Danh lam Tổ Đình Sắc Tứ Hội Phước (Chùa Cát - Nha Trang)
Tổ đình Sắc tứ Hội Phước, còn được gọi với tên dân gian gần gũi là Chùa Cát, tọa lạc tại 153/2 đường Hoàng Văn Thụ (trước kia là đường Hoàng Tử Cảnh), phường Phương Sài, thành phố Nha Trang (cũ), tỉnh Khánh Hòa.
Ngày xưa, chùa ở trên đồi Hoa Sơn (Núi Một) với tên là Phước Am, do Tổ Phật Ấn và Tịch Viễn khai sáng năm 1680, là một trong những chùa cổ nhất ở tỉnh Khánh Hòa.
Hai Ngài Phật Ấn và Tịch Viễn thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng Đạo Mân-Mộc Trần và dòng Trí Thắng Bích Dung, đời thứ 35.
Hoằng hóa ở Phước Am được 10 năm, ngài Tịch Viễn viên tịch, trụ thế 43 năm (1648-1690).
Đến ngày mồng ngày 09 tháng Chạp năm Bính Thân (1716), Tổ Phật Ấn xả báo thân, trụ thế 115 năm. Môn đồ Phước Am làm lễ trà tỳ thỉnh xá lợi tôn trí trong bảo tháp trên đồi Hoa Sơn.
Đến năm 1742, ngài Đại Thông (Tổ thứ 4) đã dời chùa xuống đất bằng, cách đồi Hoa sơn 300m và đổi tên thành chùa Hội Phước. Năm 1940, tức năm Bảo Đại thứ 15, chốn già lam thánh chúng này được sắc phong “Sắc tứ Hội Phước Tự”.
Đến năm 1742, ngài Đại Thông (Tổ thứ 4) đã dời chùa xuống đất bằng, cách đồi Hoa Sơn khoảng 500m đường chim bay về hướng Bắc, trên một bãi cát mênh mông nên người dân thường gọi là Chùa Cát. Sau, chùa được đổi tên, an danh là Hội Phước.
Cùng với chùa Hải Đức vào thời kỳ xa xưa đó, hai ngôi chùa nằm hai bên con lộ nhỏ chạy cắt ngang qua, được người Pháp đặt tên là “Rue des deux Pagodes”, có nghĩa là "đường Hai Chùa" (sau năm 1975, đường đổi tên thành Tô Vĩnh Diện).
Năm 1940, Tổ đình được sắc phong “Sắc tứ Hội Phước tự” năm Bảo Đại thứ 15.
Sau hơn 340 năm xây dựng và phát triển, Tổ đình được truyền thừa qua các đời Tổ Sư trụ trì:
Tổ thứ 3: Tế Điền - Như Bổn (1716-1741),
Tổ thứ 4: Đại Thông - Chánh Niệm (1741-1810),
Tổ thứ 5: Đạo An -Phổ Nhuận (1810-1841),
Tổ thứ 6: Tánh Minh - Trí Quang (1841-1853),
Tổ thứ 7: Như Huệ - Thiền Tâm(1895-1905),
Tổ thứ 8: Thanh Minh- Huệ Châu (1905-1914),
Tổ thứ 9: Chơn Hương- Thiên Quang (1915-1917).
Tổ thứ 10: Thanh Chánh – Phước Tường (1917-1920), bổn sư của Bồ tát Thích Quảng Đức.
Tổ thứ 11: Thị Thọ - Nhơn Hiền (1920-1929),
Tổ thứ 12: Ấn Ngân - Tín Thành (1929-1949),
Tổ thứ 13: Đồng Kỉnh - Tín Quả (1949-1978).
Năm 1977, Ngài Đồng Kính - Tín Quả chính thức truyền cử thầy Chúc Thọ kế thế trụ trì, qua năm 1978 thì Ngài viên tịch.
Thầy Chúc Thọ - Quảng Thiện trụ trì từ năm 1978 đến nay.
Riêng Ngài Ấn Ngân-Tín Thành là vị trụ trì thứ 12 của Tổ đình Sắc tứ Hội Phước trong thời gian từ năm 1929 (Kỷ Tỵ) đến năm 1945 (Ất Dậu). Vì về thăm quê Quảng Ngãi nhằm lúc biến động lịch sử "Nhật lật đổ Pháp" nên Ngài không trở vào được Nha Trang vào năm đó, chùa Hội Phước không có trụ trì đến 4 năm trời. Năm 1959 (Kỷ Sửu), chùa thỉnh Đại sư Đồng Kính-Tính Quả kế nhiệm trụ trì đời thứ 13.
Đến năm 1956 (Bính Thân), Ngài Ấn Ngân-Tín Thành mới trở vào lại Xứ Trầm Hương-Khánh Hoà và khai sơn lập tự ngôi Tam Bảo an danh là Phước Điền ở Xóm Xưởng (tức khu vực xóm Hải Đức hiện nay) để hành đạo. Vào tháng Chạp năm Kỷ Hợi (1959), Ngài viên tịch tại Chùa, trụ thế 75 năm, được an táng trong ngôi tháp nhỏ bình dị gần chân đồi cách Chùa khoảng gần 100m.
Chùa Cát trải qua các cuộc trùng tu: Ngài Tánh Minh – Trí Quang trùng tu vào nửa đầu thế kỷ XIX, Ngài Phước Tường trùng tu vào năm 1917, Hoà thượng Chúc Thọ - Quảng Thiện có công lớn trong việc đại trùng tu qua thời gian hơn 30 năm kể từ năm khởi công 1994.
Sau bao biến đổi thăng trầm, đất chùa ngày xưa đã thu hẹp lại do bị lấn chiếm bởi dân cư ngày càng đông đúc, cổng tam quan của chùa hiện nay nằm sâu vào bên trong một con hẻm hẹp, nhà chùa phải dựng một cổng chào phía ngoài mặt tiền đầu hẻm. Qua cổng tam quan vào sân là chiêm bái được tôn tượng đức Quán Thế Âm lộ thiên, phía sau kế tiếp là hai bên dãy nhà Đông, nhà Tây, ở giữa là ngôi Chánh điện tạo thành hình chữ U. Ngôi bửu điện 3 tầng: tầng trệt là Tổ đường thờ chư Tổ và chư vị trụ trì qua các đời; tầng 2 là Chánh điện thờ Đức Bổn Sư Thích Ca ở giữa, nhị vị Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí hai bên tả hữu, phía trước thiết đặt hương án thờ dức Phật A Di Đà tĩnh toạ kích cỡ nhỏ với nhị vị Hộ Pháp đứng hầu hai bên, ngoài ra còn có hương án tôn trí hai tượng lớn của Tiêu Diện Đại Sĩ và Vi Đà Hộ Pháp trấn hai bên cửa chính; tầng 3 là cổ lầu thờ đức Phật A Di Đà, và tôn trí pho tượng Phật Di Lặc ở phía mặt trước hướng ra cổng tam quan.
Nằm ở góc phải trong khuôn viên chùa là ngôi "Bảo Tháp Liên Hoa" với 7 tầng được hoàn thành vào năm 1997 thờ xá lợi (linh cốt) của chư lịch đại Tổ sư được cung di từ các bảo tháp xưa an trí trong đất chùa, cũng như nằm xen lẫn giữa nhà dân nhập về an vị nơi trang nghiêm trường tồn, là ngôi bảo tháp đầu tiên và cao nhất nằm trong lòng thành phố Nha Trang. Tầng trệt của bảo tháp có thiết đặt hương án thờ thánh tượng của Quan Công, là pho tượng của các đời Tổ xưa truyền lại.
Tổ đình Sắc tứ Hội Phước hiện còn lưu giữ nhiều tượng Phật quý và chuông cổ từ thời Hậu Lê và Minh Mạng, cùng các pháp khí cổ như:
- Chuông báo chúng được chú tạo vào năm Nhâm Tuất, Gia Long nguyên niên (1802), cao 0,63m, đường kính ở miệng chuông là 0,25m.
- Chuông báo chúng không rõ niên đại, có khắc chữ nổi “Hội Phước Tự Thọ”, với chiều cao 0,62m, đường kính ở miệng là 0.6m. Trên chuông có 2 mặt trượng trưng cho ngày và đêm và điêu khắc nổi theo hình lưỡng nghi.
- Đại hồng chung được Tổ Đạo An - Phổ Nhuận chú tạo vào năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mạng thứ 3 và Tổ Như Huệ-Thiền Tâm tái tạo vào năm Nhâm Dần, niên hiệu Thành Thái thứ 14 (1902), với chiều cao 1,15m, đường kính ở miệng chuông là 0,5m.
- Văn bản đồng có kích thước 0.41m x 0.41m có khắc chữ Phạn-đàn, không ghi năm chú tạo nên chưa xác định được niên đại.
- Bảng hiệu chùa được sắc phong năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940), với kích thước 1,98m x 0,80m, giữa bảng ghi “Sắc tứ Hội Phước tự”, hàng chữ bên trái ghi “Lễ công bộ đại thần Tôn Thất Quảng nhật tạo”, hàng chữ bên phải ghi: “Bảo Đại thập ngũ niên, kiết nguyệt nhật tạo”.
Ngoài ra, chùa còn bảo tồn được một số “Chánh pháp Nhãn tạng” của chư Tổ sư lâu đời, như:
- Tổ Đạo An-Phổ Nhuận phó chúc cho Tổ Tánh Lý-Trí Minh kế thế trụ trì chùa Linh Sơn (tức chùa Tân Long) ở Diên Khánh.
- Tổ Hải Hội phó chúc cho Tổ Thanh Minh- Huệ Châu.
- Tổ Chơn Hương phó chúc cho Tổ Đồng Kỉnh- Hoằng Đạo.
- Tổ Phước Tường phó chúc cho Tổ Nhơn Hiền- Thị Thọ.
- Tổ Nhơn Hiền phó chúc cho Tổ Chúc Nghiêm-Tín Liên.
- Tổ Nhơn Hiền phó chúc cho Tổ Đồng Kỉnh-Tín Quả.
- Tổ Đồng Kỉnh- Tín Quả phó chúc cho Hoà thượng Quảng Thiện- Chúc Thọ.
… cùng một số Chánh pháp Nhãn tạng khác đều còn nguyên vẹn, rõ chữ rõ danh.
Qua bao đời của chư Tổ, pháp môn chủ đạo Thiền-Tịnh-Mật được truyền đạt và hành trì miên mật, vận dụng hiệu quả để đối trị với các căn bệnh về tâm linh mang tính huyền bí, mang lại sự an lành cho cuộc sống, làm cho biết bao người tín thành gần xa tìm đến được giải nghiệp cho thân hết tật bệnh, tâm được bình an, nên ngôi chùa như một đàn tràng giải nghiệp oan khiên.Với đạo hạnh và năng lực của mình, chư Tổ bao đời đã làm lợi lạc cho đời và tạo mối quan hệ thân thiết giữa đạo và đời, qua từng năm tháng, qua từng đời trụ trì, thiện nam tín nữ khắp nơi đã về Tổ đình Hội Phước để quý kính phụng sự Tam Bảo, xin thế phát xuất gia tu học, cũng như xin quy y thọ tam quy ngũ giới, trở thành những người cọn Phật thuần thành dưới sự hộ trì và hướng dẫn tu tập của chư Tổ chư Tăng.
Đặc biệt nhất, Chùa Cát trở thành cái nôi gìn giữ sự bình an cho hàng nghìn, hàng vạn trẻ em khó nuôi từ khắp nơi được các bậc phụ huynh mang đến chùa để thỉnh cầu chư Tăng hộ trì kinh chú, cho trẻ được nghe tiếng chuông chùa truyền âm vào tâm thức mà giải trừ bớt nghiệp chướng…
Năm 1995, Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là "Di tích Lịch sử Văn hóa".



















