia phả thánh nhân (P. Sotāpatti-phala).

Tức thời sinh (即時生): Tái sinh lập tức, vãng sinh trong thoáng chốt.

Tịnh độ (淨土, S. Sukhāvatī): Đọc đúng là tịnh thổ, tức thế giới thanh tịnh của các Phật, tức cõi Phật. Tây phương Tịnh độ Tây phương của Phật A-di-đà (Amitābha) là nơi không có các đường dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) và không có 5 uế trược: a) kiếp trược, b) Kiến trược, c) Phiền não trược, d) Chúng sinh trược, e) Mạng trược.

Tịnh độ là thế giới lý tưởng, ở đó, ngay cả khái niệm khổ còn không có. Vãng sinh Tịnh độ Tây Phương là nguyện vọng và mục tiêu của những người tu theo Tịnh độ Tông. Theo kinh A-di-đà, các bậc bất thoái chuyển do tu tập 5 điều kiện gồm: a) Căn lành lớn, b) Công đức lớn, c) Nhân duyên tốt lớn, d) Quán pháp âm, và e) Nhất tâm bất loạn) nên được vãng sinh về Tịnh độ.

IV. Giải thích gợi ý

Đối với các loài vi trùng, ta không thể nhìn thấy bằng mắt, không cảm nhận bằng sự tiếp xúc. Để giữ gìn và nuôi lớn tâm từ bi, người xuất gia vẫn phải bảo hộ chúng. Mỗi bước chân đi vô tình của ta kể từ lúc rời khỏi chiếc giường, đi xung quanh phòng, rời khỏi phòng, đều giẫm chết vi trùng. Trong lúc đi, người xuất gia mong các vi trùng có được sự bảo hộ của Tam bảo. Thực tập tâm từ bi giúp ta thoát khỏi các hận thù, oan trái, xung đột. Trì tâm kệ này khi đi giúp cho các vi trùng có thể vãng sinh Tây Phương.

Thông thường, sau mỗi bài thiền kệ chính niệm, thường có một câu thần chú được sử dụng như phương tiện giúp ta tập trung, đạt được chính niệm dễ dàng hơn. Không cần bận tâm về nội dung của câu thần chú, chỉ cần trải nghiệm chính niệm, việc đọc thần chú giúp ta đạt được an lạc. Bài thiền kệ nào có câu thần chú kèm theo, ta phải học thuộc làu, để thực tập chính niệm.
Những người bị bệnh tim và đau nhức xương khớp, trước khi ngồi dậy, ta dùng tay nâng cơ thể lên, thõng hai chân xuống giường, hai tay vịn thành giường, rồi đứng dậy. Ngồi bật dậy quá nhanh và mạnh có thể làm ta bị rối loạn tim mạch, thi thoảng làm ta nhức bưng bưng trong đầu. Người đang ngủ với ác mộng, nếu xóc mình ngồi dậy quá nhanh, lập tức bị nhức đầu. Do đó, khi thức giấc, cần ngồi dậy nhẹ nhàng trong chính niệm.

Khi vừa thức giấc, ta nên hít thở thật sâu, nhẹ nhàng, sâu lắng. Mỗi hơi thở ra vào, ta ý thức về sự vận hành của luồng khí trong thân, theo đó, thiết lập chính niệm. Tập thói quen đếm hơi thở để làm chủ sự sống của bản thân. Khi mới thức dậy, hãy hít thở thật sâu vài ba phút ta, rồi mới ngồi dậy. Làm như thế, tâm ta được khỏe; dù lúc đó trong phòng không có đèn, ta vẫn có thể nhìn thấy rất rõ mọi vật.

Khi bước xuống giường, đi từng bước, phải đi với hơi thở chính niệm. Thực tập đi trong chính niệm có khả năng tạo công đức. Khi đi trong chính niệm, lỡ giẫm đạp các loại vi trùng do không nhìn thấy được, ta không tạo ra nghiệp sát. Chính niệm trong đi là sự thực tập tốt. Vào những tháng hè, đặc biệt ở Việt Nam, các loại bọ hung, con mối và côn trùng… sớm sinh, tối tàn. Ban đêm, nơi nào có ánh đèn sáng, các côn trùng sẽ lao vào; sức nóng của bóng đèn làm chúng bị cháy cánh, rơi chết và rớt xuống trên mặt đất.

Thực tập chính niệm trong từng bước chân đi trên mặt đất để tránh giẫm đạp các loại côn trùng nhỏ nhít. Đọc bài thiền kệ này trong từng bước chân, sát nghiệp sẽ giảm đi. Nếu không để ý, cứ mỗi bước chân đi là ta đạp chết côn trùng. Do đó, khi đi, đứng, ta nên đọc bài thiền kệ và câu thần chú này để bảo hộ mạng sống của côn trùng với lòng từ bi.

V. Câu hỏi ôn tập

1. Trình bày giá trị từ bi trong bài thi kệ này?
2. Các côn trùng bị dẫm chết có thể sinh Tây phương do cầu nguyện được không?

***

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập