Lục Ngôn
Không biết phải bắt đầu từ đâu để nói về chuyện tôi làm thơ thể câu có sáu âm tiết, gọi cho cổ cổ hay hay là... Lục Ngôn.
Tôi chỉ chợt nhớ ra rằng, vào khoảng năm 2005 đến 2007, lúc đang còn viết văn làm báo với bút hiệu Mãn Đường Hồng (chuyên viết phóng sự, truyện ngắn) và Vĩnh Bò Cạp (chuyên trách trào phúng, châm biếm các thể loại), thì một sáng đẹp trời huỡn huỡn có anh bạn văn chương đến rủ tôi đi đến quán uống cà phê tán dóc chuyện văn chương chữ nghĩa. Quán đó là quán Tuổi Ngọc, ở ngay góc cua Ngô Gia Tự-Lê Quý Đôn. Đến nơi, tôi mới biết là anh bạn tôi cũng đã có mời một người bạn gái đồng nghiệp, rất yêu văn chương, đến quán hội ngộ cho vui, giới thiệu cho nhau biết mặt biết tên, rồi nói chuyện ngữ văn, chuyện báo chí, chuyện thi ca đông tây kim cổ...
Nhớ phải nhớ cho đúng để kể phải kể cho thật, tôi vốn ít nói, từ nhỏ tới lớn chỉ giỏi nói bằng ngòi bút thôi, nhất là khi gặp bạn sơ giao, cho nên tôi chỉ ngồi dự thính, nghe hai bạn trò chuyện rôm rả, cười và gật đầu thôi chứ không góp lời. Được khoảng nửa buổi gặp gỡ, đang trong lúc bình luận về thơ, chị bạn đột ngột hỏi: "À, sao ít thấy ai làm thơ sáu chữ quá há?!". Anh bạn tôi ầm ừ. Chị bạn lại hỏi tiếp: "Anh có biết và nhớ bài thơ nào thể sáu chữ không?". Anh bạn tôi cười, quay sang nhìn tôi: "Tôi thì chịu, ông biết bài thơ sáu chữ nào không?". Tôi ngớ người ra. Ngớ, vì hồi giờ tôi đâu có làm thơ và thuộc thơ sáu chữ của ai để mà đọc lên trong lúc này? Tôi chỉ làm thơ trào phúng với thể lục bát, thất ngôn bát cú thôi. Còn thơ sáu chữ thì... bất chợt tôi chợt nhớ ra và đọc luôn một lèo:
Ngày về rộn rã bước chân
Nghe tin cha mất bàng hoàng
Lang thang trên phố phù vân
Xót xa lệ chảy hai hàng
Hiên ngang trọn một kiếp người
Tâm tư vẫn còn trong trắng
Cha đi để lại nụ cười
Con về nghe lòng xa vắng
Ngày về quê cũ thăm cha
Cỏ xanh phủ mộ cha rồi
Cha ơi! Cha ơi! Cha ơi!
Từ nay vắng bóng mặt trời.
Tôi đọc lên với giọng đầy xúc cảm, không vấp không khựng, vì đó là bài thơ "Vắng bóng mặt trời" của bào huynh Vĩnh Hảo làm để khóc Cha, sau khi anh từ trại giam được tạm tha cho về Sài Gòn để chữa bệnh lại đúng ngày phụ thân tôi qua đời ở quê nhà Nha Trang. Tôi thuộc lòng, vì bài thơ này tôi đã phổ nhạc và hát cho tác giả bài thơ nghe cùng quý thầy Tâm Hòa, Tâm Châu và Út Bình ngay vào đêm đón giao thừa Đinh Mão - Mậu Thìn (1988) ở chùa Linh Sơn Pháp Bảo. Chính tác giả thơ cũng bị bất ngờ, kinh ngạc và phải rơm rớm nước mắt...
Khi tôi đọc được bài thơ sáu chữ đó lên rồi, anh bạn của tôi nét mặt tươi vui hẳn lên, vui vì hài lòng, vui vì nếu tôi cũng không biết một bài thơ sáu chữ nào để đáp ứng yêu cầu của chị bạn thì hai "đấng đàn ông" sính văn chương thi cú "quê xệ" biết chừng nào! Không có bài thơ đó "cứu bồ kịp lúc" thì cuộc đàm luận văn chương chắc cũng sẽ... bớt vui, bớt hoàn hảo. Thiệt vây.
Khoảng gần mười năm sau, khi tôi đã rút lui khỏi làng văn làng báo Đời, chuyển sang phụng sự Phật pháp, tôi mới bắt đầu làm thơ trữ tình, thơ nghiêm túc, làm lai rai, rồi dần dần làm liên tục qua từng ngày tháng mang bút hiệu Tâm Không Vĩnh Hữu. Tôi đã ít khi viết truyện ngắn sau khi đã in được Tuyển tập Truyện ngắn Phật giáo "Động cửa thiền", thỉnh thoảng mới viết tùy bút, bút ký về chùa chiền, bản tin về lễ lạt... Thơ thì ngày nào tôi cũng làm, thơ như hơi thở, như miếng ăn giấc ngủ, như ly cà phê sữa đá hay điếu thuốc lá không thể không có.
Thoạt đầu, tôi chỉ làm thơ sáu tám (lục bát), vài ba bài bảy chữ tám câu Đường luật (thất ngôn bát cú) cho vui, rồi thử nghiệm chuyển qua năm chữ (ngũ ngôn) để mang hơi hướm của thiền kệ và lâu lâu ngẫu hứng "đổi món" sang sáu chữ (lục ngôn)... Qua thời gian mười năm góp bút với văn chương Phật giáo, một lần giật mình phì cười khi nhận ra mình đã trở thành nhà thơ chứ không còn là nhà văn nữa.
Bài lục ngôn đầu tiên của tôi có thể, có thể thôi vì chưa biết chắc, là bài "Đi qua cơn sốt", có khúc:
"Ôm tô cháo trắng thanh bạch
Đi vào lửa nóng giá băng
Hỏi thăm nơi nào tĩnh mịch
Lục ngôn nhịp chõi rơi vần..."
Sau, một chùm lục ngôn tứ cú tiễn năm cũ, có bài "Quán":
Mắt trông năm cùng tháng tận
Ngắm dòng sống hiểu thực hư
Không gian không ngừng tĩnh động
Sáu thời vẫn vậy phù hư.
Thơ lục ngôn tôi làm không nhiều, chỉ khoảng 20 bài từ đó đến nay, tôi vẫn đắc ý nhất là bài "Nẻo đường":
Nẻo đường sư đi thanh tịnh
Thiêng liêng toả bóng bồ đề
Quen rồi nắng chang mưa lạnh
Nhẹ tênh sớm tối đi, về...
Nẻo đường người đi khúc khuỷu
Mang mang phiền não gập ghềnh
Chuyện đời không cho chân nghỉ
Vui buồn thao thức dài đêm
Nẻo đường em đi trúc trắc
Chướng duyên lên dốc xuống đèo
Trắng đen thay màu hoại sắc
Pháp lành đẩy bước đi theo...
Nẻo đường tôi đi rất lạ
Hoa thơm, cỏ dại tương phùng
Ghét thương khóc cười chung chạ
Qua cầu từng bước khoan dung.
Bài "Nẻo đường" tôi tâm đắc càng thêm tâm đắc khi được Nữ sĩ Thanh Nhung-Tiến sĩ Văn chương vào Facebook của tôi đọc xem được và bình luận "Hay tuyet!" (không có dấu). Một số bài khác nữa vào dịp Phật đản, lên Đồi Trại Thủy, đón tân niên... nhưng bài dài rồi, không tiện nhắc ở đây.
Chỉ xin kết thúc bài viết ngắn này bằng bài thơ sáu âm tiết mới tinh toanh gần đây nhất, chính là bài "Bước qua sinh tử" kính dâng Giác linh nhị vị Thượng nhân Tuệ Sỹ và Phước An lấy cảm hứng từ một đoản khúc trong "Thiên lý độc hành" của Ôn Tuệ Sỹ:.
Bước qua phù trầm nghịch chướng
Đi từng hơi thở thong dong
Nghe trong tro tàn lửa ngún
Cỏ hồng quấn quýt gai chông
Động đêm im lìm huyễn hoặc
Đi theo nhạc suối kinh thuyền
Mãi nghe ngân rền pháp Phật
Thành nguồn bi mẫn vô biên
Tâm tư ngã nguyện nhất thiết
Không hư vọng tiếng luân hồi
Hun đúc bên dòng sống chết
Hút từng kim ngữ tinh khôi
Rừng thiêng ôm vào phố hội
Như lệ máu tẩm da xương
Mộng dài Tâm Kinh vang dội
Tồn tinh hoa ấm vô thường
Sinh duyên gieo mầm hoa cỏ
Rụng trên cao đỉnh mây ngàn
Cánh chim đại bàng vỗ gió
Hồng trần ngưỡng vọng kim cang.
20h00 ngày 07/6/2026
Tâm Không Vĩnh Hữu