Trang chủ Tài liệu Điểm sách Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam

Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam

Đã đọc: 11946           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Luận án Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris.

“Truyền bá Thiên Chúa giáo, điều nầy đem lợi ích gì cho việc chiếm đất thuộc địa” . không một ai chối cải điều đó, trừ những người có thiên kiến…. Đức ông Guebriant, vị Tổng quản trị bề trên của phái bộ truyền giáo ngoại quốc tại Paris đã viết như thế trong tờ “Thông Tin” số ngày 25-1-1931 (1).

Ba mươi bảy năm sau, năm 1968, giữa cuộc chiến Việt Nam , chúng ta đọc được đoạn trích dẩn sau đây trong một bức thư mà những người làm công tác giãng dạy Thiên Chúa Giáo người Pháp gửi cho đồng nghiệp Mỷ của họ : “ Chúng ta phải hiểu rằng, do các chính sách của các chính phủ họ, mà dưới mắt các dân tộc Á và Phi, các tín đồ Thiên Chúa Giáo bị đồng hóa với những tên đế quốc và thực dân, trước kia cũng như hiện giờ. Đó là một sự đơn giản hóa quá đáng và các Giáo hội đã nói lên rất nhiều để phục hồi lại sự thật. Nhưng ngay cả bây giờ, nhiều hình thức, những chướng ngại mới ngăn cảng mọi sự du nhập Phúc âm vào châu Á và châu Phi. Sự bỏ bom oanh tạc miền Bắc Việt Nam không phải là cuộc can thiệp duy nhất, mà là cuộc can thiệp trắng trợn nhất …(2)

Hai giai đoạn khác nhau, hai tiếng nói Thiên Chúa khác nhau. Trong khi vị Tổng quản trị bề trên tối cao nổi tiếng của các phái bộ truyền giáo ngoại quốc ở Paris hiện thân ý thức tốt đẹp của các nhà truyền giáo thời kỳ thuộc địa, đã ca ngợi sợi dây kết hợp việc truyền đạo Thiên Chúa với việc chiếm thuộc địa, thì các người làm công tác giảng dạy Thiên Chúa Giáo nước Pháp diển đạt ý thức xấu xa của các tín đồ Thiên chúa Giáo phương Tây trong thời kỳ sau, họ lại tìm cách chạy tội cho Giáo Hội mà quy lỗi lầm cho chánh sách nhà nước, là kẻ duy nhất chịu trách nhiệm việc dùng đạo Thiên Chúa trong công việc thực dân. Vậy đâu là sự thật ?

Tìm cách phục hồi sự thật lịch sử, không nhắm kết tội một ai, lại càng không phải

 là gieo rắc bất hòa giữa người Thiên Chúa Giáo và Phi Thiên chúa (3) . Trái lại nó giúp hiểu rõ vấn đề để không phạm lại những lỗi lầm củ, những lỗi lầm đã gây nên nhiều tranh chấp đẩm máu giữa người Giáo và người Lương  trong quá khứ và hiện giờ chúng còn ngăn cãn họ cùng nhau sống hòa bình dưới một mái nhà. Né tránh vấn đề, hay che đậy sự thật, như người ta đã thường làm ở Việt Nam, chỉ làm gia tăng mối bất thân thiện vẫn còn đè nặng từ hơn một thế kỷ nay trên những mối liên hệ giữa người Thiên chúa giáo và Phi Thiên chúa.

Vì vấn đề không đặc biệt riêng  cho Việt Nam mà là chung cho mọi xứ Á và Phi, trườc hết nên phân tích các khía cạnh của vấn đề trong khung cảnh chung của việc thực dân ở Châu Âu trước khi khảo cứu kinh nghiệm riêng của Việt Nam.

  I- Khi khảo cứu lịch sử thực dân của Âu Châu vào thế kỷ 19 chúng ta chú ý ngay đến sự đi đôi giữa hoạt động  truyền giáo và hoạt động quân sự của Châu Âu. Nhưng chử “Đi Đôi” vẫn còn phải bàn cải, vì như một nhà ngoại giao Pháp đã nhận xét một cách mĩa mai :” đó là  những đường song song, trái với mọi định luật hình học, thuờng gặp nhau”(4) . Nói cách khác, việc truyền bá Phúc âm trong khắp thế giới Á Phi dựa vào sự chinh phục xâm lăng của người Âu Châu. Vậy khía cạnh thứ nhất của vấn đề : chính do sự truyền giảng Phúc Âm mà Thiên Chúa Giáo giao hòa với chủ nghĩa thực dân.

Ở mọi nơi sự tiến triển của các phái bộ Giao Tô đều theo chân sự tiến triển chiếm đoạt  quân sự, thiết lập lỉnh địa chiếm quyền chính trị và tổ chức dân sự. Viêc thiết lập trong một xứ Phi hay Á một quyền cai trị hay một chính sách bảo hộ của người Âu, sự hiện diện của quân đội và các viên cai trị của người Âu, một trật tự do họ dựng nên, các điều kiện sống mới do họ tạo ra, các khả năng phát triển và hoạt động do việc kiểm soát của người Âu cống hiến, tất cả những điều đó- không kể đến chính sách ủng hộ tích cực cho đạo Thiên Chúa – đã đặc biệt hổ trợ và làm cho việc “truyền đức tin” của các nhà truyền giáo được dễ dàng.

Vì thế, nhờ sự xâm lăng của Pháp mà thiết lập được giáo quyền Thiên Chúa Giáo, sự thành lập giáo khu Algérie “theo quan điểm Thiên Chúa Giáo, đó là ngày đáng ghi nhớ, vì sau nhiều thế kỷ biến mất, vị Giám mục Gia Tô lại xuất hiện trên phần đất nầy xưa kia Thánh Augustin và Thánh Cyprier đã làm rạng danh “ (5).

Việc Trung Quốc mở cửa tiếp nhận ảnh hưởng Thiên Chúa Giáo cũng là do sức ép quân sự của các nước Au Châu, nhất là của pháp mà hai cuộc can thiệp liên tiếp đã đưa đến việc ký kết hiệp ước 1858, theo đó chính phủ Trung Quốc công nhận cho các nhà truyền giáo Âu châu toàn quyền giảng đạo Thiên Chúa trên đất nước họ. Cũng trong tinh thần đó, Giáo hoàng Pie X đã ủng hộ việc Ý xâm chiếm Tripoltaine “hy vọng trong cuộc chiến đấu chống kẻ phản bội mà tìm thấy cách dung hòa hoài bảo dân tộc với quyền lợi

 

truyền đạo Gia Tô” (6).

Nói tắt, căn cứ ngay vào sự thú nhận của các nhà truyền giáo, đạo Gia Tô chỉ xâm nhập hay duy trì trong các xứ được truyền đạo nhờ vào sự can thiệp của lưởi gươm. Paul Lesourd  viết : “Biết bao lần các nhà truyền giáo sẽ không làm được việc gì vững chắc nếu không có sự giúp đở thong minh của các nước thuộc địa dù rằng chỉ là để bảo vệ những kẻ mới theo đạo cống lại kẻ thù tà giáo như ở Châu Đại Dương “ (7).

Vì các lý do đó, Giáo hội Gia Tô chấp nhận thật dễ dàng nguyên lý thực dân (8).

Theo họ, việc thực dân là “một công trình giáo dục, kinh tế, xả hội và chính trị “là” thực hiện một nhiệm vụ truyền bá văn minh mà quyền thiêng liêng đã giao phó cho các quốc gia tự do có trách nhiệm (9). Theo lời Hồng y Verdier nó nằm “trong kế hoạch Chúa trời, như là một hành động từ thiện tập thể mà một lúc nhất định nào đó một quốc gia bậc cao có nghĩa vụ đối với các giống dân thiếu ân phước và đó cũng là nghĩa vụ liên kết của nền văn hóa cao của nó (10).

Tóm lại, nhà đạo đức Thiên chúa Giáo đã tìm cách biện minh cho quyền chiếm thuộc địa ngay cả trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân bị mọi người chỉ trích (11).

II – Khía cạnh thứ nhì của vấn đề : Nếu việc rao giãng Phúc Âm dựa vào sự thống trị của Châu Âu, thì dể cho được vững chải, nền thống trị của Châu âu tìm tìm chổ dựa lý thuyết  và thực hành nơi các nhà truyền giáo và nơi đạo Thiên Chúa.

1- Trên bình diện lý thuyết, đạo Thiên Chúa biện chứng hành động thực dân ,Về vấn đề nầy, nên phân biệt hai giai đoạn trong lịch sử thực dân của Châu Âu :Giai đoạn bành trướng thực dân thứ nhất ở các thế kỷ trước và giai đoạn thứ nhì ở thế kỷ 19.

Đặc điểm chủ yếu của giai đoạn bành trướng thực dân thứ nhất của Câu Âu là mặt tôn giáo của nó, nó kết hợp chặc chẽ tôn giáo với chính trị, thiệng liêng với kinh tế, dụ người vào đạo với chiếm thuộc địa.

Ngay từ thế kỷ 15, ngưòi ta đã thấy chính sách Giáo hoàng đưa ra cho tín đồ là nghĩa vụ xâm lăng để thu người vào đạo. Vì thế với điều kiện mang theo các thầy tư tế dể “mang thong điệp của đấng Ki Tô” người Bồ Đào Nha được  Giáo hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh năm 1449, cấp cho tất cả đất đai họ tìm ra được giữa  châu Phi, gồm cả Ấn độ nữa (12) . Henry Martin viết : “Sắc lệnh được phát xuất từ nguyên lý rằng đất thuộc về chúa Ki Tô, và người đại diện chúa ki Tô có quyền xử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hửu, những kẽ ngoại đạo không thể là kẻ chiếm hửu hợp lý bất cứ mảnh đất nào. Phần đất ban cấp nằm trong tay những kẻ ngoại đạo đã mặc nhiên khiến cho họ tuân phục trước hạnh phúc lớn hơn, trước việc họ đổi đạo dù tự ý hay bị cưởng bách theo luật Thiên Chúa (13) . Sau nầy bằng sắc lệnh 1493, Giáo hoàng Alexandre VI đã chia thế giới cho người Bồ Đào Nha cùng người Tây Ban Nha và buộc có nghĩa vụ truyền đạo chúa Ki Tô để biện minh cho mọi sự chiếm đóng . Sắc lệnh đặt rõ ràng bổn phận giảng đạo cho người bản xứ là điều kiện để chiếm hửu ( 14).

Tư tưởng bành trướng thuộc địa để đổi đạo đã được vua chúa thừa nhận và công bố. Về Canada, Francois I ra lệnh cho Jacques Cartier và Roberval năm 1540 và 1541 “ Giáo dục những kẽ mọi rợ biết yêu và sợ Chúa cùng quy luật của ngài”. Hiến chương mà nữ hoàng Alizabeth truyền cho công ty thuộc địa năm 1660 đã ra lệnh cho nó “Bổn phận cao hơn là bổn phận buôn bán: Bổn phận dụ đạo (15). Đạo Cơ Đốc đã thánh hóa các cuộc xâm lăng  cùng lòng tham dục điên cuồng của cải, vì thế khi tên bạo tàn Fernand Cortez đổ bộ lên bờ biển Mể Tây Cơ năm 1519, y lập nên hảng buôn và đặt tên là “Villa Rica de la Vera, Cruz” (15b).

Trên lý thuyết giai đoạn bành trướng thuộc địa thứ nhì đã phân cách nhà chính tyrị và nhà tôn giáo. Thật ra thì việc chiếm Alger năm 1830 dưới triều Charles, làm chúng ta  nhớ đến tính cách tôn giáo của cuộc bành trướng thuộc địa trước của Pháp. Việc chiếm  Canada Louisiane – Saint Domingue miền Đông Ấn và sau nầy xứ Sénégal. Nhưng tên vua cuối cùng trong ba vua rất mộ đạo đã bị lật nhào mấy tuần sau khi chnh phục. Việc bành trướng thuộc địa thế kỷ 19 chủ  yếu là phải do nhu cầu kinh tế, tìm thị trường cho kỷ nghệ trong nước, hoăc do nguyên nhân chánh trị : không để cho các cường quốc phương tây khác đi trước hay lấn lướt. Nhưng không vì thế mà việc đi tìm một lý thuyết để biện minh  và biện chính  cho hành động thuộc địa không cần thiết. Nhưng Châu Âu, theo Thiên Chúa Giáo, lý thuyết nầy chỉ có thể bắt nguồn từ đạo Thiên chúa, Quả vậy, người ta bảo rằng  khi đi xâm lăng các xứ xa xôi, các nước Au Châu đã mang lại ánh sáng của đạo Thiên Chúa, cho nền văn minh Thiên chúa đến các dân tộc còn sống trong bong tối của các tôn giáo man rợ.

G. Goyau kể rằng một ngày trước khi  mẹ Jahouvey đi Guyanne, Louis Philippe đã cùng đi xem lễ với bà , tác giả ghi chú rằng, bằng cử chỉ đó nhà vua dân giả ( Roi-Citoyen ) muốn chứng tỏ rằng “giữa nền văn minh nước Pháp và các dân tộc da đen, không có nhịp cầu nào khác hơn là chúa Ki Tô (16). Làm sao giải thích được các cuộc chiến tranh xâm lăng và biện minh cho những bạo tàn trong các chiến dịch quân sự ? Một quân nhân Changarnier đã trả lời “ngay giữa chiến tranh Algérie một nền văn minh tốt đẹp hơn được đem lại cho các xứ tốt đẹp, đó phải là sự biện minh của chúng ta trước mắt mọi người và tôi hy vọng rằng cũng sẽ trước mặt Chúa nữa” (17) . Sau nầy Napoléon III không nói gì khác hơn từ trong ngục Ham, Louis Napoléon đã viết “đem Châu Âu xích gần lại các bộ lạc dã man của Châu Đại Dương và châu Úc khiến cho họ cùng hưởng các công ơn của đạo Thiên Chúa và của văn minh. Để thực hiện tốt đẹp việc đó, chúng ta kêu gọi mọi người có đạo và thông minh, vì việc đó xứng đáng với lòng mến đạo và tình cảm họ”.

Chiếm thuộc địa và văn minh, hai danh từ đó trở thành không rời nhau, chiếm thuộc địa là thực hiện một công tác văn minh, và rõ ràng phải hiểu văn minh theo nghĩa đạo Thiên Chúa. Tên thực dân được trình bày dưới bộ mặt cao quý và dể thương : nó mang lại lợi ích, nó làm một công tác thiệng liêng và theo cách thức của nó, nó là một tông đồ (18).

Thuyết nầy đã được các nhà lý thuyết Gia Tô đào sâu vào thế kỷ 20. Trong “ những báo cáo về tuần lễ xã hội ở Marséille” linh mục Delos xác nhận và chủ trương rằng chế độ thực dân ủng hộ đạo Thiên Chúa, Ông ta viết “ Không nghi ngờ gì, văn minh hoá không phải là phúc âm hóa. Phúc âm siêu việt lên trên văn minh, nhưng không có nền văn minh đích thực nào mà bỏ qua được nó. Tong xứ thuộc địa, một nền văn minh cao chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí của nó, dự vào giáo huấn của nó, và được giữ gìn nhờ ân sủng trong mình nó. Văn minh hóa không phải là Phúc âm hóa, nhưng không thể văn minh hóa mà không Phúc Âm hóa” (19). Các nước thuộc địa đã đảm đương công việc Phúc âm hóa đó như thế nào ? “ Bằng cách thay đổi trực tiếp lần lần luật lệ và phong tục mà nó đưa luật thiêng liêng vào chỉ bằng cách gián tiếp chứ không áp đặt đạo Thiên Chúa, mà bằng cách ưu đải sự truyền bá Phúc âm, sự truyền bá tôn giáo chân thật” (20). Do đó, theo quan điểm của giáo lý Gia Tô, giáo hội truyền giáo trở thành yếu tố chánh của chế độ thực dân “ Nếu  chế độ thuộc địa không ưu đải bằng cách nào đó sự bành trướng nền văn minh Thiên Chúa, nó chỉ còn là chuyện tiền bạc hãm hại, hay một mưu đồ chính trị hẹp hòi: tóm lại, nó không còn chính đáng nữa” (21).

2-  Trên bình diện thực tế, theo giáo lý Gia tô và số đông quan chức thực dân, đạo Thiên Chúa đã đem dân bản xứ lại gần Châu Âu : vì thế nó là dây liên lạcgiữa xã hội bản xứ và xã hội Châu âu. Điểm nầy đã được giám mục Guébriant làm nổi bật trong một bài “ Kẻ truyền thống” số 25-1-1931, Giám mục viết: “Khi một người bản xứ thuộc bất cứ giống dân nào, dù vàng, nâu hay đen, mà theo đạo Gia tô, thì dù trước kia bất cứ ảo tưởng, thành kiến, sợ hải của họ là gì đi nữa, chúng ta có thể chắc chắn rằng trong đầu óc họ không còn gì làm thành một chướng ngại không thể vượt qua được và ngăn cản không cho họ xích lại gần hợp tác với, và hòa đồng với các tín đồ Thiên chúa thuộc nòi giống khác, nhất là với người da trắng và họ đang trên đường hiểu kỷ những người nầy nếu không có cái gì xuất hiện khiến họ choáng váng và bở ngở . Việc xích lại gần các tư tưởng nầy kết quả của việc Gia tô hóa, và gia tô hóa là kết quả của việc truyền đạo . Do đó công việc của các nước thực dân hết sức dễ dàng trong tất cả những gì là chính đáng. Cả trong khi nhóm tân tòng còn rất ít về số lượng, công việc cũng dễ dàng, vì số lượng ít oi của nó không phải là một chướng ngại không vượt qua được trong công tác gạch nối…. Sự hiện diện của một gian hàng  và Phái bộ truyền giáo Gia tô trong kỳ triển lãm thuộc địa sắp đến là một bằng chứng hùng hồn, nó muốn nói, theo cách thế của nó, rằng hoạt động truyền giáo được thừa

nhận là có ich lợi công cộng …” (22).

Linh mục Leroy Beaulieu. một trong những nhà lý thuyết hạng trên của chế độ thực dân cũng diển tả các tư tưởng tương tự trong tập khải luận của mình “ Bàn về chế độ thực dân ở các dân tộc hiện đại” tác phẩm được xem như là tác phẩm cổ điển về vấn đề thuộc địa, ông viết “ Nếu nước Pháp đã phạm lỗi lầm khi tuyên chiến với Hồi giáo, thì nó cũng sẽ không kém cận thị nếu không tìm cách làm cho mọi người vô đạo trong các vùng đất chiếm hữu của mình theo đạo Thiên chúa, xứ Sénégal chúng ta, xứ Niger, xứ Congo chúng ta, xứ Oubanghi và toàn thể vùng Madagascar dasng chờ đón các phái bộ truyền giáo, Hồng y Lavigerie có nhiều dự định to lớn, nếu ngài muốn đạt các kết quả quan trọng v àlâu dài, ngài phải hướng phần lớn các nhà truyền giáo của Ngài vào các đất đai mà nước Pháp vốn có từ lâu hay mới được giao cho trong vùng Tây Phi và Trung Phi. Đừng bỏ mất một năm nào, ở đó có hơn 10 triệu người cần được chinh phục theo đạo Thiên Chúa trước khi quá trể vì Hồi Giáo xâm nhập” (23). Rồi tác giả tiếp tục “ Việc khai sáng tinh thần và vật chất  các công tác từ thiện, việc nổ lực giáo dục các dân tộc đó, hay đúng hơn, các bộ lạc đó, không thể chỉ do các nhà buôn, các viên chức cai trị hay các thầy giáo của chúng ta : làm như thế là điên rồ. Với đức êm dịu, cao quý và lòng thương kẻ hèn mọn, đạo Thiên Chúa là nhà giáo dục duy nhất có thể làm dễ dàng sự tiếp xúc một đàng là người Ậu, một đàng là người dã man, mọi rợ, và bằng những phương pháp cấp tốc, nó có thể, không phải ngay tức khắc, mà trong một ít thế hệ, làm cho người dã man, mọi rợ hiểu được nền văn minh chúng ta và đóng góp vào sự phát triển của nó “ (24).

Về các lời tuyên bố tương tự, chúng ta có thể kể ra vô số một cách dễ dàng .

3- Sau rốt, và vẫn trên bình diện thực tế, đạo Thiên Chúa là một phương tiện rất công hiệu để đồng hóa các dân tộc thuộc địa. Đồng hóa là chính sách cổ truyền của Pháp, một chính sách từ lâu rất được nhiều người Pháp và nói chung, nhiều dân tộc La tinh, ưa thích (25) . Toàn quyền Đông dương  Pasquier đã tuyên bố trong buổi diển thuyết tại Viện cao đẳng Xã hội Paris : “ Nếu quả thật người Pháp tiếp xúc thoải mái với  người bản xứ, tìm hiểu họ muốn làm cho họ dễ chịu nữa, cũng phải thấy rằng khả năng đó phát xuất từ sức mạnh đồng hóa bẩm sinh hay đầy lý luận của mình và đem hướng nó về người bản xứ, không phải là dễ làm cho họ bất ngờ hay để biết ý nghỉ của họ, mà để áp đặc ý nghỉ của mình lên họ” (26).

Tư tưởng đồng hoá đã ngự trị lịch sử nước Pháp, đới sống chính trị và hoạt động thực dân của Pháp, người Pháp có nó là do tính khí cùng giáo dục xây dựng từ nhiều thế kỷ trên tư tưởng cổ điển và các nguyên lý Luật Roma . Trong các tập khảo luận Montaigne đã nhấn mạnh rằng mỗi người “mang hình thức tron vẹn của thân phận con người” rằng người văn minh hay dã man chỉ khác nhau có “chiếc quần”, vì thế chỉ cần một thay đổi về cách sống và tập quán là đủ tái lập sự thống nhất, Michelet cũng diển đạt tư tưởng tương tự, nhưng đào sâu hơn, Ông viết : “ Lòng muốn chinh phục là cái cớ cho các cuộc chiến tranh của chúng ta, và cả chúng ta cũng bị đánh lừa trong đó, nhưng lòng nhiệt thành cù rũ người khác là động cơ mạnh hơn . Người Pháp muốn nhất là in cá tính mình lên kẻ thua trận, nhưng không phải đúng như cá tình mình mà là như mẫu người hiện thân của cái tốt và cái đẹp, đó là lòng tin tưởng chất phác cùa họ. Họ tin rằng họ không thể đem lại ích lợi gì cho thế giới hơn la ban phát  tư tưởng tập quán và cho lề lối của họ, với lưởi kiếm trong tay, hoọ cải biến các dân tộc khác, và sau cuộc chiến, với lòng nửa kiêu căng,nửa thiện  cảm, họ trình bày với các dân tộc những gì các dân tộc nầy sẽ thu được nếu trở thành người Pháp (27). Dưới triều Louis XIV Colbert dã ra chỉ thị cho một viên quản đốc về chánh sách phải theo ở hải ngoại như sau : “Cần phải giáo dục  thổ dân các ch6m ngôn của tôn giáo chúng ta và cả phong tục chúng ta nữa, làm thế nào có thể hợp toàn dân Canada cùng với người Pháp thành một dân tộc mà thôi” (28).

Để biện minh cho chính sách đồng hóa, những người chủ trương thường nêu lên tính độc nhất của loài người, và cho rằng ban cấp cho mọi phần tử của nó ánh sáng đạo Thiên Chúa và ích lợi các nền văn minh bậc cao là điều chính đáng (29).Vì thế, đồng hóa là chủ trương thống trị xây dưng trên tính cách cao của văn minh, do đó sự thống trị có nền tảng khinh bỉ. Suốt thời kỳ thống trị của Châu Âu, nhứt là ở thế kỷ 19, tính cách hơn hẳn nòi giống là một tín điều của văn hóa phương Tây mà các nhà truyền giáo chấp nhận như bao giáo điều khác. Chính sự hoang đường về tính cách hơn hẳn của người Âu và của tín đồ Thiên chúa dã phát động nên lòng quá nhiệt thành và lòng say sưa không mệt mõi, chúng biểu thị đặc tính của sự bành trướng chưa hề có trong lịch sử châu Âu và trong lịch sử truyền giáo. Người Châu Âu không chịu đựng được việc một phần dân chúng đông đảo như thế trên thế giới lại có thể sống mà không có biết giáo lý chúa Ki Tô. Về phần họ, nhà truyền giáo không chịu chỉ dạy thuần có chân lý đạo Thiên Chúa, họ cùng gieo truyền giá trị vô song của văn hóa Âu Châu. Cả hai cho rằng “dạy dổ” các dân tộc “hạ đẳng” nâng cao phẩm giá họ lên, đổi đạo họ, đem họ lại gần nước thực dân bằng cách phá hoại cách sống và cả cách chết của họ nữa (30). Giám mục Bruns de Soluges nhận xét : “Làm như thế họ chỉ theo khuynh hướng tự nhiên của nhà giáo dục rộng lượng, tin tưởng vào sự tuyệt diệucủa các phương pháp đảã đào tạonên họ, và muốn đem áp dụng cho học trò mình dể biến những người này không còn là mình nữa (31).

Nhân danh cảm hứng cao quý trên mà trong đó một nhà lý thuyết Gia tô thấy “một tiếng vang của Phúc âm” (32), nguời ta đem áp dụng cho dân chúng ở các vùng  thuộc Âu, nguyên vẹn hệ thống đã thành công ở phương tây: hệ thống Giáo dục, hệ thống chính trị và hành chính, hệ thống xã hội, hệ thống kinh tế, hệ thống pháp lý, hệ thống đạo đức và

 triết học, hệ thống tôn giáo. Tôn giáo đã chiếm một dịa vị hơn hẳn trong chính sách đồng hóa, vì như một Toàn Quyền Đông Dương đã nhận xét:  “ Tôn giáo của một dân tộc là một trong các sức mạnh bành trướng của nó” (33). Các nhà truyền giáo đã khẳng định : “ chúng ta không đào tạo một người tín đồ Gia tô ở các xứ phương Đôngm ở Châu Phi hay ở tân thế giới nếu như chúng ta đã không đồng thời biến họ thành một người bạn của nước Pháp, một người Pháp” (34). Một tác giả Gia tô khác đi xa hơn và tự hỏi : “ Truyền bá Phúc âm há không phải là một thứ thực dân tinh thần sao ? (35).

Hệ luận (logigue) của chính sách đồng hóa bắt buộc phải tiêu diệt các nền văn minh và cá tính của các xứ thuộc địa. Để thực hiện công tác phá hoại nầy các nhà truyền giáo dã tạo nên các tay thuyết giáo hàng đầu, vì tính hẹp hòi cố chấp của họ không chịu nổi sự có mặt trong các xứ truyền giáo hình thức đạo lý nào không phải của họ : đế quốc tinh thần đã nối gót rất sớm dế quốc vật chất và hòa tan với nó.

Ở Á Châu, các nhà truyến giáo tấn công đạo Khổng và sự thờ cúng Ông Bà, sau đây là một bằng chứng của Ông Georges Curgon “ ngoại trừ một số rất ít ngưòi có tinh thần tự do, các nhà truyền giáo đã có một thái độ thù nghịch cực kỳ đối với mọi tôn giáo và mọi nền đạo đức bản xứ: họ không biết gì đến các khía cạnh tốt cùng ảnh hưởng đạo đức của các giáo thuyết đó cũng như thế lực mạnh mẽ ghê gớm của chúng đối với người Trung Quốc cùng uy thế mà chúng có được do sự cổ kính của chúng. Đây là trường hợp đặc biệt  là  sự thờ cúng ông bà, mà họ không chịa dung hòa…người Trung Quốc hoàn toàn thỏa mãn với tôn giáo của mình và chỉ yêu cầu họ một điều là người ta để yên họ, họ thấy phá phách, tấn công bởi một tôn giáo mà việc đầu tiên là công kích những gì họ tha thiết nhất…đối với họ, luận lý Đức Khổng Tử tóm gọn tất cả nghĩa vụ của con người đối với gia đình, đối với quốc gia…người ta đòi hỏi họ phải thay đổi đạo dù phải từ bỏ tư cách công dân, người ta đòi hỏi họ điều kiện đầu tiên để tái lập tinh thần là phủ nhận cái đã làm trụ chống cho toàn thể cái đạo lý của họ….”

Rồi tác giả đã tự đặc câu hỏi : “ nếu có những nhà đi truyền một đạo mới thuộc một giống người chúng ta ghét và khinh bỉ, đổ bộ lên nước Anh, và bắt đầu truyền đạo bằng cách tấn công kinh thánh và bài xích đạo giáo của các sứ đồ, chúng ta sẽ đón tiếp họ như thế nào ? “ (36)

Ở Bắc Phi và cận Đông, đạo Gia tô chống lại Á Rập và Hồi Giáo. Nhưng trong những vùng nầy các viên chức cai trị và các nhà truyền giáo va vào một kẻ thù ghê gớm: Sự cố chấp, hẹp hòi của đạo Hồi mà chỉ có đạo Thiên Chúa mới bằng được.

Ở Châu Phi da đen, các nhà truyền giáo tìm cách cấm đoán các cuộc giải trí và nhảy múa, tất cả cái nầy biến mất thuờng khi cũng mang theo luôn niềm vui sống và những nét độc đáo của đời sống châu Phi (37).

III –Vì việc truyền giảng Phúc Âm chỉ hiệu nghiệm trong các xứ Á và Phi nhờ vào sự xâm lăng và chế độ thực dân Âu Châu, đồng thời các nước thực dân tìm thấy trong đạo Thiên chúa khí giới chánh trị mạnh nhất, dỉ nhiên có một phối hợp chăt chẽ giữa hoạt động chánh trị và hoạt động truyền giáo : Đó là khía cạnh thứ ba của vấn đề.

Đâu là những lý do khiến chánh phủ Louis Philippe gánh vác việc bảo vệ các phái bộ truyền giáo Gia tô ở Trung Quốc  ? Những lý do chủ yếu là chính trị. Không thể  cạnh tranh nổi với nước Anh trên địa hạt buôn bán, nước Pháp hy vọng tìm ra trong việc bảo vệ các nhà truyền giáo một lợi khí thế lực có thể quân bình  được, về mặt chính trị, tầm quan trọng mà chính phủ Anh có được nhờ thương mại : “Nếu xét đến trào lưu trao đổi giữa Châu Âu và Trung hoa, chúng ta thấy về mật buôn bán nước Pháp thua sút hoàn toàn đối với nước Anh, nhưng uy danh của nước ta trong những vùng đó nếu không hơn thì cũng không bằng của nước Anh . Dựa vào yếu tố tôn giáo nước Pháp chiếm dược lại cái gì nó không có trên địa hạt thương mại” (38).

Tư tưởng phát khởi chánh sách của Napoleon III trong các vấn đề Trung Hoa về căn bản cũng là tu tưởng của Louis Philippe : dùng sự bảo vệ tôn giáo làm một đối lực với ảnh hưởng mà Trung quốc có được nhờ buôn bán. Cái cớ gửi quân viển chinh năm 1857 về phía nước Anh là một sự xâm phạm giả tạo đến quốc kỳ. về nước Pháp, là sự giết chết tại tỉnh Quảng Tây một nhà truyền giáo, linh mục Chapde-Laine, là người đã cư trú hoàn toàn bất hợp pháp tại nội địa Trung Quốc (39).

Các nhà truyền giáo Gia tô đặc biệt nhấn mạnh về sự trái ngược giữa chế độ thực dân Anh và chế độ thực dân Pháp. Họ nói, chế độ thực dân Anh nhằm mục đích buôn bán đê tiện trái lại chế độ thực dân Pháp theo đuổi một lý tưởng đạo đức và thiêng liêng thượng đẳng (40).. nhưng nếu quả thật nước Anh trước hết đã nghỉ đến lợi ích buôn bán, thì cũng không kém đúng sự thật là các nhà truyền giáo, nó đã được huởng sự hổ trợ đắc lực của các pháo hạm mà họ chưa từng bị từ chối lần nào. Biến cố ở Tân Lương năm 1883 là điển hình : trong khi chỉ quyền lợi tài chánh của các nhà truyền giáo là dính dấp đến , hai pháo hạm đã ngược sông Dương Tử và giải quyết vấn đề mà không bàn cải gì cả và “đã cho thấy như Panikka đã viết, các sức mạnh người ta lôi cuốn mỗi khi tấn công là vào các nhà truyền giáo” (41). Cũng chính tác giã đó còn kể lại cho chúng ta, để thiết lập một phái bộ truyền giáo trong vùng thung lủng phía trên sông Dương tử , 1858  Muiehead đã dẩn theo cả một tiểu đoàn lính Anh và chính nằm trong hành lý quân đội đồng minh mà nhà truyền giáo Mỷ Henri Bodget đã đến Thiên tân, những việc như thế kể ra không bao giờ hết (42) . Ở Ấn Độ nói chung, các viên chức người Anh giữ một thái độ trung lập, và vốn rất thực tế, chánh phủ Anh không ủng hộ những cuộc tuyên truyền quá thô bạo và quá tàn ác có thể đụng chạm đến tình cảm người Ấn giáo và làm lung lay sự trung thành của các phần

tử sốt sắng với quyền lợi Anh ; nhưng, một cách gián tiếp, chánh phủ Anh đã giúp nhiều cho các nhà truyền giáo “ luật pháp họ đặt ra đã che chở công khai các người đổi đạo, những người nầy vẫn giữ quyền thừa kế gia đình, họ có quyền buộc vợ của ho phải theo đạo của họ, Chính phủ cũng khuyến khích các nhà truyền giáo hoạt động trong các bộ lạc lạc hậu,vì tin rằng người Ấn giáo không vì thế mà bất bình (43).

Về phần người Mỹ, việc kết hợp chính trị với tôn giáo là một nét đặc biệt của chính sách họ ở Trung Quốc. Vì thế việc họ lựa chon nhân viên ngoại giao và lảnh sự trong số các nhà truyền giáo hay cưụ truyền giáo là chuyện thông thường , Ashmore vừa là nhà truyền giáo vừa là lảnh sự Mỹ ở Tô châu , viên đại sứ Mỹ cuối cùng ở Trung Quốc không Cộng Sản, Bác sỉ Leighton Stuart đã sống như nhà truyền giáo ở xứ đó (44).

Chúng ta hãy rời Châu Á sang châu Phi và hãy nóinhững điều gần đây nhất. Ví dụ một lời tuyên bố của Giám mục Augouart trong “ Tự do ở Tây Nam” số 28-9-1921 : “ Diều nguy hiểm nhất ở Congo là việc rất nhiều mục su vung vải  Mỹ kim và Anh kim, có phải họ chỉ theo đuổi  mục đích tôn giáo thôi không ? Tôi không nghỉ như vậy, và đó cũng là ý kiến của quan Toàn quyền, Ông Augagneur, vì trong một báo cáo mới đây gửi cho Bộ trưởng , ông nói rằng cái tuyên truyền gọi là tôn gíáo này hình như là một tổ chức thực dân thực sự có mục đích xâm lăng vào thuộc địa chúng ta ở vùng Trung Phi, các việc tương tự cũng xảy ra ở Côte d’Ivoire và ở Cameroun, là nơi mà các nhà truyền giáo Đức nhập quốc tịch Thụy sỉđã trở lại như trước 1914. Tôi không biết dùng cách gì để đập nát tình trạng đó, nhưng cần phải hành động gấp….(45) .

Đồng ý với Giám mục, Ông Revel, Thanh tra thuộc địa đã viết báo cáo chính thức như sau : “ Khắp nơi đều có những người bất mãn tại đây ( Côte d’Ivoire ) họ sắp xếp ( 10-1921 ) thành như một người duy nhất dưới ngọn cờ giáo phái của Mục sư, và không biết tai sao có tin đồn lan tràn mau chóng khắp nước tiên đoán rằng không bao lâu nữa các người chủ hiện giờ ở Côte d’Ivoire sẽ nhường chổ cho xứ láng giềng. Do đó mà có sự sôi nởi ngầm cùng dấu hiệu bất tuân nhà cầm quyền, và xứ nầy chia thành hai phe : Thiên Chúa và Tin Lành, nhưng đối với dân bản xứ, hiện giờ Tin Lành  có nghĩa là Anh hay Mỹ, và thiên Chúa là Pháp….” Rồi tác giả kết luận : “ Không phải lúc nào cũng cần nói công khai chống lại trật tự hiện giờ để thực hiện công tác bai Pháp : việc dùng các tiếng nước ngoài , sự truyền bá một tôn giáo tin Lành giả mạo mà người bản xứ cho rằng theo đạo đó cũng là một thứ nhập tịch Anh hay Mỹ, chừng đó cũng đủ rồi….Công giáo hay Tin Lành , đó là Côte d’Ivoire ngày mai. Chúng ta có thể nói thêm rằng Pháp hay Anh, vấn đề ờ đây sẽ gấp đôi vì vấn đề chính trị dù đó không phải  là việc làm do chúng ta “ (46).

Vì tôn giáo bành trướng và bảo đảm ảnh hưởng chính trị, các nước Thiên chúa giáo vừa tìm cách cho có được các nhà truyền giáo quốc tịch mình trên xứ họ cai trị, vừa

 tìm cách cho có được quyền bảo vệ các nhà truyền giáo Thiên chúa ở quốc gia  còn độc lập. Đến nổi các nhà ch`ính trị chống La mã nhất, chống giáo hội nhất xứ nhì,thì ở ngoại quốc lại đóng vai trò của các người bảo vệ các phái bộ ( Gia Tô) và đòi tòa thánh phải có các lợi lộc, các đặc quyền tương xứng với vai trò đó (47). Trong số các nước Âu Châu, nước Pháp “đứa con gái đầu lòng của giáo hội” tỏ ra nhiệt thành nhất cho chính nghĩa Thiên chúa giáo, các phái bộ Gia tô trong xứ đặ dưới quyền cai trị của Pháp đều thịnh vượng…trừ các biến cố rất lẻ loi, các công trình của họ đều được che chở theo doĩ với đầy cảm tình, và được giúp đở về mặt vật chất. Georger Hardy đã nhận xét : “ Người ta có cảm tưởng một mặt trận chung của văn minh chống lại thế giới lạc hậu, và mỗi bước tiến bộ của nó đều chứa đựng một cuộc xâm lăng đích thực của Thiên chúa.” (48)

Ngay cả dưới các chành phủ chống giáohội thuộc Đệ tam Cộng hòa , vẫn có một đằng là gìáo quyền tăng lữ và đằng khác các nhân viên chánh trị Cộng hòa, dù họ rất chống Giáo hội, sự đồng nhất hay giống nhau về mục đích có các cuộc tiếp xúc, các cuộc điều đình, và thỏa hiệp. Gabetta dã tuyên bố : “ chống Giáo hội không phải là món hàng xuất khẩu” , Các liên hệ giữa chính phủ Pháp và Bộ Tuyên truyền Tòa thánh vẫn tiếp tục bình thưòng trong suốt cuộc khủng hoảng đầu tiên chống Giáo hội từ 1988-1889 đằng khác Tòa Đại sứ Pháp vẫn luôn luôn hiện diện bên cạnh Tòa Thánh  trong suốt giai đoạn đó. Giáo hoàng Léon XIII và viên Bộ trưởng ngoại giao, Hồng y Rampolia, vẫn giữ thiện cảm đối với Pháp. Người chống Giáo hội là J.Ferry không bao giờ khinh thị việc giúp đở của các nhà tôn giáo, y ủng hộ hoạt động của Giám mục Lavigerie ở Tunisie cũng như trong vùng thực dân nội địa Algérie và Tunisie, ông Georger Goyau đã viết : “ các liên hệ giữa Lavigerie với lãnh sự Roustan, với bộ trưởng Wađington, với Gambetta, với Ferry, đã mở đường ảnh hưởng cho chúng ta, quân đội chúng ta tiến về Tunisie. Chánh phủ Paris đã xem các dòng trắng là những người yêu nước nhất , vô vị lợi nhất : chính sách chống Giáo hội mà nước Pháp đề xướng ở trong nước trùng hợp với sự hợp tác thống thiết giữa giám mục và nước Pháp ở nước ngoài. Trong tháng tiếp sau việc chúng ta thành lập nền bảo hộ ở Tunisie tháng 6-1881 Lavigerie vị đại diện tong đồ (Administratem du vicarict apostolique)của Tunisie và đằng khác, chính do các chỉ dẩn của Lavigerie mà tai đó Gambetta đã chỉnh bị các quyết định hành chánh đầu tiên của Pháp (49).

Ví dụ phối hợp “tích cực” dó giữa hoạt động chính trị và hoạt động tăng lữ, sự phối hợp ấy ở cấp bậc cao nhất ở hai phía – không phải là ví dụ lẽ loim Chúng ta có thể kể ra nhiều ví dụ khác trong làng song thứ nhì chống Giáo hội từ 1901 đến 1907. Nếu đi từ cấp bậc Chính phủ xuống đến cấp bậc thừ hành, lúc nào chúng ta cũng thấy ý niệm về tầm quan trọng quốc gia của vai trò các nhà truyền đạo (50). Một nhà truyền giáo đã sống phần lớn đời mình ở Trung Quốc và Đông dương , Linh Mục Louvet tôn xưng các đại diện của

 Pháp tại Trung Quốc như sau : “ Thật vậy, tôi phải nhận trọn vẹn lòng nhiệt thành của các Lãnh sự và Đại Sứ chúng ta . Hầu như lúc nào họ cũng giúp đở nồng nhiệt và ngat thực, cả  những người không có được hạnh phúc là Tín đồ Thiên chúa, và dù hình như việc làm trước kia của họ đã không chuẩn bị, họ bảo vệ tại Trung Quốc tôn giáo mà họ từng đàn áp ở Châu Âu. Gần như lúc nào hận thù phe phái cũng im tiếng trước danh dự quốc gia và những người đã trục xuất các tu sĩ giòng trên ra khoỉ nước Pháp, thì lại tuyên bố là những bè bạn và là những người che chở họ ở Bắc Kinh…” (50).

Từ ngày khởi đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho đến hết chiến tranh lần thứ nhì, các cuộc tranh chấp tôn giáo dịu lại ở Pháp, những liên hệ giữa chính phủ một chính quốc và nhà thờ một đàng, và giữa quyền dân sự và quyền tăng lữ ở các xứ thuộc địa một đàng, mỗi ngày được cải tiến tốt đẹp. Một nhà ngoại giao Pháp đã làm đại sứ ở Rôma viết : “Ta cần độ nữa phút nói chuyện với Bộ tưởng thuộc địa (lúc đó là G. Mandel ) để xin năng lực tư pháp dân sự cho các phái bộ Gia tô ở các phần đất thuộc quyền Bộ ông ta “ (51).

IV – Khi dựa vào chủ nghĩa đế quốc và thực dân để giúp đở nó, đạo Chúa Ki tô sẽ không gây cho mình nguy hiểm bị người Á và Phi xem là tay sai của nó sao ? . Mặc khác, một chính sách công khai ủng hộ đạo Thiên chúa, sẽ không liều lĩnh mà chạm vào tình cảm quốc gia các dân tộc thuộc địa và khiến cho họ liên tục đứng dậy chống lại nước thực dân sao ?. Nói cách khác, bất kể thế nào, há không có mâu thuẩn nào giữa chánh sách truyền bá Phúc âm và chính sách thuộc địa, giữa quyền lợi tôn giáo và quyền lợi thực dân sao ?.

Đó là khía cạnh  thứ tư của vấn đề chúng ta .

1/ Về nguy hiểm mà đạo Thiên chúa có thể gặp phải khi đồng minh với Đế quốc và thực dân, chính các nhà truyền giáo, nhất là những người từng sống ở Á Đông hiể từ lâu rồi, Thầy Léon Joly đã gào lên : “Thật là một điều dị kỳ, đau đớn, không chối cải được, Đông Á không thích đạo Thiên Chúa” (52) Linh Mục Louvet, nhà viết sử về các phái bộ truyền giáo nước ngoài cũng thấy như thế. Ông viết : “Không thể tự dối mình được điều nầy :Trung Quốc đã kiên cường chống lại Thiên Chúa giáo. Các nhà Nho, nhà trí thức tự hào lại thù nghịch lớn hơn bao giờ hết : hằng năm các khẩu hiệu hô hào dân chúng tận diệt bọn quỷ nước ngoài, và chắc có lẽ sắp đến ngày Giáo hội tốt đẹp ở Trung Quốc mà Giáo hội Gia Tô đã tốn bao công phu xây dựng sẽ hoàn toàn chìm đắm trong máu của các nhà truyền giáo và của con cái mình”.

Do đâu mà có sự ngoan cường  chống đối đạo Thiên Chúa đến thế ? Chính linh mục Louvet cũng thừa nhận đó không phải do sự cuồn tín tôn giáo, vì không có dân tộc nào bao dung vấn đề tôn giáo hơn dân tộc Trung Hoa . Chỉ vì người Trung Hoa nhìn thấy đã

 đồng hoá sự xâm lược của Thiên chúa với sự xâm lược của Âu Châu. Nhà viết sử về các phái bộ nói rõ “ chỉ vì đằng sau các sứ đồ của chúa Kitô (chính phủ Trung quốc ) thấy châu Âu tư tưởng nó, văn minh nó kéo đến, đó là những điều họ tuyệt nhiên không muốn, và bất chấp cả phải trái, họ lấy làm thỏa mãn về văn minh của tổ tiên họ” (53).Thầy Joly cũng có ý nghỉ như thế : “ người trung quốc chống đối đạo Thiên Chúa vì họ thấy những nhà truyền giáo nước ngoài là tay sai của ngoại bang chuẩn bị cho xâm lăng …đối với họ, con chiên và người Âu châu chỉ là một” (54). Và thầy tu nầy quy lổi cho những người Âu đã đề cao công tác của các nhà truyền đạo giúp vào việc xâm lăng của người Âu” họ không nghỉ sự tán dương hớ hinh này đã xác nhận những lời buộc tội mà các nhà nho, các nhà trí thức ở Đông Á  đã buộc họ (các người truyền đạo) và biện minh, nhân danh lòng yêu nước Châu á , cho các cuộc tàn sát mà họ ( những người truyền đạo) là nạn nhân cùng với con chiên của họ . Các lời thú nhận đó đã gây tiếng vang ở Đông Dương và Trung quốc . Chúng sẽ khai thác và góp phần vào sự đoàn kết những người da vàng chống lại người Âu, và hậu quả là sự tiêu diệt các phái bộ truyền giáo cũng như sự tiêu diệt địa vị thống trị của Châu Âu (55). Nhà tu sáng suốt đã cay đắng nhận xét , nhưng các nhà truyền giáo đã không thấy nguy hiểm đó, họ không phản đối các lời tán dương, họ thích thú ghi chep lại, họ nói rõ các công tác của họ, họ dùng đến sức mạnh của lưởi kiếm, Nói tắt một tiếng, họ tiếp tục làm cho họ bị nguời phương Đông oán ghét . “ cho đến ngày nay ở Đông Á , Giáo hội Gia Tô là mục tiêu thù ghét  mà nó đang chịu . Những người nạn nhân đã mang đi lòng kính nể và thương hại là lòng khâm phục của những kẻ tàn sát họ… Từ nay phương Đông sẽ biết được cái giá phải trả khi đụng đến các nhà truyền giáo, nhưng khi phải trả họ lại có quyền khinh bỉ …đạo Thiên Chúa mà đi phụng sự cho một tổ quốc trần gian, dù tổ quốc nó lờn đến đâu, vai trò lịch sử của nó trên thế giớiđẹp dến đâu, thì vẫn là một đạo Thiên Chúa hạ giá, không còn nhất thiết cần yếu nữa cũng như tính cách chính đáng của sự đô hộ của Pháp ở An Nam  không còn cần thiết nữa” (56).

Muốn cứu vãn tôn giáo, chỉ mỗi một cách : là phải gở nó ra khỏi toàn cảnh đế quốc và thực dân. Đó là bài học mà các nhà truyền giáo sáng suốt rút ra được từ kinh nghiệm Á Đông . Linh Mục Louvet viết : “ Vấn đề mang tính chất chính trị nhiều hơn tôn giáo, hay nói cho đúng, nó gần như hoàn toàn là chính trị. Ngày mà nước Trung Hoa thong minh  sẽ tin đươc rằng họ có thể vừa là người Trung Hoa vừa là con chiên, nhất là ngày mà họ sẽ thấy trên chop bu của giáo hội tại Trung Quốc một cấp tăng lữ bản xứ thì đạo Thiên Chúa sẽ được hoan nghênh trong đế quốc to lớn bốn trăm triệu người nầy, và sự đổ đạo của nó sẽ đưa đến sự đổi đạo của Á Đông , Vì thế mọi cố gắng của các nhà truyền giáo là cố tách rời minh bạch chính nghĩa của nó với chính trị . Về phần tôi về điểm nầy, tôi chỉ có thể hối tiếc về việc can thiệp của các chính phủ Châu Âu. Tự nó không có gì chính đáng

 hơn  và cũng không có gì nguy hiểm hơn và tốt hơn để kích thích lòng tự hào quốc gia và  thích văn minh Châu Âu, cái mà họ chống đối trong đạo Thiên Chúa chính là sự xâm chiếm của Châu Âu . Vậy hãy tách rời minh bạch vấn đề tôn giáo ra khỏi vấn đề chính trị “ (57).

Đó cũng là giáo huấn của Benoit XIV, của Pie Xi và Pie Xii , bằng tiếng nói của các giáo hoàng đó, La mã nhắc nhở công việc truyền giáo không nằm trong các giới hạn biên giới của chính trị . Benoit XV có nói trong thông điệp ngày 30-11-1919 như sau : “ Hãy tin rằng tiếng gọi của Thầy nhầm đến mỗi người các con : Hãy quên nước con và nhà của cha con (PsXLTV,II) hãy nhớ rằng các con có một nước cần mở rộng, nước đó không phải là nước con người mà là nuớc Chúa Trời. Thật là đáng thương khi những nhá truyền giáo phủ nhận phẩm giá mình đến nổi trong những nổi bận tâm của họ. họ đặt Tổ quốc của họ ở trần gian trước tổ quốc của Chúa Trời và tấm lòng nhiệt thành bày tỏ không che đậy đối với việc phát triển sức mạnh của nước họ, cùng sự rực rỡ và sự mở rộng của vinh dự của nó lên trên hết. Các ý đồ đó là bệnh dịch ghê tởm cho việc truyền giáo” . và Benoit XV đã ủng hộ nguyên lý đó bằng cái nhìn hợp thời khi thêm “ Dù (các dân tộc được truyền đạo) có dã man, thô lổ đến đâu , họ cũng hiểu ra dễ dàng các động cơ của nhà truyền giáo, mục đích là ổng theo đuổi khi sống với họ nếu ổng nhằm một mục đích nào khác hơn là hạnh phúc . Linh hồn họ thì họ không thiếu bản năng, tinh tế phát hiện ra ngay, giả thử nhà truyền giáo có phần để cho mục đích con người hướng dẩn, và thay vì về mỗi mặt như một sứ đồ chân chính, ổng lại cũng tỏ ra lo lắng phụng sự cho tổ quốc mình, lập tức, mọi vận động của ông sẽ bị mất uy tín dưới mắt dân tộc vì đó mà họ dễ dàng tin rằng đạo Thiên Chúa chỉ là đạo của một ngoại bang và hình như theo đạo Thiên Chúa là chấp nhận sự giám hộ và sự thống trị của ngoại bang và chối bỏ Tổ quốc mình “ (58).

Tầm quan trọng lý thuyết  của các tư tưởng đó mạnh đến nổi Pie XI  nghỉ rằng phải nhắc lại ngày 19-6-1926 trong thông điệp : “ Không phải những lảnh tụ của xã hội mà chính Thượng Đế đã kêu gọi các nhà truyền giáo đến chức vụ thần thánh …Họ không phải là sứ truyền lệnh của con người mà là sứ truyền lệnh của Thượng Đế : họ cũng tiếp xúx với sứ đồ , Giáo hội chưa bao giờ phản bội các mệnh lệnh và lời dạy thiêng liệng đó , và hết sức cẩn thận, nó đã nắm trong tay lợi ích của các dân tộc mà nó mang lại ân sủng của chân lý Thiên Chúa . Nó cũng có lúc bảo vệ quyền của họ chống lại bạo tàn hay độc đoán của Vua chúa hay nhà cầm quyền, Về những thừa sai của nó, đặc biệt là những người nó cử vào các phái bộ thần thánh truyền giáo, nó thuờng xuyên nhắc họ bổn phận đừng thiên vị quyền lợi tổ quốc mình, quolibet suae oujusque nationis stadium arcenisa est, mà cố gắng độc nhất là làm sáng tỏ danh chúa và sự cứu rổi linh hồn trong khi đi tìm, không phải là lợi ích riêng tư của họ, mà là lợi ích của chúa esus Christ và trong khi mang danh chúa Jesus đến trước quốc gia và các vua chúa “ (59).

Benoit và Pie XI đã hiểu đúng vấn đề  : “Họ đả hiểu, như Latourette nói, đạo Thiên Chúa do phương Tây áp đặc và che chở, không tránh nổ số phận của chủ và đồng minh nó một khi đế quốc bị tấn công và hủy diệt “ (60).

Nhưng than ôi, chỉ cần liếc mắt nhìn qua lịch sử truyền giáo là chúng ta thấy ngay , rất thường một hố sâu ngăn cách giữa lý thuyết và thực tế. Rất thường các phái bộ truyền giáo hiện ra như một thành phần cấu kết với đế quốc và thực dân “ như hai hiện tượng liên hiệp và hổ tương” (61) . La mã đã tấn công vô ích khi rao truyền chủ trương  vượt quốc gia của giáo hội  Gia tô, các giám mục và các nhà truyền giáo đã không theo nó trong lời nói cũng như trong hành động. Ngày 3-12-1904, giữa ngày lễ thánh Francois Xavier, vị Thánh Bổn mạng mục vụ Tông đồ, Giám mục Henry ở Grenoble đã hét lớn lên : “ Thật là dễ hiểu, khi nuớc Pháp đi truyền đạo, thì lợi ích không chỉ riêng cho Giáo hôi. Đằng khác, nó  còn phải vì có lợi cho nước chúng ta, lòng ái quốc chúng ta đã vui sướng và hoan hỷ, nếu so với việc rủ người vào đạo cũng không kém gì. Có một bộ sử nào viết về lịch sử thành lập thuộc địa của chúng ta, một bộ sử viết về lịch sử không thiên lệch, lại không làm nổi bật hoạt động đáng khen của các nhà truyền giáo chúng ta để làm dễ dàng việc chinh phục cũng như khiến cho các dân tộc bị trị kính nể ?  Chúng ta không mang ơn gì sao đối với các cho dòng Thánh linh …đối với các giáo sĩ  giòng tên, đối với các vị truyền giáo, đối các cha thuộc phái bộ truyền giáo ngoại quốc ở Đông Dương  ? “ (62).

Linh mục Piolet, một nhà truyền giáo, lại đi xa hơn, ông xác nhận các nhà truyền giáo làm công việc của các người Pháp đi gieo rắc văn minh hơn là công việc của sứ đồ . Ông nói, “ Vai trò của nhà truyền giáo là vai trò của kẻ rao giảng Phúc Âm . Đó là điều mà những ai không bị đầu óc bè phái làm mù quáng đều hiểu. Công trình của họ mang màu sắc nước Pháp, theo nghĩa cao cả nhất của tù, và vì thế, như một hội viên hàn lâm, không phải là giáo sĩ , mới đây có viết bỏ họ đi có nghĩa là nước Pháp tự bỏ mình “ (63).

Một linh mục của Hội Truyền giáo nước ngoài, Linh mục Sajo đã reo lên : “ A ! nếu người Anh có trong tay sức mạnh tinh thần của nuớc Pháp, hiện thân của trung đoàn truyền giáo…nếu họ có sẳn đạo quân ggồm những người đã đặt, tất nhiêb, Thượng đế lên trên hết, nhưng kế đó là tổ quốc Vả lại tuyệt đối điều đó không quan trọng gì, vì đối với người phuơng Đông , vấn đề dân tộc, tôi lập lại, đồng nhất với vấn đề tôn giáo” (64)

Chúng ta sẽ không bao giờ chấm dứt nếu cứ trưng dẩn ra các lời tuyên bố thuộc loại đó. Thế là các nhà truyền giáo đã thừa nhận những gì người ta nghỉ và người ta nói rằng họ đặt ngang hàng thượng dế mà họ rao giảng cùng với tổ quốc mà họ phụng sự. Họ vui thích thừa nhận sự hạ thấp vai trò của nhà truyền giáo, sự đồng hóa sứ đồ với các con buôn, với tên Đế quốc hay tên thưc dân (65).

Làm sao cắt nghĩa mâu thuẩn quá lạ lùng đó giữa lý thuyết và thực tế ?

Lý do thật đơn giản, các nhà truyền giáo phải chiến đấu trên hai mặt trận. Trên mặt trận tại chính quốc, họ phải làm tất cả những gì làm được để đở những đòn mà các phái chống giáo hội và phái Tam ĐIểm giáng vào họ. Trên mặt trân ở các xứ thuộc địa, họ phải đương đầu đối với sự chống đối của các dân tộc “bản xứ” và các trở ngại mà phong tục , luật pháp, văn hóa, văn minh các dân tộc họ giảng đạodựng lên trên đường truyền giáo của họ. Muốn thắng lợi trên mặt trận thứ nhất, họ buộc phải chứng tỏ rằng họ là những tay thợ tốt nhất củaxquyền lợi tổ quốc họ. Muốn thắng lợi trên mặt trân thứ hai, họ không thể không dựa vào chủ nghĩa thực dân và cấu kết với nó>

Chính trong tinh thần đó mà giám mục phụ tá  ở Paris là Emmanuel Chaptal đã biểu lộ lòng tôn kính thống chế Lyautey, ông nói : “ (Thống chế) bằng một thiên tài tổ chức, lúc nào cũng biết dùng mọi sức mạnh tinh thần mà ông gặp, dù đó là sức mạnh tôn giáo, để phục vụ quyền lợi nước Pháp. Vì thế từ lâu ông đã biết giá trị sự đóng góp tinh thần của hoạt động truyền giáo. Có lẽ ông tin rằng sẽ phạm một bất công không tha thứ được và một lỗi lầm chống lại tổ quốc nếu ông bỏ qua cơ hội thừa nhận vai trò của họ ( các nhà truyền giáo ) trong việc xây dựng và phát triển các thuộc địa chúng ta … là một hậu quả tât nhiên, hoạt động truyền giáo ( của các nhà truyền giáo ) đã đem cho tổ quốc họ những lợi ích quý giá nhất về tinh thần cũng như về vật chất” (66).

 Cũng trong tinh thần đó, các nhà lý thuyết Gia Tô tìm cách biện hộ cho chế độ thực dân và ca ngợi “sứ mệnh gieo rắc văn minh” của nó xích lý tưởng thực dân lại gần lý tưởng truyền đạo (67) .

Vì thế các nhà truyền đạo đứng trước tình thế lưỡng nan : Họ biết nếu họ về bè với đế quốc và thực dân châu Âu là họ tự buộc tội trước mắt các dân tộc thuộc địa, nhưng nếu tách rời khỏi chúng họ sẽ xác nhận lời buộc tội của phái Tam điểm, mất đi sự ủng hộ của chính quốc và các chính phủ thực dân . Giải pháp duy nhất để thoát khỏi sự lưỡng nan đó là tạo lập một lớp tăng lữ bản xứ, đây là vấn đề chết sông của giáo hội truyền giáo, đó là điều đặc biệt mà hai giáo hoàng Benoit XV và Pi-ô XI khuyên bảo trong các thông điệp Maximumillud và Rérum Ecclesiae. Chừng nào mà lớp tăng lữ đó chưa thành lập, thì giáo hội truyền giáo, dù bất đắc dĩ, vẫn phải liên kết với chủ nghĩa thực dân . (68)

Theo quan điểm thực dân, lúc nào nhà truyền giáo cũng là những kẻ phụ tá vào việc xâm nhập tư tưởng phương Tây,”Những lính canh quả cảm quyết giương cao ngọn cờ “ (69). Nhưng, hoặc do ảnh hưởng của các luồng chống giáo hội ở chính quốc, hoặc do phương pháp thô bạo mà các nhà truyền giáo dùng để đổi đạo, đôi khi người ta thấy rằng việc truyền đạo của họ cản trở mục đích mà chính quyền thực dân mong muốn. Chúng ta đã thấy, các nhà truyền giáo cho rằng người phương Đông chống bán đạo Thiên Chúa  vì họ thấy Châu Âu mà họ ghét đằng sau đạo Thiên Chúa . Người Châu Âu lại có thể có lý khi

 xác nhận điều trái lại : Nếu phương Đông chống đối Châu Âu là vì họ thấy các nhà truyền giáo mà họ ghét đằng sau châu Âu. Do đó người phương Tây gặp sự oq1n ghét và căm thù mà các nhà truyền giáo đã gieo giống .

“Hãy gói và mang đi thuốc phiện và các nhà truyền giáo, các ông sẽ được dang tay đón tiếp niềm nở “ (70), ông Hòang Kung đã nói  với viên lảnh sự Anh như thế .

Đám đong dân chúng tại một thị trấn nhỏ Trung Hoa  đã hét lên khi đánh đuổi một nhà truyền giáo : “ Tụi bây đã đốt lâu đài, đã giết vua chúng tao, đã bán thuốc phiện cho con cái chúng tao và bây giờ tụi bây dạy chúng tao đạo đức “ (71).

Luôn luôn hoạt động của các nhà truyền giáo là nhằm vào việc tách rời những kẻ đổi đạo ra khỏi luật pháp chung, nhằm biến các cộng đồng Thiên Chúa thành các “Đế quốc trong một đế quốc” ( Impéria in império) , tạo các vùng riêng biệt rải khắp nơi và chỉ biết có uy quyền của Linh mục. Tạo nên con người riêng biệt mà sự hiện diện của chúng chống lại luật pháp, phong tục thói quen của đồng bào mình , đó là nhiệm vụ của các phái bộ truyền giáo . trên đó là lời thú nhận của chính những nhà truyền giáo (72).

“Trong những tình cảnh như thế, làm sao có thể thừa nhận rằng các nhà truyền giáo đã phụng sự hửu ích quyền lợi nước Pháp? “ viên Toàn quyền Đông Dương De Lanessan đã giận giữ hỏi như thế. Nhưng viên cao cấp đó lại tiếp : “ họ là đối tượng cần được bảo vệ triền miên của chánh phủ, do đó mà họ có quyền thế, nhưng lại khiến cho dân tộc Á Đông căm ghét chúng ta “ Vì thế, đôi khi chúng ta thấy trong các liên hệ giữa nhà truyền giáo và chánh phủ thực dân có nổi bất ổn nào đó, có những va chạm, những cãi vả nhỏ bé, không hề có tính cách nghiêm trọng và thường xuyên, nhưng không vì thế mà không gây nên các lo âu nghiêm trọng  cho viên chức thuộc địa.

V- Cùng với các lý do chính trị và chiến thuật khác, tình trạng này chắc dã góp phần tạo nên một lý thuyết thực dân khác thay thế cho thuyết đồng hóa cổ cựu : thuyết hợp tác. Chúng ta đến khía cạnh thứ năm và là khía cạnh chót của vấn đề.

Thật vậy, từ cuối thế chiến thứ nhất, về mặt lý thuyết chính sách hợp tác đã công kích tơi bời chính sách đồng hóa và được xem là có khả năng hơn để lôi cuốn các nhà trí thức “bản xứ” và đánh gục tinh thần dân tộc của họ (74).Vì thế người ta tìm cách phục hồi lại ở các xứ thuộc địa những tập quán xưa, những phong tục của tổ tiên, những tín ngưỡng cũ, văn chương, nghệ thuật, cổ truyền v.v bằng những lời nói bay bướm, những bài diển văn đẹp đẽ, người ta ca tụng sự hợp tác văn minh phương Tây và các văn minh “bản xứ ” mà  trước kia người ta đã tìm cách tiêu diệt bằng công sức của các nhà truyền giáo.

Trong thực tế, tất cả điều đó đều nhằm một mục đích thật rõ ràng  : làm cho các nhà trí thức “bản xứ “quay lưng lại trước các phong trào dân tộc được khơi nguồn hoặc do ý thức hệ dân chủ phương Tây, hoặc do kinh nghiệm của Nhật và Trung Quốc, hoặc do cách mạng tháng mười, chận đứng sự tiến hóa của các dân tộc thuộc địa bằng cách duy trì họ lại trong khung cảnh phong kiến cổ truyền.

Song song, chúng ta thấy ở các nhà truyền giáo một mức thay đổi nào đó về thái độ đối với các thể chế trong những xứ thuộc đía. Người ta không còn dùng từ ngữ tiêu diệt, người ta tìm cách Thiên Chúa hóa các thể chế đó. Vì vấn đề của Giáo Hội truyền giáo chỉ giải quyết xong khi không phải chỉ con người mà các thể chế cũng phải Thiên Chúa hóa(75). Về điểm này, chúng ta hiểu được tầm quan trọng của các cố gắng mà các Linh mục như Tempel nhà truyền giáo Dòng Francois ở Congo thuộc Bỉ, họ cố gắng  nghiên cứu trong nhiều năm các phong tục, tâm lý, luân lý, các biện luận của người de đen Phi Châu và nhờ đó mà làm cho các dân tộc này hiểu được Chúa Ki Tô (76).Như Giám mục Dellepaine, Khâm sai tòa thánh ở Congo thuộc Bỉ nói : “ Cần phải làm cho dân bản xứ trong giáo hội cảm thấy rằng nó là giáo hội của họ” (77).

Nhưng cố gắng thâm nhập vào tinh thần của mỗi một dân tộc được truyền đạo chỉ có thể thực hiện từ từ và do chính người bản xứ. Vì mặc dù các cố gắng và năng khiếu đầy đủ của các nhà truyền giáo, họ cũng sẽ không bao giờ thực hiện được hoàn toàn sự hợp nhất vào nền văn minh khác biệt với văn minh của họ. Và cũng chính ở đây nữa, chúng ta hiểu được tầm quan trọng hàng đầu của một lớp tăng lữ và một lớp trí thức  “được đào tạo kỹ và sinh động trong các xứ truyền giáo của chúng ta “ (78). Khi phong chức cho sáu Giám mục Trung Hoa đầu tiên tại nhà thờ Saint Pierre ngày 28-10-1926, Pi-ô XI muốn cho thấy rằng, bằng cử chỉ đó, xem sự đào tạo lớp tăng lữ bản xứ là một vấn đề sống chết đối với Giáo Hội Gia tô.

Về lý thuyết, vì thế không có mâu thuẩn nào giữa chính sách hợp tác và cách nhìn mới của các nhà lý thuyết Gia tô. Khi chấp nhận cách nhìn đó, chủ trương Rôma đã tăng uy tín cho chính sách của một Galliéni, một Vollenhoven, một Brazza, một Sarraut (79). Chỉ thị (Instruction Pluriecimstanterque) có ghi : “không cách gì lôi cuốn căm thù và oán giận hơn là cách thay đổi phong tục một dân tộc, nhất là phong tục di sản của ông cha” (80) và trong Thông điệp (Encyclique Summi Pontificatus) Pi-ô XII long trọng xác nhận  : “ Giáo hội chúa Ki tô, nguời được ủy thác trung thành của thánh giáo thiêng liêng , không thể nghỉ và không hề nghỉ tấn công hay đánh giá thấp các đặc điểm mà mỗi dân tộc đã gìn giữ và xem như là một di sản quý báu với lòng trung thành triệt để và lòng tự hào rất dể hiểu. Mục đích của nó là sự hợp nhất siêu nhiên trong tình yêu bao la được cảm thấy và thực hành chứ không phải trong sự đồng nhất hết sức bề ngoài hời hợt và do đó chóng tàn  (81).

Nhưng than ôi, đó chỉ là diển văn và ước nguyện thánh kinh ! trong thực tế hằng ngày, hình như chính sách thực dân cũng như chánh sách truyền giáo không thay đổi bao lăm. Các chính phủ thực dân đã coi rẽ các nguyên lý kể trên, và buông mình trong chính

 sách cai trị trực tiếp. Ngoài trừ những lần hiếm hoi có cố gắng khôi phục lại tín ngưởng cổ truyền, còn thì như truớc, họ vẫn phải đụng độ với các sự thù nghịch của các nhà truyền giáo hình như không hề chịu bỏ sự cuồn tín và cố chấp của họ.

                                                  *****

                Trên đó là tóm lược những khía cạnh khác nhau của vấn đề tương quan giữa đạo Thiên Chúa và chế độ thực dân phương Tây . Kinh nghiệm Việt Nam và bây giờ chúng ta nghiên cứu  sẽ soi sáng bức tranh vừa phác họa . Kinh nghiệm nầy đáng lưu ý về hai mặt  :

   Về mặt lịch sử chính trị -cũng như mặt lịch sử không thôi- không có xứ nào ở Châu Á, trừ Trung Quốc, lại biết rõ hơn nước Việt Nam bộ mặt đáng giận của sự cấu kết giữa tên thưc dân và kẻ truyền đạo. Mỗ bước tiến của sự xâm lăng  thuộc địa tương ứng mỗi bước “leo thang “đạo Gia Tô, và ngược lại. Vì lý do đó, cuộc kháng chiến của người Việt nam chống xâm lăng vừa có tính cách quân sự, vừa có tính cách Văn hóa. Và khi quân đội triều đình Huế bất lực, không duy trì được nền độc lập xứ sở thì dân chúng vẫn tiếp tục chiến đấu không mệt mõi chắn lại sự xâm phạm văn hóa và danh dự tổ quốc.

Về mặt thời sự, vấn đề, dù thuộc một  giai đoạn đã qua, vẫn không mất đi sự quan hệ.

Trên bình diện chính trị nội bộ Việt nam, sức nặng của quá khứ vẫn còn đè nặng lên tinh thần người Việt Nam, Mặc cảm phản quốc vẫn còn dày vò các nhà trí thức Thiên Chúa giáo, trong khi quần chúng Thiên Chúa vẫn sống trong những cộng đồng riêng biệt. Sự thù hằn giữa những “người Nam kỳ” , “người Bắc kỳ’ và giữa “Phật tử” , “Con chiên” vẫn còn tồn tại và nó giải thích phần lớn các biến cố chánh trị xảy ra ở Nam Việt Nam từ tháng 8 năm 1963.

Trên bình diện quốc tế, vấn đề lại vừa đặt ra dưới một ánh sáng mới, với cuộc chiến tranh hiện giờ ở Việt Nam . Há không có một số người coi coi cuộc chiến nầy là cuộc chiến giữa thế giới phương Tây do Mỹ đại diện và thế giới phương Đông sao ? Một số người Châu Âu há không tỏ lòng biết ơn sâu xa người lính Mỹ, theo họ, đang chiến đấu cho tại Việt Nam cho văn minh phương Tây sao ?(82).

Hồng y Spellman há không tuyên bố thẳng thừng, khi cử hành lễ Noel trước lính Mỹ ở Sai Gon, rằng họ đã bảo vệ văn minh Thiên Chúa ở Việt nam đó sao ?(83).

Mở đầu phần vào đề, chúng ta đã trưng dẩn bức thư mà các người làm công tác giảng dạy Thiên chúa của Pháp gửi cho đồng nghiệp Hoa kỳ của họ. Chúng ta hãy đọc các giòng sau đây mà mục sư Georges Richard Molard đã viết trong tuần báo Tin Lành “ cải cách “ : “….Chúng tôi nghỉ rằng sự thất bại của các sức mạnh Hoa Kỳ đặt toàn thể phương Tây trước một tình thế lịch sử đổ vỡ…đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ, chính nó bị

thua trận, và nó đã thua trước một dân tộc không có sức mạnh quân sự có thể sánh được với nó , và không có quân đội ngoại quốc. Lời cảnh cáo ở Việt Nam đó là, dù muốn dù không, thế giới thoát được thực dân đã cương quyết từ chối một nền văn minh mà họ đồng hóa một cách chính đáng , với thống trị và bốc lột. Đàng khác, không phải chỉ vì thế mà họ đồng hóa nó, mà vì gốc rể nền văn minh này, chính phương Tây cũng quên mất, hoàn toàn xa lạ đối với họ” .

…Mặc dù thiện chí hiển nhiên nhưng bất hạnh của Hoa kỳ, cuộc chiến đấu của Việt Nam trở thành cuộc chiến đấu của thế giới này chống thế giới khác (84).

Không gì làm phấn khởi hơn cho người Việt Nam khi đọc các lời trên của một chức sắc Thiên Chúa đã đưa can đảm khía cạnh căn bản của vấn đề Việt Nam ra trước Thiên Chúa .

Và sau rốt xin nói đến thư mục . Ngoài các sách lịch sử do phần nhiều các người viết sử thực dân và nguời truyền giáo viết, không có một tài liệu nghiên cứu sâu xa nào về vấn đề chúng ta . Các tài liệu mà chúng tôi dùng cho tập sách nghiên cứu này đều rut trong các thư khố . Chúng tôi đã tham khảo các thư khố sau đây:

1/ Thư khố Quốc Gia (tài sản của Hải Quân ).

2/ Thư khố Bộ Hải Quân .

3/ Thư khố Bộ Ngoại Giao.

4/ Thư khố cựu Bộ Thuộc Địa

5/ Thư khố Trung Ương Đông Dương  ( Aix-en-Provence)

Chúng tôi không vào được thư khố của phái bộ truyền giáo nước ngoài ở Paris, điều đó khiến chúng tôi mất đi nguồn tài liệu quan trọng nhất cho việc nghi6n cứu của chúng tôi (85). Phần nhiều các tài liệu dùng trong tập nghiên cứu này, cho đến nay, chưa xuất bản.

Tập nghiên cứu này gồm ba phần :

- Phầm Một : Tìm cách dựng lại những liên hệ giữa đạo Thiên Chúa và sư xâm lăng Nam kỳ.

- Phần Hai : Có ý nghiên cứu chính sách thực dân và chính sách truyền giáo ở Bắc kỳ trước hiệp ước bảo hộ.

- Phần Ba : Dành cho vấn đề ảnh hưởng của các nhà truyền giáo đối với chính sách thuộc địa sau khi thiết lập nền bảo hộ ở Việt Nam.

 

Ghi Chú :

1- P.Lesour dẩn : “ Việc truyền bá văn minh và khoa học của các nhà truyền giáo Gia tô tại các thuộc địa Pháp “ . Lời giới thiệu của Giám mục Chaptal - Tựa của GabrielHantaur, Bộ trưởng ngoại giao- Paris, Desclée, đe Broveer et Cie 1931, phần vào đề.

2- “ Le Monde “ 13-1-68.

3- Ở Miền nam Việt nam, lúc nào cũng có kẻ sẵn sang buộc tội những ai đề cập vấn đềThiên Chúa giáo trong thời kỳ thuộc địa là muốn “gieo rắc mối bất hòa giữa những người Việt nam khác đạo” là “phá vở đoàn kết quốc gia” và là do đó “giúp đở Cộng Sản” . Vì thái độ ngu xuẩn này mà khoa học nhân văn nói chung và khoa học chính trị nói riêng , rất nghèo nàn.

4- F.Charles Rour “ Các Giám mục Pháp ngày xưa và sự bành trướng thuộc địa Pháp ” Nouvelle Revue Francaise d’Outre-Mer, số 7 và 8 tháng 7-8-1954.

5-F. Charles Rour “ Vấn đề Thiên Chúa Giáo trước lương tâm Thực dân “ . Nouvelle Revue Francaise d’Outre-Mer,  Bộ mới số 9 tháng 9-1955.

6- G. Michon, Các tài liệu về Giáo hoàng , Paris, Riedet 1928 trang 27, chú I

7- P.Lesour, Việc truyền bá văn minh và khoa học của các nhà truyền giáo Gia Tô tại các xứ thuộc địa Pháp , Sach đã dẩn. phần vào đề

8- René Guiscard “ Doctrine Catholique et colonization” Paris Larose 1937 tr.I.

9-Linh mục Delos , sự bành trướngthuộc địa có chánh đáng không, do Guiscard dẩn trong SĐD.

10- Guiscard, SĐD.

11- J.Folliet, la Pensé catholique et la colonisation Rythmes du Monde số I 1949- ngoài các ký do kinh tế đã cấp cho” các dân tộc mà lịch sử đẩy tới trước, khả năng khai thác các tài nguyên còn ngủ im”,các nhà đạo đức Gia tôcòn nhấn mạnh đến lý do thuộc lý trí và đạo đức, chúng ta thấy có lúc nào đó . Những dân tộc nào đó tiến hóa hơn, thay mặt xứng đáng hơn các dân tộc khác, các giá trị tinh thần diều khiển sự tiến hóa của loài người . Vì thế phải thừa nhận trong nhiều truờng hợp, một quyền can thiệp có thể kéo dài thành quyền thực dân.

12- René Maunier, Sociologie colonial, Paris, Domat-Montchrétien 1936 , tập Ii tr 63.

13-H. Martin, Histoire de France, Paris, Furne, Tập VII tr 293.

14- R. Maunier, SĐD tr 61.

15- R. Maunier SĐD tr 6-63.

15 bis Félicien- Challaye Le Christianisme et nous, Paris Rieder , 1932 tr 286.

16-Georges Hardy , Théories de la colonization moderne et principes chrétiens, Rythmes du monde số I, 1949.

17- như trên

 

18- như trên .

19- Linh Mục Delos, Guisecard dẩn SĐD.

20-21- Guiscard SĐD.

22- Do P. Lesour  dẩn  SĐD vần vào đề.

23-24- Leroy Bêaulieu “ De la colonization chez les peoples modernes” Paris Guillomin 1874 tr 655.

25- Hardy, Théories de la colonization moderne et principes chretiens , mục đã dẫn.

26- do Phạm Qùynh đẩn trang “ Avenir du Tonkin” số 9631 ngày 21-5-1928.

27- Michelet Introduction à l’histoire universelle, H. Labouret dẩn, Colonisation, Colonialisme decolonization, Paris Larose tr 85-86.

28-29- H.Labouret SĐD tr 86.

30- R.Maunier SĐD.

31- Semaines socials de Marseille tr 158.

 32- G. Hardy bài đã dẩn . Tác giả nói tiếp : “ Dù người ta có thể nghỉ gì về chính sách đồng hóa như là phương pháp của chính phủ thực dân, vẫn thực là bất công nếu phủ nhận giá trị tinh thần của nó”.

33- De Lanessan Principes de colonization Paris, F.Alcan 1897 , tr 63.

34- Valirien – Groffier Héros tropoublies de notre epopee coloniale, Lille Desclée De Brower et cie 1908 tr 620.

35- Delacommune,l’Eglise missionnaire et l’Union Francaise, Esprit số Đặc biệt tháng 7-1949.

36- G>N Curzon “Problems of the Far East” London, 1894  ,tr 309.

37- Challaye, SĐD trang 287 tác giả đã đưa ra những chi tiết lý thú về tinh thần cố chấp hẹp hòi của các người truyền giáo ở Tunisie . Năm 1926 như những tín đồ gia tô dựng lên ở Tunisie không phải trong thành phố Pháp, mà ngay giữa lòng phố Hồi, một pho tượng đầy khiêu khích của Giám mục Lavigerie phe phẩy một giá chử thập và một thánh kinh cựu ước  : Cách thức tượng trưng , nhà triết Pháp viết : Biểu hiệu sự hơn hẳn của đạo Gia tô với đạo Hồi, là đạo cấm đoán mọi việc tạc tượng mặt người. Tác giả kể, năm 1929, Đại hội Thánh thể họp ở Tunis, 2000 thanh thiếu niên đi lại và hóa trang làm lính chử Thập, mặc áo dài trắng có chử thập đỏ lớn. Theo lệnh BaLê, viên Đại diện nền Cộng Hòa tham dự vào các cuộc biểu tình của đại hội  và quân đội pháp dàn chào ở đai hội Thánh thể . trang 290-291.

38- Bá tước Harcourt La Prmière Ambassade Francaise en Chine , Revue de deux Moneles 1-6-1862, tr 673.

 

39- P>Boell việc bảo vệ các phái bộ truyền giáo Gia tô ở Trung Quốc và chính sách Pháp ở Đông Á , Paris 1872 tr 10. Cũng vấn đề đó 1872, tạp chí “ Các phái bộ truyền giáo gia tô “ viềt, sớm hay chậm rồi cũng phải chiến tranh chống lại Trung Hoa , khôi phục cho quân đội ta ở Triều tiên và cuối cùng phiả có quyền vào Tây tạng và Nhật bản , người trung hoa đã quên đi việc chiếm Bắc kinh, việc đ61t cháy cung điện mùa hè, tư do tôn giáo mà lúc đó chúng ta đòi được đã luôn luôn bị chướng ng5i bởi sự đàn áp tìm tàng, và cả đôi khi  bởi các thảm cảnh đẩm máu như chúng ta vừa mới thấy, sẽ đến lúc chúng ta phải can thiệp, nước Anh sẽ vì buôn bán, nước pháp sẽ vì các nhà truyền giáo mình mà can thiệp..

40- Xem Avenir du Tonkin số 8323 25-12-1923 “ Tại các xứ khác ngọn cờ đã theo sau buôn bán, số mệnh đã định ngọn cờ tổ quốc ta đi theo chân giá chử thập”.

41- Panikkar “ L’Asie et la Sominatron Occidentale” của phương tây, Paris, 1953 tr 330. Đức cũng không làm khác . Hai người truyền giáo của giáo đoàn Thần đạo Đưc bị tàn sát . Lập tức Đức đổ quân và chiếm giữ một phần Quảng Đông để đền bù thiệt hại( Joly SĐD tr 273.

42 Panikkar SĐD tr 380.

43- Panikkar  SĐD tr 372.

44- Panikkar SĐD  tr 372.

45-46-Dẩn ra  do nhật báo Công giáo “L’Avenir du Tonkin “ số 8146 25-5-1923.

47- A.Siegfried và A.Latreille , Les force religicuse et la vie Politique, Paris A.Collin 1951 tr 117 . Do một thu xếp đặc biệt với tòa thánh , Tự Đức đã bảo vệ từ 1891 các người truyền giáo Gia tô của mình ở trung Hoa, nhiệm vụ trước kia giao cho Pháp.

48- G.Hardy, Théorie dela colonization moderne et principes chrétiens mục đã dẫn

49- G.Goyau, La France missionaire dans les cinq parties du monde Paris, Société de L’histoirenational, 1948 tập II tr 325.

50- “ Công trình truyền giáo gia tô “ P. Andrien Launay viết , thật sự là công trình quốc gia  ( Les missionaries Francais au Tinkin. Paris, Lyon, J.Biquet 19000 tr 224.

50b- Các phái bộ truyền giáo Gia tô ở thế kỷ 19 ( Lea missions catholiques) Gia Tô kỷ yếu hàng tuần của việc truyền bá đức tin, số ngày 26-6-1891.

51- F. Charles Rour . Le problème chrétien devant  la conscience Coloniale , mục đã dẫn.

52- Joly, Le Christianisme en Extrême, Orient, Paris 1907.

53- Louis Eugène Louvet, Les Missions Catholiques au 19 ème siècle, Lea Missions Catholiques số ngày 26-6-1891.

54- Joly SĐD trnag 260.

55- Joly SĐD tr 262.

56- Joly SĐD trang 274-275 . Panikkar sứ giả và chính trị gia Ấn giáo cũng viết về vấn đề đó : “ che chở những người truyền giáo dưới trị ngoại pháp quyền và cho họ quyền kêu cầu đến lảnh sự họ để ủnh hộ quyền lợi ”tôn giáo của những ngưòi Trung Hoa theo đạo.Lịch sử đã chứng minh người ta dã không làm gì tệ hại hơn  cho quyền lợi giáo hội Chúa Kitô và do một mĩa mai thú vị của định mệnh chính những tay tổ nhiệt thành nhất của đạo Thiên Chúa đã chịu trách nhiệm công trình ngu xuẩn đó.

57- Louis Eugène Louvet, Les Missions, Bộ Gia tô ở thế kỷ 19 “Các cotholiques số ngày 26-61891”.

58- Do R. Guiscard dẩn, bài đã dẫn,

59- Guiscard Bài đã dẫn, hãy chú ý chủ trương nầy của Benoit XV và Pi-ô Xi trái nghịch biết bao với người đi trước họ, léon XIII, Nói  về “ Sứ mệnh thiên định “ của Pháp ở phương Đông , ông nầy nói: “ Nước Pháp có tại phương Đông một sứ mệnh trời giao phó ; sứ mệnh cao quý mà không những được thực tế lâu dài mà còn được các hiệp ước quốc tế thừa nhận, cũng như giáo đoàn tuyên truyền chúng ta thừa nhận, thật vậy, do tuyên bố ngày 25-5-1888 tòa thánh không muốn đụng chạm gì đến di sản vinh dự của nước Pháp, tiếp nhận của tổ tiên mình và không nghi ngờ gì nó xxứng đáng giữ gìn lấy và khi chứng tỏ lúc nào cũng ngang tầm với công việc mình “ (thư của Giáo hoàng Léon XII ngày 20-81898 trả lời Hồng y Langénieud do P>Boel dẩn trong sách đã dẫn) Hoặc “ Nước Pháp rất quang vinh, Trời đã chọn để đi đầu các dân tộc, trong tay cầm chử thập” do F. Charles Rour dẫn ,bài ĐD)

60- Latourette : Histoire des Missions en Chine.

61- Delacommune BĐD.

62-63- Joly dẫn SĐD tr 265-266

64- Croquis d’Annam ( Missions Catholique 28-6-1901).

65- Joly SĐD tr 264-265

66- P. Lesour SĐD

67- P. Lesour viết : “ Lý tưởng thuộc địa chính và thực sự của Pháp là nói chung, luôn luôn phù hợp hoàn toàn với mục đích mà các nhà truyền giáo muốn đạt đến . Các nguyên lý về nhân đạo cao cả cổ truyền của nước ta đã từng luôn luôn hướng dẫn nước Pháp trong công trình thuộc địa, chỉ có thể, nói chung làm cho việc họ được dễ dàng . không có sự băn khoăn nào trong linh hồn nhà truyền giáo Pháp, họ không hề dè dặt gì mỗi khi góp phần, theo cách thức của họ, vào sự thịnh vượng của xứ mà họ truyền đạo và sự gia tăng hạnh phúc dân bản xứ mà họ có nghĩa vụ thiêng liêng . Cũng vậy, làm sao mà vì quyền lợi xã hội, kinh tế, tinh thần cũng như tôn gáo của dân bản xứ đó, mà nhà truyền giáo Pháp không phát nguyện ngay tại các thuộc địa chúng ta, để ủng hộ quyền chiếm đóng

 hiện giờ  của Âu Châu, chống lại các chủ trương bản xứ nguy hiểm, chống lại tinh thần quốc gia bắt nguồn từ các sự quấy rối của chủ nghĩa Bonsevite và cách mạng ? Làm sao mà không phải là kẻ trước tiên chắc chắn rằng nếu Pháp bị đuổi ra khỏi Đông Dương, thì chắc chắn sẽ là vô chánh phủ, trôm cướp và sự điêu linh của những người bản xứ mà họ tha thiết muốn – vì họ cống hiến cuộc đời họ cho mục đích đó – có hạnh phúc và an vui ?...”

68- Chi sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong những năm 1950, các giới Gia tô bắt đầu đặt “vấn đề thực hiện trước lương tâm Thiên Chúa “ Rõ ràng trong giai đoạn nầy chủ nghĩa thực dân đang sụp đổ.

69- “ Tại Trung Quốc , Hội truyền giáo nước ngoài” Avenir du Tonkin số 9144 1-10-1926.

70-  Morse International Relation of the Chinese Empire tập 1 tr 220.

71- Tập lục quốc hội Anh , 1870 tập LXIX trung Quốc 9 tr 4-12.

72- V. Launay-Histoire Géhérale de la société des missions et rangères II tr 173.

73- Lanessan, Les missions et leur Protectorat Paris Félic Alcan 1907 tr 19.

74- Điều nầy chỉ liên hệ đến chính sách thực dân Pháp, nước Anh, như chúng ta biết, luôn luôn thi hành “ quy tắc gián tiếp “ cổ truyền.

75-  Delacommune , BĐD, cũng xin xem Giám mục Chapoulie Giáo hội truyền giáo và tinh thần dân tộc địa phương . Rythmes du Monde , số 1 1949 : “ Khi làm phép bap-tên cho những gì nhân đạo thực sự ở trong các giá trị cổ truyền của nó, và khi gạn lọc nó và cho đem hồi sinh trong chúa Cơ Rit , Giáo hội đã đưa chúng đến chổ hoàn tất, chổ viên mãn. Các đạo đức hoàn toàn của thế giới Khổng Tử đưọc các nhà truyền giáo thay đổi bộ mặt bằng đức bác ái của chúa Ki tô và đem lại cho chúng một hiệu lực mới “

76- Về nổi bận tâm của các nhà truyền giáo, dưới sự thúc đẩy của tòa Thánh, xâm nhập vào nghệ thuật bản xứ , xin xem “ L’Art Religieus indigene “ Bullatin des Missions các tháng 3-6-1936

77-78- Guiscard SĐD.

79-  Gallieni khuyên  :” Đừng có đồng hóa có hệ thống mà là bành trướng dần dần ảnh hưởng pháp, bằng cách xây dựng các thể chế căn cứ các nhu cầu những nhòm bản xứ tự do hành động theo phong tục của họ “ và Von-Vonllenhoven “nên làm dịu và cải thiện các cơ cấu riêng biệt của các xứ mới hơn là bất chấp các đặc tính của chúng, xây dựng một kiến trúc đồng nhất không mấy thích hợpcho việc che chở lớn mạnh của các dân tộc mà chúng ta đi đến” De Brazzacắt nghĩa s ựnguy hiểm phải mất hết do chính sách đồng hóa thái quá . “Khi muốn áp đăt thình lình các quy tắc, các cách làm, cách nhìn, cách suy nghỉ của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải cuộc chiến đấu đưa chúng ta đến diệt vong”

80-81- do Jean Marieu  Sédès dẫn, Les Lecons de la Méthologie compare Rythmes du Monde số 1 1949.

82- Le Monde số 15 10-1966 bài “ cám ơn người lính Mỹ”

83- Hồng y tuyên bố : “ Các binh sĩ đến đây không những với tư cách binh sĩ quân đội Hoa Kỳ ,mà còn với tư cách binh sĩ của chúa Kitô… cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh để bảo vệ văn minh … không thể hiểu nổi một giải pháp nào khác hơn là giải pháp chiến thắng quân sự” Le Monde số 29-12-1966

84- Lemonde số 13 -2-1908

85- Linh mục giữ thư khố đường DuBac , để trả lời sự yêu cầu của chúng tôi, chỉ cắt nghĩa rằng các thư khố thế kỷ 19 không cho công chúng đọc .

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (5 đã gửi)

avatar
thanhhuyen 11/06/2010 10:37:53
Đau quá dân tộc mình !
Tội quá kẻ vô minh !
Nhục quá chiên theo "mẫu quốc"
Ôi ! cây thập ác đã cắm sâu vào da thịt quê hương tôi,tạo nên những vết đau lở lói,ghê tởm,chưa biết bao giờ lành da !

Bọn thừa sai mắt xanh mủi lỏ đã mất xác mục xương từ lâu ,hoặc chạy kĩp về núp bóng Vatican ,vẫn còn để lại trên dãi đất này bọn chủ chăn và đàn chiên da vàng mủi tẹt chính hiệu ,đang tiếp tục ngày đêm rình rập phá nát quê hương,xới tung mồ mã tổ tiên để hòng lấy điểm với "Chúa lòng lành "và kịp có được một chiếc vé lên thiên đường gặp nhau ăn mừng...chiến thắng !
avatar
Đỗ Thành Dũng 27/07/2010 01:57:35
Người ta cố tình đánh đồng đạo TC với ách đô hộ thuộc địa lên các nước kém phát triển . Đạo TC có mặt trên khắp toàn cầu , khai mở văn minh cho nhiều dân tộc lạc hậu . Cho đến thời đại ngày nay tất cả các văn kiện về pháp lý , Hiến Pháp , Hiến chương LHQ , bản tuyên ngôn , các văn kiện xã hội đều căn cứ vào Kinh Thánh .

Thế giới không có các tôn giáo thì thật là thãm họa cho các dân tộc . Sự tuyên truyền là điều không cần thiết trong lãnh vực tôn giáo . Tôn giáo có sứ mạng của mình khai phóng tâm linh hướng thượng cho nhân loại .

Một trang web Phật giáo thì nên thuyết giảng về giáo lý đạo Phật cho chúng sinh chứ không nên nói về chính trị . Điều này sẽ đi sai lệch ra tôn chỉ hoạt động của đạo Phật và mọi người sẽ nhìn ra thực chất dụng ý gây chia rẻ , mất đoàn kết các tôn giáo . Hãy thể hiện trên trang web diễn đàn chính trị nghị luận thì đúng hơn .

Những điều lợi ích của các tôn giáo mang lại cho mọi người , cho xã hội là rất rõ ràng thiết thực cụ thể từ tâm linh cho đến một đời sống thánh thiện bác ái nhân lành .
avatar
Lua viet 07/09/2010 00:44:17
"thanh thien, bat ai, nhan lanh"
tham 1 cau hoi de ban suy nghi.
tai sao lai co nhung luat hu doa nhu: RUT PHEP THONG CONG, VA TUYET THONG khi ho bo dao hay.......
' thanh thien, bat ai, nhan lanh" ma lai di hu tinh do cua minh nhu vay sao
avatar
Phàm Phu 27/07/2010 10:08:29
Đỗ Thành Dũng viết y theo lời rao giảng trong nhà thờ. Dũng không đọc sách báo gì hết hay sao , thế kỷ 21 rồi đó nha ! Kinh thánh có liên hệ gì với Hiến Pháp Việt Nam hay với Hiến Chương LHQ ? Văn kiện xả hội nào căn cứ vào kinh thánh ? Dũng làm rõ ra đi, thử xem sao !

Khai mở văn minh cái lối gì mà tiêu diệt dân bản địa rồi bắt dân châu Phi sang Mỹ làm nô lệ ? Thờ cúng ông bà thì bài xích là thờ ma quỷ ? ...Dũng là người Việt Nam hay là Do Thái ? Thiên chúa giáo đồng hành với quân xâm lược thực dân thì quá rõ rồi , Dũng không biết Giáo Hoàng John Paul II xưng thú 7 núi tội ác đó hay sao ?

Thiên chúa giáo là văn minh khoa học , tôn trọng nhân quyền ? Thế tại sao Vatican lại thiêu sống Bruno , giam cầm Gallileo cho đến chết , cấm cản thuyết Darwin ? ...

Mời Dũng đọc comment có trên diễn đàn này của Phương Thuỷ ( ở bài Những Lời Chúa Phán ) mà tôi xin sao y lại như sau :

Phương Thuỷ 12/05/2010 22:51:05

Nhiều người Việt Nam mơ hồ cho rằng có một nền văn minh thiên chúa giáo là ân nhân của nhân loại, là cha đẻ của nền khoa học Âu Mỹ, là hiệp sĩ khai hóa cho phần thế giới còn lại.

Sự thật như thế nào ? Hãy để cho chính danh nhân trí thức Âu Mỹ xưa và nay phát biểu qua bộ sưu tập sau đây. ( từ “ tôn giáo ” trong các phát biểu mặc định chỉ cho độc thần giáo của Âu Mỹ, không dính dáng đến các tôn giáo của Phương Đông ) :

Pope PAUL IV (1476-1559) Giáo hoàng : *Nếu cha tôi là một kẻ lạc đạo, tôi sẽ đích thân đi lượm củi để thiêu sống ông ta (If my own father were a heretic, I would personally gather the wood to burn him.)

Pope GREORY I (540-604) Giáo hoàng : *Niềm hạnh phúc của những người được chọn ở trên thiên đường sẽ không được hoàn hảo trừ phi những người này có thể nhìn xuống địa ngục và thích thú trước những sự đau đớn cùng cực của anh em họ trong ngọn lửa vĩnh hằng. (The bliss of the elect in heaven would not be perfect unless they were able to look across the abyss and enjoy the agonies of their brethen in eternal fire.)

ALBERT EINSTEIN (1879-1955), Khoa học Gia Do Thái, phát minh Thuyết Tương Đối : *Tôi không thể quan niệm một Chúa Ki Tô lại thưởng phạt tạo vật do ông ta dựng nên (I cannot conceive of a God who rewards and punishes his creatures) ; *If people are good only because they fear punishment, and hope for reward, then we are a sorry lot indeed. ; *Tôi không tin vào một ngôi Chúa, tôi chưa hề phủ nhận điều này, mà đã từng diễn đạt điều đó rõ ràng. ( I do not believe in a personal God and I have never denied this but have expressed it clearly.) ; * I cannot imagine a God who rewards and punishes the objects of his creation, whose purposes are modeled after our own -- *Chúa trời, nói ngắn gọn, chỉ là phản ánh sự yếu đuối của con người ( a God, in short, who is but a reflection of human frailty.)

BERTRAND RUSSELL (1872-1970), Triết gia, Nhà Toán học Anh, tác giả cuốn “Why I Am Not A Christian” : * Quan điểm của tôi về tôn giáo giống như quan điểm của Lucretius. Tôi coi nó như là một bệnh chứng xuất phát từ sự sợ hãi và là nguồn gốc của sự khổ sở không thể kể được của loài người (My own view on religion is that of Lucretius. I regard it as a disease born of fear and as a source of untold misery to the human race.) ; *Nếu tôi nhớ không lầm, không có một lời nào trong các Phúc Âm ca tụng sự thông minh (So far as I can remember, there is not one word in the gospels in praise of intelligence.) *Đàn áp tôn giáo được sử dụng trong thần học chứ không ở trong số học (Persecution is used in theology, not in arithmetic.) [ số học : ý nói khoa học ]

VICTOR HUGO (1802-1885), Văn hào Pháp: *Khi anh bảo tôi rằng Thần của anh đã tạo ra anh theo hình ảnh của ông ấy, tôi trả lời rằng hắn ta phải thật là xấu trai (When you tell me that your deity made you in his own image, I reply that he must have been very ugly.) * Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng: người thầy giáo - và một kẻ làm tắt bó đuốc đó : ông linh mục xứ (There is in every village a torch: the schoolmaster - and an extinguisher: the parson.) .

ALEXANDRE DUMAS (1802-1870), Văn hào Pháp: *Tín đồ Ca-Tô và Tin Lành, trong khi thiêu sống và giết hại lẫn nhau, vẫn có thể cộng tác để nô lệ hóa những người anh em da đen của họ (Catholics and Protestants, while engaging in burning and murdering each other, could cooperate in enslaving their black brethen.)

LEO TOLSTOY (1828-1910) văn hào Nga : *Tôi tin chắc rằng giáo lý của giáo hội (Ca-Tô) là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết, và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện thực hành (I am convinced that the teaching of the church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross superstition and witchcraft.) ; * Đúng vậy, tôi không chấp nhận một thuyết không hiểu được là thuyết Ba Ngôi, và huyền thoại về sự sa ngã của con người, vì chúng vô lý trong thời đại của chúng ta. (It is true, I deny an incomprehensible Trinity, and the fable regarding the fall of man, which is absurd in our day.) ; * Đúng vậy, tôi không chấp nhận cái chuyện , có tính cách xúc phạm, về một vị Thần sinh ra từ một trinh nữ đề chuộc tội cho nhân loại ( It is true, I deny the sacrilegious story of a God born of a virgin to redeem the race.)

CHARLES DARWIN (1809-1882), Khoa học gia Anh, nhà lập thuyết Tiến Hóa : * Khoa học và chúa KiTô chẳng có liên hệ gì với nhau. Tôi không tin đã có một sự mạc khải nào (Science and Christ have nothing to do with each other. I do not believe that any revelation has ever been made).

ARTHUR SCHOPENHAUER (1788-1860), Triết gia Đức : *Bạn có thể ghi nhận là đức tin và kiến thức thì liên hệ với nhau như là hai cán cân; khi cán cân bên này lên thì cán cân kia xuống (You may observe that faith and knowledge are related as the scales of a balance; when the one goes up, the other goes down) ; *Những hoa trái của Ki Tô giáo là chiến tranh tôn giáo, những cuộc tàn sát, những cuộc chiến tranh thập giá, những tòa án xử dị giáo, sự tiêu diệt các thổ dân Mỹ, và đưa những nô lệ Phi Châu vào thay thế (The fruits of Christianity were religious wars, butcheries, crusades, inquisitions, extermination of the natives in America, and the introduction of African slaves in their place) ; *Ca-Tô giáo là tôn giáo lên thiên đường bằng cách cầu xin, vì nó quá phiền toái để tự mình đạt được. Linh mục là những kẻ buôn bán thiên đường (The Catholic religion is an order to obtain heaven by begging, because it would be too troublesome to earn it. The priest are the brokers for it) ; * Mọi tín lý, bất kể là vô lý tới đâu, khi cấy vào con người từ nhỏ, chắc chắn là ở trong đó suốt đời (Any dogma, no matter how extravagantly absurd, inculcated in childhood, is sure to retain its hold for life.)

NAPOLEON BONAPARTE (1769-1821), Hoàng đế Pháp: *Hiệp hội Giêsu là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác (The Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others) ; *Kiến thức và lịch sử là những kẻ thù của tôn giáo (Knowledge and history are the enemies of religion) ; *Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood) .

THOMAS JEFFERSON (1743-1826), Tổng Thống Mỹ : *Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đều đã thù nghịch đối với tự do.(In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty); *Thần Ki-Tô là một nhân vật có những tính cực kỳ độc ác, bất khoan dung, đồng bóng , và bất công. (The God is a being of terrific character - cruel, vindictive, capricious, and unjust); * Đã tới 5- 6 mươi năm từ ngày tôi đọc cuốn Khải Huyền, và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại mê sảng của 1 kẻ cuồng điên (It has been 50 and 60 years since I read the Apocalypse, and I then considered it merely the ravings of a maniac).

JAMES MADISON (1751-1836), Tổng Thống Mỹ : *Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét. Hoa trái của Ki Tô giáo là gì ? Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới giáo sĩ, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ, sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial. What has been its fruits? More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

ABRAHAM LINCOLN (1809-1865), Tổng Thống Mỹ : *Cả hai [Ca Tô và Tin Lành] đều đọc cùng một cuốn thánh kinh, cầu nguyện cùng một Chúa, và người này viện đến sự giúp đỡ của Ngài để chống lại người kia (Both read the same Bible, and pray to the same God; and each invokes His aid against the other.)

BENJAMIN FRANKLIN (1706-1790), Khoa học gia Mỹ: *Cách nhìn mọi sự việc bằng đức tin là nhắm con mắt của lý trí lại. (The way to see by faith is to shut the eye of reason).

THOMAS PAINE (1737-1809), triết gia Anh, tác giả cuốn sách nổi tiếng Thời Đại Của Lý Trí : *Cuốn Tân Ước dạy chúng ta những gí ? Tin rằng Đấng Toàn Năng phạm tội lăng nhăng với một người đàn bà đã có chồng; và tin vào cái chuyện lăng nhăng này gọi là đức tin. (What is the New Testament teaches us? To believe that the Almighty committed debauchery with a woman engaged to be maried; and the belief of this debaucery is called faith ) ; *Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion); *Tin vào một vị Thần độc ác làm cho con người thành độc ác (Belief in a cruel god makes a cruel man.); *Một thầy giáo giỏi có ích hơn là 100 linh mục (One good school master is of more use than a hundred priests.)

VOLTAIRE (1694-1778), Văn hào, Triết gia .. Pháp : *Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); *Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm; *Những tín đồ Ki-Tô là những người bất khoan dung nhất (Christians have been the most intolerant of all men); *Hãy nghiền nát cái đồ ô nhục (Erasez l’infâme!) [crush the infamous thing - Christianity] ; *Vô thần là thói xấu của một số nhỏ những người thông minh (Atheism is the vice of a few intelligent people); *Thần Ki-Tô luôn luôn ở phía những tiểu đoàn mạnh nhất (God is always on the side of the heaviest battalions); *Tai họa giáng vào thế giới qua tội lỗi của Adam. Nếu cái tên ngu đần ấy không phạm tội, chúng ta đã có thể không bị làm khổ bởi bệnh đậu mùa, bệnh ghẻ, hoặc môn thần học, hoặc đức tin duy nhất có thể cứu rỗi chúng ta (Evil came into the world through the sin of Adam. If that idiot had not sinned, we should not have been afflicted with the smallpox, nor the itch, nor theology, nor the faith which alone can save us.); *Lời của Thần Ki Tô là lời của các linh mục; sự vinh quang của Thần Ki Tô là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Thần Ki Tô là ý của các linh mục; xúc phạm Thần là xúc phạm các linh mục; tin vào Thần là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)

EDWARD GIBBON (1737-1794), Sử gia Anh: *Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của giới giáo sĩ thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.); *Những tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ, Người đại diện của Chúa Ki Tô [Giáo hoàng John XXIII, 1414] chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp đồng giống, và loạn luân (The most serious charges were suppressed; the Vicar of Christ (Pope John XXIII, 1414) was accused only of piracy, murder, rape, sodomy, and incest.)

PIERRE BAYLE (1647-1706), Triết gia Pháp: *Về những vấn đề tôn giáo, rất dễ lừa dối một người, nhưng rất khó mà giải hoặc hắn (In matters of religion, it is very easy to deceive a man, and very hard to undeceive him); *Không có quốc gia nào hiếu chiến như là những quốc gia theo Ki Tô Giáo (No nations are more warlike than those which profess Christianity)

DANIEL DEFOE (1660-1731), Tiểu thuyết gia Anh: *Trong tất cả những tai họa mà nhân loại phải chịu đựng, sự độc đoán của giới giáo sĩ là tệ hại nhất (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny’s the worst.)

FREDERIK the GREAT (1712-1786), Vua nước Phổ : *Mọi nhà thần học đều giống nhau.. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền trên tâm thức con người. Do đó họ khủng bố mọi người chúng ta dám táo bạo phanh phui sự thật (Theologians are all alike .. Their aim is always to wield despotic authority over men’s consciences. They therefore persecute all of us who have the temerity to unveil the truth.)

THOMAS HENGRY HUXLEY (1825-1895), Khoa học gia Anh: *Tín điều về sự không thể sai lầm của Thánh kinh cũng chẳng hiển nhiên hơn tín điều về không sự sai lầm của các giáo hoàng (The dogma of infallibility of the Bible is no more self-evident than is that of the infallibility of the popes.) ; *Từ một nô lệ của chế đô giáo hoàng, người trí thức đã trở thành thân trâu ngựa của Thánh kinh [có nghĩa là bỏ Ca-Tô sang Tin lành] ( From being a slave of the papacy, the intellect was to become the serf of the Bible.) ; *Hệ thống giáo sĩ là kẻ thù sống chết của khoa học. Thuyết tiến hóa loại bỏ thuyết sáng tạo và mọi sự can thiệp của Thần Ki Tô (The ecclesiastical system is the deadly enemy of science. Evolution excludes creation and all other kinds of supernatural interventions.) ; *Hoài nghi là bổn phận cao nhất và đức tin mù quáng là tội không thể tha thứ được (Skepticism is the highest duty and blind faith the one unpardonable sin.)

ROBERT G. INGERSOLL (1833-1899 ) : *Sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành là gì ? Và đạo nào tốt hơn? Tin lành khá hơn vì có ít chất công giáo hơn [nghĩa là ít độc tài, xảo quyệt, hoang đường hơn], nhưng sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành chỉ là sự khác biệt giữa một con cá sấu lớn và một con cá sấu nhỏ. (What is the difference between Catholicism and Protestantism? and which one is better? Protestantism is better because it is less Catholic, but the difference between Catholicism and Protestantism is only the difference between an alligator and a crocodile .)

Sir JAMES PAGET (1814-1899), Y sĩ Anh : Nơi công cộng cũng như trong tư gia, tôi không biết một cuốn sách nào mà lại là nguồn gốc của cách xử sự hung ác và tàn bạo như là cuốn thánh kinh (I know of no book which has been a source of brutality and sadistic conduct, both public and private, that can compare with the Bible.)

FRIEDRICH NIETZCHE (1844-1900), Triết gia Đức : *Thần Ki-Tô đã chết ( God is dead.) *Chúng ta không nên đi đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành (One should not go to church if one wants to breathe pure air.) *Điều nào đúng: con người là một trong những sai lầm của God, hay God là một trong những sai lầm của con người. (Which is it: is man one of God’s blunders, or is God one of man’s blunders ? )

ÉMILE ZOLA (1840-1902), Văn hào Pháp : * Phải chăng khoa học đã thoái lui ? Không phải ! Chính Ca-Tô giáo đã luôn luôn phải thoái lui trước khoa học, và sẽ còn bị bắt buộc phải thoái lui (Has science ever retreated ? No ! It is Catholicism which has always retreated before her, and will always be forced to retreat.)

MIKHAIL A. BAKUNIN (1814-1876), Văn hào Nga: *Ki Tô giáo là sự từ bỏ hoàn toàn lẽ thường và lý trí (Christianity is the complete negation of common sense and sound reason.) *Thần học là khoa học về sự nói láo của thần thánh (Theology is the science of the divine lie.)

WILLIAM E. H. LECKY (1838-1903), Sử gia Ái Nhĩ Lan: *Hầu hết Âu châu, trong nhiều thế kỷ, đã bị ngập máu, máu đổ do sự chủ mưu trực tiếp hoặc với sự hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong giới giáo sĩ (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorities). *Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Ca-Tô hay Tin Lành, đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

AUGUST BEBEL (1840-1913), Nhà xã hội Đức : Ki Tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh. Nó buộc nhân loại trong xiềng xích. (Christianity is the enemy of liberty and of civilization. It has kept mankind in chains.)

GIUSEPPE GARIBALDI (1807-1882), Nhà lãnh đạo Ý [ Người đã tiến quân và thu hẹp lãnh thổ của Ca-Tô ROMA Church, chỉ còn lại Vatican như ngày nay ]: *Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý. (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.) ; *Linh mục là hiện thân của sự sai lầm (The priest is the personification of falsehood.) ; *Giáo hội Ca-Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty.)

SIGMUND FREUD (1856-1939), Nhà Phân tâm Anh : *Tôn giáo giống như là chứng bệnh suy nhược thần kinh của trẻ con (Religion is comparable to a childhood neurosis.) ; *Giáo hội Ca-Tô là đối thủ của mọi tự do tư tưởng (The Catholic Church so far has been the implacable enemy of all freedom of thought.)

GEORGE SANTAYANA (1863-1952), Triết gia Mỹ: *Ki Tô giáo đàn áp tôn giáo, tra tấn và thiêu sống con người. Như một con chó săn, tôn giáo này đánh hơi và truy lùng kẻ lạc đạo. Tôn giáo này gây nên những cuộc chiến tranh, và nuôi dưỡng thù hận và tham vọng. Tôn giáo này thánh hóa sự tận diệt và sự chuyên chế (Christianity persecuted, tortured, and burned. Like a hound it tracked the very scent of heresy. It kindles wars, and nursed furious hatred and ambitions. It sanctified extermination and tyranny..)

H. L. MENCKEN (1880-1956), Văn hào Mỹ : *Đức tin có thể định nghĩa ngắn gọn như là một niềm tin phi lý vào những gì không chắc chắn xảy ra (Faith may be defined briefly as an illogical belief in the occurrence of the improbable.) ; *Thần học : một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng những lời không đáng để biết (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.) ; *Tổng giám mục: một chức sắc Ki Tô cao chức hơn chức của Chúa Ki Tô (Archbishop: A Christian ecclesiastic of a rank superior to that attained by Christ.)

CULBERT OLSON, Thống đốc bang California 1938-1943: Tôi không hiểu làm sao mà người nào đọc thánh kinh mà lại có thể tin rằng đó là lời của Thần Ki-Tô, hoặc tin đó không phải là chuyện man rợ của một dân tộc man rợ (I don’t see how anybody can read the Bible and believe it’s the word of God, or believe that it is anything but a barbarous story of a barbaric people.)

STEVE ALLEN (1921 - ), Mỹ, tác giả 43 cuốn sách đủ loại : *Rất hiếm có một trang sách nào trong cuốn thánh kinh mà trong đó một người có đầu óc cởi mở không nhận thấy một sự mâu thuẫn, một chuyện lịch sử bất khả hữu, một sai lầm hiển nhiên, một sự kiện lịch sử không thể nào xảy ra (There is scarcely a page of the Bible on which an open mind does not perceive a contradiction, an unlikely history, an obvious error, an historical impossibility..); *Một người vô thần không ghét Thần Ki Tô, hắn chỉ không thể tin được là một Thần có thể hiện hữu. (An atheist does not hate God; he simply is one who is unable to believce that a God exist); *Cuốn thánh kinh đã được dùng để khuyến khích niềm tin vào sự mê tín thô thiển nhất và làm ngăn cản sự dạy những chân lý khoa học (The Bible has been used to encourage belief in the grossest superstition and to discourage the free teaching of scientific truths); *Chỉ sau khi tôi đọc cuốn thánh kinh từ đầu đến cuối tôi mới nhận ra rằng Thần Ki Tô trong đó thật sự là một bạo chúa thích trả thù, ác như quỷ, còn ác hơn sự khát máu điên rồ, sự dã man, sự tàn phá của những con người như Hitler, Stalin, Pol Pot, hoặc bất cứ kẻ sát nhân tập thể nào trong lịch sử cổ xưa hoặc hiện đại (It was only when I finally undertook to read the Bible through from beginning to end that I perceived that its depiction of the Lord God was actually that of a monstrous, vengeful tyrant, far exceeding in bloodthirstiness and insane savagery the depredations of Hitler, Stalin, Pol Pot, or any mass murderer of ancient or modern history.)

CARL SAGAN, Khoa học gia Mỹ: *Nếu các bạn muốn cứu con mình khỏi bị bệnh bại liệt, bạn có thể cầu nguyện ( chúa ) hoặc mang nó đi chích ngừa.. Hãy chọn khoa học (If you want to save your child from polio, you can pray or you can inoculate.. Choose science)

FERDINAND MAGELLAN (1480-1521), Nhà hàng hải Bồ Đào Nha: *Giáo hội bảo rằng trái đất thì phẳng dẹt, nhưng tôi biết rằng nó hình cầu, vì tôi đã nhìn thấy bóng nó trên mặt trăng, và tôi tin vào một cái bóng hơn là tin vào giáo hội. (The church says the earth is flat, but I know that it is round, for I have seen the shadow on the moon, and I have more faith in a shadow than in the church)

DENIS DIDEROT (1713-1784), Khoa học Gia Pháp: *Ki-Tô giáo dạy chúng ta phỏng theo một vị Thần độc ác, ngấm ngầm, ghen tuông, và không thể nguôi trong những cơn phẫn nộ của ông ta (The Christian religion teaches us to imitate a God that is cruel, insidious, jealous, and implacable in his wrath); Sự cuồng tín chỉ cách sự man rợ có một bước (Fanaticism is just one step away from barbarism); Hãy xét cái hình ảnh mà người ta vẽ cho chúng ta về Đấng Tối Cao, người có đầu óc ngay thẳng nhất phải ước rằng hắn ta đừng có hiện hữu (Considering the picture that is drawn for us of the Supreme Being, the most righteous soul must be tempted to wish that he did not exist).

MARK TWAIN (1835-1910), Văn hào Mỹ: * Đức tin là tin vào cái mà chúng ta biết nó không như vậy (Faith is believing what you know ain’t so). * Không phải là những phần trong thánh kinh mà tôi không hiểu làm tôi bực mình, mà là những phần mà tôi hiểu (It ain’t those parts of the Bible that I can’t understand that bother me, it is the parts that I do understand.)

PIERRE LAPLACE (1749-1827), Khoa học gia Pháp: * Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. (The telescope sweeps the skies without finding god.)

LUDWIG FEUERBACH (1804-1872), Triết gia Đức: * Bất cứ khi nào mà đạo đức được đặt căn bản trên thần học, quyền của con người tuỳ thuộc vào thần quyền, thì những sự vô đạo đức, bất công, ô nhục nhất có thể được biện minh và thiết lập (Whenever morality is based on theology, whenever right is made dependent on divine authority, the most immoral, unjust, infamous things can be justified and established.)

GEORGE BERNARD SHAW (1856-1950), Nhà viết kịch Anh: * Không phải là không tin thì nguy hiểm cho xã hội của chúng ta, mà chính là sự tin (It is not disbelief that is dangerous to our society, it is belief.) * Đối với tín đồ Ca-Tô, chỉ có hai quốc gia, thiên đường và hỏa ngục; chỉ có hai trạng thái của con người, cứu rỗi hay bị đày đọa (For the Catholic, there are but two countries, heaven and hell; but two conditions of men, salvation and damnation.)

ARTHUR KOESTLER (1905-1983), Triết gia Anh: * Tại Jerusalem, cái bộ mặt giận dữ của thần Gia-vê ấp ủ những phiến đá nóng, những phiến đá đã chứng kiến những cuộc thánh sát, cưỡng hiếp, và cướp bóc nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Dân cư ở đây bị đầu độc bởi tôn giáo (In Jerusalem..the angry face of Yahweh is brooding over the hot rocks which have seen more holy murder, rape and plunder than any other place on earth. Its inhabitants are poisoned by religion.)

ISAAC ASIMOV (1920-1992), Khoa học gia Mỹ: * Đối với tôi, Thiên Chúa có lẽ là một sản phẩm tùy tiện của tâm trí con người; Tôi chắc chắn không tin vào những huyền thoại, vào thiên đường và hỏa ngục, vào Thiên Chúa và Thiên Thần, Sa-Tăng và quỉ (It seems to me that God is a convenient invention of the human mind; I certainly don’t believe in the mythologies of our society, in heaven and hell, in God and angels, in Satan and demons..)

RICHARD FEYNMAN , Vật Lý Gia Mỹ, Giải Nobel: * Thiên Chúa được phát minh ra để giải thích những điều khó hiểu.Thiên Chúa luôn luôn được phát minh ra để giải thích những điều chúng ta không hiểu. Nay, khi sau cùng chúng ta khám phá ra rằng một cái gì đó vận hành như thế nào, chúng ta có những định luật mà chúng ta tước khỏi từ Thiên Chúa, chúng ta không còn cần đến ông ta nữa.(God was invented to explain mystery.God is always invented to explain those things that you do not understand. Now, when you finally dicover how something works, you get some laws which you are taking away from God; you don’t need him anymore.)

GORE VIDAL , Văn sĩ : *Tôi coi chủ nghĩa độc thần là tai họa to lớn nhất đã giáng xuống đầu nhân loại. Tôi không nhìn thấy cái gì tốt ở Do Thái Giáo, Ki tô Giáo hay Hồi Giáo – Có những người tốt, đúng vậy, nhưng tôn giáo nào mà đặt căn bản trên một thần duy nhất điên cuồng, ác độc, thì tôn giáo đó không có ích gì cho nhân loại , còn như , đạo Khổng, không phải là một tôn giáo mà là một hệ thống đạo đức và giáo dục.(I regard monotheism as the greatest disater ever befall the human race.I see no good in Judaism, Christianity or Islam – good people, yes, but any religion based on a single, well, frenzied and virulent god, is not as useful to the human race as, say, Confucianism, which is not a religion but an ethical and educational system.)

ARTHUR SCHLESINGER, Jr., Sử Gia: *Là một sử gia, tôi thú nhận là cảm thấy khôi hài khi tôi nghe người ta ca tụng truyền thống Do Thái – Ki Tô là nguồn gốc của quan niệm về nhân quyền ngày nay.Thật ra thì, những thời đại sùng đạo được nổi tiếng là không hề quan tâm đến nhân quyền. (As a historian, I confess to a certain amusement when I hear the Judeo-Christian tradition praised as the source of our present-day concern for human rights.. In fact, the great religious ages were notable for their indifference to human rights.)

EDWARD ABBEY, Nhà môi sinh Mỹ : *Bất cứ điều gì mà chúng ta thấy khó hiểu thì chúng ta viện đến Thiên Chúa; điều này giữ cho chúng ta khỏi dùng đến đầu óc.Tin vào siêu nhiên là sự thất bại về óc tưởng tượng. (Whatever we cannot easily understand we call God; this saves much wear and tear on the brain tissues.. Belief in the supernatural reflects a failure of the imagination.)
NOAM CHOMSKY, giáo sư MIT : * Tôi có tin vào Thiên Chúa không à ?.. Tôi không hiểu câu hỏi đó. (Do I believe in God ?.. I don’t understand the question.)

PETER WILLIAM ATKINS , Nhà Hóa Học Anh: *Không thể nào là người lương thiện trí thức mà lại tin vào các Thiên Chúa.Và không thể nào tin vào các Thiên Chúa mà lại là những khoa học gia chân chính.(It is not possible to be intellectually honest and believe in gods.And it is not possible to believe in gods and be a true scientist.)

JERRY FALWELL , nhà truyền giáo trên TV (TV evangelist): *Những tín đồ Ki Tô Giáo, giống như những nô lệ và binh sĩ, không được quyền chất vấn (Christians, like slaves and soldiers, ask no questions.)

RICHARD LEDERER, nhà ngữ học Mỹ : *Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] đều tin vào Thiên Chúa, và giáo hội [Công giáo] thống trị. Thời đại đó được gọi là Thời Đại Tăm Tối. (There once was a time when all people believe in God and the Church ruled.This time was called the Dark Ages.)

FRANCIS CRICK , Nhà sinh học, cùng khám phá ra DNA với James Watson : *Nếu những tôn giáo mạc khải đã mạc khải ra những điều gì, thì chúng thường là sai lầm. (If revealed religions have revealed anything it is that they are usually wrong) *Nếu một số điều trong cuốn Kinh Thánh rõ ràng là sai lầm, vậy thì tại sao những điều còn lại lại phải được tự động chấp nhận. (If some of the Bible is manifestly wrong, why should any of the rest of it be accepted automatically)

HARVEY FIERSTEIN , Kịch sĩ Mỹ: *Giáo hội Công giáo là tổ chức duy nhất mà chúng ta biết là dùng tiền của một quỹ nhơ bẩn được tạo lên chỉ để dùng riêng để bồi thường cho những gia đình có con em bị xâm phạm tình dục.Vậy thì luôn luôn hãy nhớ rằng chúng ta không thể xét đoán một người qua cái cổ áo của người đó [các linh mục thường mặc áo chùng thâm với cái cổ cồn trắng] (The Catholic Church is the only organization on record to dispense money from a slush fund set up solely for the paying off of abused children’s families.So always remember you cannot judge a man by his collar.)

JOHN BURROUGHS(1837-1921), Văn hào Mỹ: * Khoa học đã đóng góp cho sự phát triển của nền văn minh Tây phương trong 100 năm nhiều hơn là sự đóng góp của Ki Tô Giáo trong 1800 năm. (Science has done more for the development of Western civilization in 100 years than Christianity in 1800 years.) * Nền văn minh của chúng ta không được xây dựng trên Ki Tô Giáo mà là trên lý trí và khoa học (Our civilization is not founded upon Christianity; it is founded upon reason and science.) * Những người hoài nghi và những người không tin (God của Ki Tô giáo) không bao giờ có thể giết nhau như những tín đồ Ki Tô đã giết nhau (Skeptics and disbelievers could never slaughter each other as the Christians have.)

( Nguồn : sachhiem.net và spaceandmotion.com )
avatar
24/02/2011 08:45:00
Phật ơi, có chuyện vậy sao?
tổng số: 4 | đang hiển thị: 1 - 4

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập