Cha Mẹ - Cửa Ngõ Huyết Thống và Tâm Linh

Đã đọc: 2523           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Trong lý thuyết nhà Phật về Cận Tử Nghiệp, nếu khi người bệnh trong giây phút lâm chung, nhớ nghĩ đọc tụng danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” thì tinh thần sẽ được định tỉnh, thân thể bớt đau nhứt. “Nam mô A Di Đà Phật” có nghĩa là một lòng hướng về thế giới vô lượng quang (ánh sáng chiếu khắp), vô lượng thọ (sống lâu không có sự chết), vô lượng công đức (hiệu quả quý báu của công sức). Nói rõ ra: Con xin một lòng hướng về sống trọn vẹn trong thế giới đầy đủ ánh sáng để không mê mờ tội lỗi, thế giới sống hoài không có sự hũy diệt chết đi, thế giới là thành quả cao nhất của công lao bỏ ra: sự thanh tịnh và trang nghiêm.

NGÀY ĐẦU VÀ NGÀY THỨ HAI NHẬP VIỆN

Hôm qua được tin ba ốm nặng đã nhập viện từ chiều và đã chuyển về bệnh viện Trung Ương qua một đêm, sáng sớm nay tôi quyết định gát lại mọi thứ để bay vào Huế. Tranh thủ từng phút giây khi ngồi ở sân bay, lúc yên vị trên máy bay, cả lúc rỗi rãnh khi ở Huế nữa, và tôi cũng tự hứa với chính mình sẽ dành thì giờ và sức lực cho Ba Mạ nhiều hơn để hướng về cội nguồn.

Trước đây, tôi có dự định sẽ viết tập: Ngàn Hoa Dâng Cha Mẹ (THIÊN HOA PHỤNG PHỤ MÂU), 1000 câu thơ lục bát viết dâng Cha Mẹ, đến nay mãi vẫn chưa hoàn thành tâm nguyện được. Thời gian này tôi dành trọn vẹn cho chuyện này.

NGÀY THỨ BA

Khi gát lại được mọi chuyện và tức tốc về ngay với gia đình, thấy lòng nhẹ bỗng.

Tôi về nhà bảo mẹ mua hoa quả trang trí lại bàn thờ Tổ tiên và buổi lễ dâng hương được tiến hành nhanh gọn.

Năng lực của Ông Bà Tổ Tiên luôn có mặt trong ta, đây là cơ hội để chứng tỏ điều đó. Tôi bắt đầu khấn nguyện: Con kính lạy Tổ tiên họ Hồ nhiều đời, nhất là chư vị có đời sống khang kiện khỏe mạnh có tuổi thọ cao, xin chư vị phò hộ độ trì cho con cháu được sống an lành, khỏe mạnh như chư vị từng sống. Kính xin chư vị gia hộ nhiều hơn cho người đang lâm bệnh nặng: Tên … Tuổi… hiện ở tại… được hồi phục sức khỏe vượt qua tật bệnh hiểm nghèo sống đời tự tại. Kính xin chư vị Tổ tiên nhiều đời chứng giám!

Tôi đã khấn cầu như vậy và tôi tin chắc Tổ tiên sẽ nghe thấu tấm chân tình của tôi để ra tay cứu giúp. Bởi niềm tin đơn giản; “Con cháu ở đâu thì Ông Bà ở đó”. Trong tôi đang mang theo huyết thống và tâm thức của Tổ tông nhiều đời.

Sau đó tôi về bệnh viện thăm Ba.

Vào phòng bệnh nặng, chào hỏi và nhìn ánh mắt Ba mới biết là Ba chờ mình từ mấy hôm khi vừa hay tin mình sẽ về. Và có lẽ Ba đã chờ lâu lắm rồi những đứa con một thời ba gần gủi chăm nom bồng bế giờ xa cách tứ phương biền biệt.

Nét mừng vui thể hiện rõ trên khóe mắt chực lăn nhào những giọt lệ đỏ hoe. Tôi bình tĩnh, chậm rãi đến bên Ba và nở nụ cười bảo: sao Ba lại được về nằm dưỡng bệnh nơi thoáng mát thế này. Tôi đánh trống lãng như thế. Và bắt đầu trao cho ba những món quà được gởi từ miền Bắc, miền Nam của rất nhiều người để Ba có cảm giác mọi người luôn hướng về Ba.

Rất nhiều trường hợp xảy ra cho các gia đình mà tôi từng tiếp xúc, quan hệ, dù bố mẹ có sinh nhiều con hay chí ít thôi thì cuối cùng hai ông bà phải tự chăm sóc nhau hoặc thui thủi một mình khi tuổi già cận kề. Đây là vấn đề xã hội, càng hiện đại thì sự xa cách giữa cha mẹ và con cái càng lớn, các trại dưỡng lão bắt đầu ra đời để giải quyết vấn đề nan giải này. Gia đình tôi cũng không nằm ngoại lệ.

Tôi đã có mặt tức thời bên Ba với sự bình an trong tâm và một tình yêu vô bờ đối với Ba.

 

Ba tôi đã có mắc bệnh tiểu đường từ lâu, cọng theo áp huyết cao. Căn bệnh này thường biến chứng làm suy yếu nhiều thứ: bệnh Phổi, đau khớp, suy Thận, suy Gan, hen suyển,… cọng theo tuổi già, sức yếu nên rất khó chống chọi với bệnh tật.

Khi một người đang ốm bệnh, tâm trạng đang cơn khổ bệnh nặng nề, điều mà họ nghĩ đến trước tiên là những người thân yêu nhất của họ. Nếu người thân ở xa tìm đến, sẽ làm cho người bệnh nhẹ lòng mà từ đó thuyên giảm bệnh mấy chục phần trăm. Đó là năng lực hấp thụ tự nhiên. Nếu năng lượng bình an của người thân càng lớn thì sự lan tỏa và ảnh hưởng càng tốt cho sức khỏe người bệnh. Ta phải tìm cách về ngay với người thân khi họ lâm bệnh nặng.

Tôi hỏi ba đau nhức nhiều nhất ở đâu và bắt đầu vận dụng phương pháp truyền năng lượng bình an cho Ba. Xê dịch cho thân thể Ba nằm thật thẳng, thoải mái, thở đều nhẹ và niệm thầm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, năng lượng từ bi và cứu khổ bệnh. Phương pháp này tôi học với các nhà sư Tây Tạng. Niệm thần chú và mở các luân xa (các huyệt đạo cơ yếu), sau đó tôi trì tụng kinh chú và bắt đầu truyền năng lượng. Mất khoảng 60 đến 90 phút thì xong. Trước đây tôi cũng từng giúp cho nhiều người thoát khỏi các căn bệnh thời đại: mất ngủ, tim mạch, dạ dày thậm chí bị tà nhập, quỷ ám, vợ chồng chia cách… nhưng phải áp dụng cả hai cách chữa về thân bệnh và về tâm bệnh. Có dịp tôi sẽ trình bày kỷ về phương pháp trị liệu này. Thường thì thân bệnh đều phát xuất do tâm không ổn định. Làm cho tâm an tịnh thì bệnh về thân chóng khỏi. Tất nhiên ta song hành điều trị Đông Y hoặc Tây Y.

Sau khi truyền năng lượng thông qua các huyệt đạo thì Ba tươi tỉnh hẳn, đêm hôm qua Ba ngủ yên lành một giấc dài, ba khoe như thế, nhưng tình trạng sức khỏe vẫn chưa ổn định. Tôi phải tiếp tục dùng phương pháp này trị bệnh cho Ba và kêu gọi toàn thể anh chị em trở về bên Ba để hỗ trợ dù ở xa hay ở gần.

 

 

NGÀY THỨ TƯ

Buổi sáng mọi chuyện tiến triển tốt, đến trưa tôi về thăm và truyền năng lượng tiếp tục cho Ba. Ba rất hớn hở chuyện trò mặt mày tươi tỉnh. Đứa em gái liên hệ với bác sĩ Trưởng khoa Tim Mạch và đề nghị xin chuyển đến Khu điều trị Dịch vụ để tiện việc theo dõi tình trạng bệnh nhân và có nơi điều trị bệnh tốt hơn. Bác sĩ hẹn sáng mai sẽ chuyển.

Buổi chiều 18g tôi về thăm thì Ba bị sốt nhẹ, tôi tiếp tục áp dụng phương pháp cũ, mất nhiều năng lượng hơn, kéo dài 120 phút Ba mới đi vào giấc ngủ. Ba có triệu chứng chuyển sang hen suyển, mệt mỏi và đau nhức nhiều hơn. Ba bảo: ngày mai con cái đủ mặt Ba mới nói chuyện hệ trọng. Tôi lái câu chuyện sang việc khởi công xây dựng Nhà Thờ Phái. Có vẻ Ba mệt và đau nhứt lắm nhưng cố gắng chịu đựng, vẫn mỉm cười và bắt chuyện nô đùa, hài hước. Thấy thương Ba quá khi phải cố gắng vượt qua cơn khổ bệnh.

Sau đó tâm trạng Ba không được tốt cho lắm, có hơi lú lẫn, bụng và mặt sưng húp, nước da xanh hơn. Tôi gia tâm gia lực nhiều hơn nên trở về nhà rất mệt.

Tôi nghĩ, sống chết chỉ là một vì nó nằm trong vòng tròn của vô thường sinh diệt. Ngày mai mọi người sẽ có mặt đủ đầy cho Ba, cũng có thể Ba sẽ không ở lại lâu với chúng tôi nhưng đó chỉ là ý niệm. Tôi biết cách để giữ Ba lại lâu hơn và mãi mãi: đó là ngày sống trong tôi thật nhẹ nhàng tĩnh lặng, tôi có sự an bình nên Ba sẽ có mặt với tôi, tôi sống và làm những việc mà Ba yêu thích, bằng lòng. Tôi sẽ đi với Ba chặng đường như vậy, và Ba con tôi có nhau không hề mảy may chia cắt. Đấy là một hành trình hạnh phúc và thú vị thật sự. Tôi sẽ nuôi dưỡng tình yêu với Ba như vậy!

 

 

NGÀY THỨ NĂM

Tôi viết những dòng này khi Ba đã có những hiện tượng của bệnh nhân mê sảng. Đêm qua Ba yếu hơn mọi đêm, đi tiêu chảy nhiều và không điều khiển các động tác như há miệng uống nước, nhận biết người thân. Đủ biết từ chiều hôm qua Ba rất đau đớn nhưng vẫn gắng nằm im mỉm cười và chuyện trò với con cháu.

Tôi thường nhắc Ba khi đau quá nên niệm danh hiệu Ngài Quán Thế Âm để bớt đau nhứt hoặc danh hiệu Đức A di đà để định tỉnh. Ba thường thực hành ngay.

Trong lý thuyết nhà Phật về Cận Tử Nghiệp, nếu khi người bệnh trong giây phút lâm chung, nhớ nghĩ đọc tụng danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”  thì tinh thần sẽ được định tỉnh, thân thể bớt đau nhứt. “Nam mô A Di Đà Phật” có nghĩa là một lòng hướng về thế giới vô lượng quang (ánh sáng chiếu khắp), vô lượng thọ (sống lâu không có sự chết), vô lượng công đức (hiệu quả quý báu của công sức). Nói rõ ra: Con xin một lòng hướng về sống trọn vẹn trong thế giới đầy đủ ánh sáng để không mê mờ tội lỗi, thế giới sống hoài không có sự hũy diệt chết đi, thế giới là thành quả cao nhất của công lao bỏ ra: sự thanh tịnh và trang nghiêm.

Người bệnh nếu làm được như vậy thì sau kh lâm chung được vãng sanh về thế giới Thây phương Cực lạc, được các Đức Phật hộ trì và giúp đỡ hết mình. Khi tâm người bệnh đặt trọn niềm tin như vậy họ sẽ mỉm cười được và sẵn sàng ra đi vào thế giới an lành đó.

Khi ta quan sát kỷ một chiếc lá dù nhỏ, ta cũng nhận chân ra được sự an lành ngự trị trong bản chất chiếc lá, màu xanh non tươi mát, rung rinh lay động giữa thế giới tĩnh lặng, điềm nhiên sinh sôi. Chiếc lá cũng có thể chứa đựng đủ tính chất đặc thù của cõi Cực Lạc. Chúng ta có thể xây dựng niềm tin vững chắc ngay trong sự sống đang dâng tỏa quanh ta. Thế giới Cực lạc của Đức Phật A Di Đà sẽ thấy gần hơn.

Tôi vừa điện thoại thử cho Ba nhưng Ba không cầm máy, tôi sẽ tìm cách liên lạc với Ba cách khác. Cách liên lạc như thế này: tôi điện thoại Bạch với Thầy tôi ở Sài Gòn là Ba con rất yếu, kính nhờ Thầy cầu nguyện và giúp đỡ hết lòng nếu có hậu sự xảy ra, Thầy tôi đã hứa giúp. Sáng nay, sau khi uống một trà tỉnh tại, tôi sẽ tụng kinh, trì chú cầu nguyện cho Ba bớt đau nhứt và định tỉnh tâm thức để hướng về thế giới an lành.

Và như vậy tôi sẽ liên lạc mật thiết được với Ba, tôi vẫn gặp được Ba trong xu hướng tâm linh, cha với con là một, đồng điệu hiểu biết, thương yêu. Môt thế giới an lành chân thật vượt ra khỏi ngôn ngữ dị thường và hình tượng bất thường trước đây. Một thế giới thường tại.

 

 

CHA MẸ LÀ SUỐI NGUỒN YÊU THƯƠNG HẠNH PHÚC

Tôi sinh ra ở phường Phú Cát, Gia Hội, Huế. Nghe mẹ kể lại là bà lên cơn đau bụng nhẹ, cứ tưởng là mắc đại tiện nên vào nhà vệ sinh, tôi lọt lòng mẹ và suýt rớt hầm cầu, may mắn là nhờ mẹ nhanh tay chụp được. Mẹ bảo: sinh con mẹ chẳng đau đớn gì.

Tôi là con thứ hai sau chị gái tôi, giờ thành trưởng nam của gia đình đông con: 12 đứa con, 11 lần sinh (một lần sinh đôi), mất 4 đứa hồi còn bé, giờ còn 8: bốn con trai và bốn con gái.

Sinh tôi một tháng sau, nhân lễ cúng đầy tháng (khẩm tháng) ba tôi hứa sẽ cho chị Cúc làm con nuôi, hứa rằng sau này tôi lớn lên cho ở hẳn với chị. Chị Cúc tức Hoàng Thị Kim Cúc nổi tiếng là Người Chị Cả của Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, ba tôi hồi đó làm thư ký cho chị. Chị nguyên là giáo chức trường Đồng Khánh Huế cũ (bây giờ là Trường Trung Học Trưng Trắc), chị dạy môn Nữ Công Gia Chánh, có viết thành sách hướng dẫn về đề tài này. Chị cũng nổi tiếng trên lĩnh vực văn học sử là có liên quan đến câu chuyện ly kỳ “Gái Quê” của Thi sĩ Hàn Mặc Tử mà người ta thường nhắc đến với cái tên: HOÀNG CÚC. Có dịp tôi tôi sẽ viết về chị, người mẹ nuôi thân thương rất mực của tôi với nhiều vấn đề kỳ thú.

Ba tôi là con trai út của một gia đình có tám người con, vào thời loạn ly chiến cuộc, giai đoạn lầm than của con dân Viêt Nam trước nhũng biến động của chiến tranh triền miên. Cuộc sống đưa đẩy thế nào đó không giải thích nổi, ba tôi trở thành người trụ cột để giữ gìn truyền thống dòng họ. Có lẽ là tính tình nhút nhát, thích an phận. Nghĩa là ông có xu hướng không tham cầu danh lợi, chỉ muốn ở mảnh đất chôn rau cắt rốn (thực ra chỉ sinh ra ở đó thôi, quê quán ở miền Hương Thủy), gìn giữ mồ mã, nhà thờ gia tộc sớm hương chiều khói, chấp nhận đói nghèo, khốn khó, không màng lợi danh, đua chen. Hằng ngày đọc tụng kinh Phật và đi chùa gieo trồng phúc đức cho con cháu mai hậu.

Tôi lớn lên với hoàn cảnh ảm đạm của thời cuộc buổi giao thời, cọng theo xu hướng tâm linh của bố, thành ra đối cực, thấy cuộc đời đảo lộn tùng phèo nhiều thứ, cảm giác bèo bọt, phiêu linh khó chấp nhận thực tại, không biết mình phải nên làm gì, sống chết ra sao nữa.

Nhưng phải công nhận một điều ba tôi rất lành. Con cái lớn lên ông không có hề có tư tưởng bảo thủ, các con nên sống như thế này, thế nọ. Hay theo một khuôn phép cố định mà người Huế thường hay mắc, đó là bệnh bảo thủ, gia trưởng cổ hủ. Đứa nào sinh ra cũng tự tay ông chăm nom nên cha con luôn gần gủi, thân thiện.

Tôi cho đó là phúc báu khi mình được sinh ra trong một gia đình như thế!

Căn cứ vào mớ sử liệu hom hem: thời gian, không gian và nhân tố để tìm vết tích nguồn cội, thêm thắt một vài chuyện kể lờ mờ, một vài giai thoại sơ sài, .. là công việc khó khăn để ta tái hiện lại một mạch sống liên tục của nhiều thế hệ Tổ tiên còn ảnh hưởng đến thế hệ bây giờ.

Nhưng có một điều tôi tìm được và khả dĩ căn cứ được là tìm ngay chính bản thân mình, những tính chất, phong cách, ý thích, xu hướng, … mà Tổ tiên nhiều đời truyền lại vẫn còn nguyên vẹn trong con người thế hệ hôm nay. Một ví dụ đơn giản là cô em gái út của tôi hay tỏ ra bướng bỉnh, thích sống ngông, phá bỉnh người khác, … thì trước đây trong gia tộc thế hệ trước cũng sinh ra một bà cô như vậy. Trong sinh hoạt thần linh ở đất Huế rất sợ các Bà Cô quá cố nhiều đời, nhất là các Bà Cô không chồng con về bắt nạt con cháu. Những so sánh và liên hệ này sẽ giúp ta thống đạt và thấu hiểu được cội nguồn của tư cách, tính chất của thế hệ hiện tại để sống hiểu biết và thương yêu nhau hơn.

LỊCH SỬ CÁC THẾ HỆ

ÔNG NỘI

Ông sinh khoảng 1880, tại xã Thủy Vân, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên (xưa là xứ Thuận Hóa) trong một gia đình bậc trung. Nơi đó là một làng quê trù phú chạy dọc từ đầu sông Như Ý, một nhánh sông đào phát xuất từ bờ Nam sông Hương. Cụ Cố sinh được 4 người con: 3 trai và 1 gái, Ông Nội tôi là anh cả. Làng đấy hầu như họ Hồ chiếm gần hết, đủ thấy sức mạnh của dòng họ khi bước đầu khai canh định cư.

   黃 德 整 慧 詩 題

西

庚 午 年 春 日 – 1990

NGUYÊN PHONG HỒ TẤN ĐÀO PHỤNG BÁI THI

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Nguyên sinh Hương Thủy, Xuân Hòa thôn

Phong độ thập dư ly cố hương

Hồ tộc bảo lưu tâm ái nghĩa

Tấn cao hào khí thể kiên cường

Đào hoa thời nạn du Tây xứ

Phụng ngộ giao duyên kết Quảng hương

Bái tạ tiền nhân truyền huyết thống

Thi ân tông tổ đạt an tường

Canh Ngọ niên, Xuân nhật - 1990

Dịch nghĩa:

NGUYÊN PHONG HỒ TẤN ĐÀO PHỤNG BÁI THI

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Sinh quán tại làng Xuân Hòa, huyện Hương Thủy (TT-Huế)

Nhờ ý chí phong độ nên mười hai tuổi đã xa quê hương (đi lập nghiệp)

Họ Hồ luôn giữ gìn tấm lòng hòa ái, trọng nghĩa

Nêu cao bầu nhiệt huyết và thể hiện chí kiên cường

Tư chất là người đào hoa, phong nhã gặp thời loạn phải lưu lạc sang Pháp

(Khi về) gặp gỡ giao tình kết duyên tại đất Quảng Nam (Hội An)

Bái tạ bậc tiền nhân đã một đời truyền trao huyết thống

Đền ơn tông tổ (bằng cách sống xứng đáng) đạt được an lạc cát tường

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

 

 

Dịch thơ:

NGUYÊN PHONG HỒ TẤN ĐÀO PHỤNG BÁI THI

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Nguyên sinh Hương Thủy, Xuân Hòa thôn

Phong độ, mười dư xa cố hương

Hồ tộc giữ gìn tâm ái nghĩa

Tấn cao nhiệt huyết sống kiên cường

Đào hoa thời loạn sang Pháp quốc

Phụng gặp kết duyên đất Quảng hương

Báo tạ tiền nhân truyền huyết thống

Thi ân nguyện sống đạt an tường

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

 

黃 德 整 慧 詩 題

庚 午 年 春 日 – 1990

TÂM MẪN LÊ THỊ DUNG PHỤNG LỄ CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm hậu quý nhân tại Đế cung

Hảo khai Thanh Hóa tống anh hùng

gia quan tộc cựu danh tướng

Thị ngộ lãng nhân thiên định duyên

Dung hợp thế thời qua khổ tận

Phụng cung phu tử đáo lâm chung

Lễ ân sinh dưỡng thâm như hải

Chúc tán từ tâm vĩnh đức phương

Canh Ngọ niên, Xuân nhật - 1990

Dịch nghĩa:

TÂM MẪN LÊ THỊ DUNG PHỤNG LỄ CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm phúc hậu là bậc quý nhân ở tại cung vua

Người đẹp ấy sinh ra từ Thanh Hóa theo hầu (cha) anh hùng (vào kinh đô Huế)

Lê gia vốn dòng dõi quan quyền quý tộc danh tướng nhiều đời

Trời định nhân duyên thành thân với bậc phong lưu lãng tử

Người vốn bao dung biết sống hợp thời thế nên vượt qua gian truân khổ nạn

Một dạ cung phụng chồng con cho đến phút lâm chung

Lễ này mang ơn bậc sinh thành dưỡng dục sâu như biển cả

Chúc tụng tán thán lòng yêu thương rộng lớn sẽ mãi tỏa hương đức hạnh

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

 

 

 

Dịch thơ:

TÂM HẢO LÊ THỊ DUNG PHỤNG LỄ CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm phúc quý nhân tự Đế cung

Hảo từ Thanh Hóa tiễn anh hùng

gia quý tộc nhiều danh tướng

Thị gặp phong lưu trời định duyên

Dung hợp thế thời qua khổ nạn

Phụng cung phu tử đến lâm chung

Lễ ơn sinh dưỡng sâu như biển

Chúc tán lòng từ mãi tỏa hương

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

黃 德 整 慧 詩 題

   

庚 午 年 春 日 – 1990

TÂM VINH HỒ TẤN ANH THÂN PHỤ CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm hòa chơn tính thụ tiên hiền

Vinh hỷ đoàn viên thị tưởng viên

Hồ tộc tích công thường phụng tự

Tấn gia dưỡng đức hằng tinh chuyên

Anh như nhàn nhã ngâm thi hứng

Thân kiện an hành phúng kệ kinh

Phụ thử thâm ân đương nguyện báo

Chúc từ thường nhật đắc như nhiên

Canh Ngọ niên, Xuân nhật - 1990

Dịch:

TÂM VINH HỒ TẤN ANH THÂN PHỤ CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm hòa Tổ đức lưu truyền

Vinh danh hoan hỷ đoàn viên nếp nhà

Hồ tộc thờ phụng ông cha

Tấn gia dưỡng đức dần dà tinh chuyên

Anh như thi hứng ngâm liền

Thân khang kinh kệ luôn nguyền hành thâm

Cha già nguyện báo thâm ân

Chúc cho ngày tháng an nhàn như nhiên

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

滿

黃 德 整 慧 詩 題

滿

庚 午 年 春 日 – 1990

TÂM MÃN NGUYỄN THỊ GÁI THÂN MẪU CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm từ bản thể hậu lưu nhân

Mãn ý tử tôn hướng Phật ân

Nguyễn thệ cựu niên cầu phúc quả

Thị an kim xứ bồi gia thân

Gái hoài hồng đức hành nhân thiện

Thân ngộ thắng duyên nguyện tinh cần

Mẫu tử thiểu thời vi viễn xứ

Chúc thi hiện thế nhất thanh vân

Canh Ngọ niên, Xuân nhật - 1990

Dịch:

TÂM MÃN NGUYỄN THỊ GÁI THÂN MẪU CHÚC

Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm từ bản chất chính chân

Mãn vui con cháu an lành Phật ban

Nguyễn gia phúc quả dặm ngàn

Thị an nhà cửa hưng khang nay mừng

Gái hoài niệm thiện thủy chung

Thân cần hạnh ngộ vô cùng thắng duyên

Mẹ ơi dù cách xa miền

Nhớ hình bóng mẹ diệu huyền mây xanh

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

                      黃 德 整 慧 詩 題

                      庚寅年季春 – 1990

HOÀNG THỊ KIM CÚC

                                 Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Hoàng Hoa chương thi tứ

Thị đắc đường anh thư

Kim hiện quang từ đức

Cúc hương hiển chơn như

                                 Canh Ngọ niên, Xuân nhật – 1990

Dịch:

HOÀNG THỊ KIM CÚC

                                 Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Hoàng Hoa thi tứ nhất chương

Thị như một đóa ngọc đường anh thư

Kim thời sáng láng đức từ

Cúc hương hiển hiện chơn như dâng đời

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

                        黃 德 整 慧 詩 題

滿

                        庚寅年季春 – 1990

TÂM CHÁNH THỂ HẠNH

                              Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm nhiên tự căn nguyên

Chánh trí đạt mãn viên

Thể tánh thường dung hợp

Hạnh khai phổ chơn huyền

                              Canh Ngọ niên, Xuân nhật – 1990

Dịch:

          TÂM CHÁNH THỂ HẠNH

                              Hoàng Đức Chỉnh Tuệ thi đề

Tâm nhiên có tự căn nguyên

Chánh trí thông đạt mãn viên nguyện lòng

Thể thường rỗng lặng bao dung

Hạnh luôn mở lối diễn xương đạo mầu

            Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập