Chỉ Vật Truyền Tâm
Trong Thiền Tổ Sư, thường nói rằng hễ thấy bản tâm xong mới biết tu, còn chưa thấy được thì chỉ là đi mù mờ trong đêm, cứ như chặp sáng chặp tối, không biết gì để tu. Bởi vì, chưa thấy gốc của tâm thì mọi chuyện tu chỉ là tu nơi ngọn của tâm, chỉ mất thêm thì giờ, cho dù là có phước đức. Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng thân và tâm đều là rỗng không, vậy thì lấy gì mà gọi là gốc của tâm, hay ngọn của tâm.
Vâng, nhưng chính nơi cái nhận biết, khi thấy suốt cả trong và ngoài thân tâm đều rỗng không đó, đạo hạnh mới thành tựu, nơi đau khổ phiền não mới tan chảy như tuyết rơi vào lửa. Bởi vì không có chữ nào để gọi cái thấy rỗng không cả trong và ngoài là gì, nên chư tổ mới gọi cái thấy đó là bản tâm. Rằng cái gốc của tâm, nó vốn là không, là rỗng không, là trống trơn, không màu, không hương vị, nhưng rồi sẽ hiển lộ tất cả các màu sắc, các hương vị, các thanh âm trầm bổng vui buồn...
Ngài Bồ Đề Đạt Ma ngồi nhìn vách đá suốt chín năm (thực tế, không ai ngồi suốt 9 năm, nơi đây chỉ là khuyên hãy tinh tấn). Nhà sư Huệ Khả (487-593) tới xin học Thiền, quỳ nhiều ngày dưới tuyết. Truyền thuyết kể rằng Huệ Khả rút dao tự chặt cánh tay (dĩ nhiên là huyền thoại, không có chuyện chặt tay, nhưng đây là nghệ thuật kể truyện để nêu bật chủ điểm), nói: "Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con."
Bồ Đề Đạt Ma nói: "Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho."
Sư Huệ Khả đáp: "Con không thấy tâm đâu cả." (Không thấy tâm mới là tuyệt vời, vì nơi đây mới thấy không có chỗ nào để bấu víu, dù là thấy ta hay người, dù là thấy có hay không, dù là thấy trong hay ngoài, dù là thấy xanh đỏ tím vàng hay trẩm bổng du dương...)
Bồ Đề Đạt Ma nói: "Ta đã an tâm cho con."
Sư Huệ Khả ngay đó liền đại ngộ. (Nếu nói Sư Huệ Khả thấy gì để đại ngộ đều là hỏng, chỉ nên nói đơn giản rằng đã thấy nơi gốc của tâm, nơi gương tâm trong trẻo tự lìa xa tham sân si, nơi viễn ly chữ nghĩa muôn kiếp nghìn đời, nơi quên sạch sành sanh tất cả những gì đã học của muôn kiếp quá khứ, nơi chẳng nhớ gì của hiện tại, và do vậy chẳng muốn gì của tương lai...)
Câu hỏi rằng: vậy thì, làm sao để truyền lại Thiền pháp tâm tông cho đời sau, khi không còn chữ nghĩa nói được? Vậy thì, làm sao truyền được cái cảm xúc khi nhận ra tâm này? Đã là Không, thì làm sao mà truyền?
Truyền Đăng Lục có câu rằng: "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ." Câu này có thể dịch rằng, chỉ vật để truyền tâm, nơi người không hiểu.
Đơn giản, vì chúng ta không thể chỉ vào Không. Chúng ta chỉ có thể chỉ tay vào mây trắng, vào chim bay, vào hoa nở... luôn luôn phải có vật mới chỉ tới, nếu không có vật, thì sẽ không chỉ ra. Do vậy, thỉnh thoảng, chúng ta đọc thấy, khi trả lời câu hỏi Phật Tánh là gì, có sư chỉ vào gốc cây, có sư chỉ vào cánh chim đang bay, có sư bảo là có nghe tiếng chim kêu trên cành không, có sư bảo hãy uống trà đi...
Truyền thuyết kể rằng, thời xa xưa, một lần Đức Phật cầm lên đóa hoa, và ngài Ca Diếp mỉm cười. Niêm hoa vi tiếu là một giai thoại Thiền tông nổi tiếng kể về việc Đức Phật Thích-ca dùng hành động im lặng cầm một cánh hoa lên và mỉm cười, truyền đạt tâm ấn Phật pháp. Truyện ghi rằng Tôn giả Ca Diếp, người duy nhất thấu hiểu và mỉm cười lại, thể hiện sự thông suốt kinh nghiệm Phật tánh vượt ngoài ngôn ngữ. Giai thoại này là nền tảng cho sự truyền thừa của Thiền tông, nhấn mạnh việc khai ngộ không cần lời nói.
Chỉ vật truyền tâm? Đúng vậy. Chỉ vào cánh hoa (như tích Niêm hoa vi tiếu, khi Đức Phật truyền tâm ấn Thiền tông cho ngài Ca Diếp), hay khi các sư chỉ vào gốc cây, chỉ vào cánh chim đang bay, chỉ vào tiếng chim kêu, hay chỉ vào "hãy ngưng mọi chuyện, ngay lúc này, hãy nâng ly trà lên"... Nghĩa là, chỉ ngay vào cái đang được thấy, cái đang được nghe, cái đang được nếm ở bây giờ và ở đây. Ngoài cái đang được thấy, cái đang được nghe, cái đang được cảm thọ, cái đang được nhận biết ngay bây giờ và ở đây thì không có tâm nào khác. Và tức khắc, cái đang nhận biết đó (cái đang được thấy, được nghe, được cảm thọ) liên tục ngay tức khắc biến mất. Bởi vì, cái tâm tự lìa xa tham sân si, tự viễn ly chữ nghĩa muôn kiếp nghìn đời thì Vô Trụ, thì vô trụ xứ vì không có chỗ để trụ. Với tâm không trụ xứ, thì tất cả khoảnh khắc đều là Niết Bàn, bởi vì, ngay cả với dư tàn khổ não buồn vui hay nhức nhối tay chân mình mẩy cũng rồi sẽ là tuyết tan trong lò lửa, nơi tâm này tự hiển lộ vô thường, vô ngã và Không.
Đó là chỉ vật truyền tâm. Nếu không chỉ vật, thì không truyền tâm được. Vì tâm chỉ hiển lộ nơi cái được thấy, cái được nghe... Và "nhân bất hội xứ" nghĩa là "nơi người không hiểu được"... Tại sao?
Trước tiên, nên thấy rằng, còn thấy có cái gọi là "người" thì còn hỏng. Thấy thực tướng các pháp. thì sẽ thấy không có gì gọi là ta hay người. Kinh SN 22.95 ghi lời Đức Phật dạy rằng tất cả các pháp chỉ như đống bọt nước trên sông Hằng, nhìn kỹ thì hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Nơi đó, Phật dạy rằng bất kỳ sắc gì (hay thọ, tưởng, hành, thức gì) dù thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần... nhìn kỹ thì sắc (thọ, tưởng, hành, thức) ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Như thế, sẽ thấy không có gì gọi là ta hay người.
Chữ "bất hội" có nghĩa là "không hiểu" hay đơn giản, "không có kiến thức" gì hết. Khi nói rằng bạn hiểu, nghĩa là bạn dựa vào chữ nghĩa lý luận để bạn đúc kết thành một kiến thức, kiểu như gói đời sống vào mấy dòng chữ. Nói theo kiểu nghệ thuật làm phim, thì sắp xếp của chữ nghĩa lý luận là "công việc hậu kỳ" trong xưởng phim sau khi bạn quay phim, tức thấy và nghe ở ngoài phố. Dĩ nhiên, bạn cần một số kiến thức để làm toán, để lái xe... nhưng đó là chuyện khác.
Nếu bạn nói bạn có kiến thức về nụ hoa hay tiếng chim kêu, thì nụ hoa và tiếng chim kêu không còn là nụ hoa và tiếng chim nữa. Nó là kiến thức hậu kỳ trong xưởng phim, nó không còn là cái được thấy và cái được nghe quay từ ngoài phố nữa. Chính khi bạn đúc kết thành một kiến thức, thì đời sống biến mất.
Hãy sống Như Thị, vì trong Như Thị thì không có thấy, mà chỉ có cái được thấy. Tương tự, trong Như Thị thì không có nghe, mà chỉ có cái được nghe. Và tất cả đều biến mất trong từng khoảnh khắc, và từng khoảnh khắc đó là xa lìa quá khứ, xa lìa vị lai vả cả xa lìa hiện tại.
Nơi cái vô thường chớp nhoáng đó, nơi đó kiến thức sẽ tự khai tử, và vô thường chính là cái thường trụ, nơi đó là vô ngã, là Không, và là nơi xa lìa tất cả tham sân si, vì không có tâm nào hiển lộ nữa, chỉ còn cái tịch lặng, cái vô ngôn. Đó là nơi cái được thấy chỉ là cái được thấy và là nơi cái được nghe chỉ là cái được nghe, nơi dòng vô thường chảy xiết qua thân tâm, và là nơi không có gì để gọi là thân hay tâm.
Do vậy, cổ đức gọi ngộ được tâm này chính là "nơi người không hiểu" (nhân bất hội xứ), hay nói đơn giản: nơi tâm này thường trực thấy không có người, và tâm này thường trực thấy không có kiến thức nào để hiểu. Đó chính là Thiền Tổ Sư: chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ.
Do vậy, chính trong cái Tâm Không Biết, thì vô lượng cái Được Biết mới hiển lộ. Nơi đó, sẽ không có chỗ cho kiến thức, vì nỗ lực gói đời sống sinh động này vào vài dòng chữ sẽ chỉ làm hỏng mọi thứ.