Đọc thêm về Thiền Sư Tì-ni-đa-lưu-chi
Nơi đây, chúng ta sẽ đọc thêm về Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi, người sau khi đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán đã sang Việt Nam hoằng pháp, và do vậy ngài Tì-ni-đa-lưu-chi là người trong Thiền sử Việt Nam có liên hệ gần nhất với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Thoạt đọc, tông chỉ Thiền của ngài Tì-ni-đa-lưu-chi có vẻ như xa lại với các Kinh Nikaya trong Tạng Pali và như thế cũng xa rời các Kinh A Hàm trong Hán Tạng. Nhưng khi đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy trong đó có liên hệ với rất nhiều kinh mà các học giả gọi đó là truyền thống Nam Tông.
Ngài Tì-ni-đa-lưu-chi (tiếng Phạn: Vinītaruci; ? – 594), là một Thiền sư người Ấn Độ, từng sang Trung Quốc tham học và là môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán. Cuối đời ngài tới Việt Nam truyền pháp và được tôn xưng là Tổ khai sáng thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi tại Việt Nam.
Thầy là người Ấn Độ, thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Thầy thuở nhỏ đã có ý chí khác thường, đi khắp mọi nơi cầu học Phật Pháp. Năm 574, Thầy sang Trung Quốc và nhân đây có cơ hội yết kiến Tam tổ Tăng Xán tại núi Tư Không. Thấy cử chỉ uy nghiêm của Tổ, Thầy bỗng đem lòng kính mộ, đứng trước vòng tay cung kính. Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Thầy đứng im suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tự ngộ, liền quỳ xuống lạy ba lạy. Tổ thấy vậy cũng chỉ gật đầu ba lần. Thầy muốn đi theo hầu Tổ nhưng Tổ lại khuyên đến phương Nam giáo hóa.
Chỗ này, chúng ta có thể suy luận rằng, ngài là một nhà sư Ấn Độ, nhiều năm học, tu, thiền định và trong lòng còn chỗ thắc mắc về Phật Pháp, nên đã đi sang Trung Quốc, rồi trong mộtc ơ duyên tới vấn đạo ngài Tăng Xán. Tổ Tăng Xán ngồi im, một chặp, ngài Tì-ni-đa-lưu-chi suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tự ngộ. Như vậy, là ngộ gì? Ngài Tì-ni-đa-lưu-chi đã có nhiều năm thiền định, có thắc mắc trong lòng, có thể khi đứng im như thế (và lắng nghe vị Thầy đang im lặng), bỗng nhiên thấy tâm hỷ lạc, thấy xa lìa tham sân si. Chúng ta chỉ suy đoán thôi, không thể đoán được trong tâm các vị thầy thế nào.
Ngài Tì-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam khoảng cuối thế kỉ thứ 6 (khoảng năm 580 dương lịch), cư trú tại chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu, Bắc Ninh ngày nay). Nơi đây ngài dịch bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì sau khi đã dịch xong bộ kinh Tượng đầu tinh xá tại Trung Quốc.
Trước khi tịch, ngài Tì-ni-đa-lưu-chi gọi đệ tử là Pháp Hiền đến và phó chúc: "Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn như thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi... Tổ Tăng Xán khi Ấn khả chứng minh tâm này cho ta bảo ta mau về phương Nam giáo hóa. Đã trải qua nhiều nơi nay đến đây gặp ngươi quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến."
Nói xong, ngài chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, thâu Xá-lợi và xây Tháp thờ cúng, năm 594. Nghĩa là, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi ở Việt Nam 14 năm.
Truyền thống ghi lời nhiều vị thầy cho rằng Ngài là tổ Thiền tông Việt Nam. Nhưng cũng có khuynh hướng cho rằng ngài Khương Tăng Hội mới là người khởi xướng dòng thiền tại Giao Chỉ. Dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi lấy kinh Tượng đầu tinh xá làm nền tảng, chú trọng tư tưởng Bát-nhã và tu tập thiền quán. Phái thiền này để lại ảnh hưởng rất lớn lên các vua đời nhà Lý như Lý Thái Tông.
Chúng ta có thể suy đoán rằng trong 14 năm ngài ở Việt Nam, ngoài việc dịch kinh, có thể ngài cũng viết một số văn bản khác, hay nói nhiều lời dạy khác cho tứ chúng môn đệ ở Việt Nam. Nhưng trải qua 15 thế kỷ sau, chúng ta chỉ còn một số lời dạy rất ngắn, trong đó lời ngài nói về "Tâm ấn Chư Phật" được ghi lại trong sách Thiền uyển tập anh, khi ngài truyền pháp cho đệ tử.
Toàn bộ các câu văn ngài để lại là một bản tóm lược tư tưởng Thiền Tông, phù hợp với hệ thống Kinh Bát Nhã và tư tưởng Trung Luận của Long Thọ. Thiền Tông tin rằng tuy rằng học nhân phải mất nhiều năm tu học, nhưng người đã trực ngộ Tâm ấn chư Phật sẽ thấy rằng tu không phải là ngồi hay đứng, không phải là cứ sáng tụng kinh và chiều ngồi thiền. Tu hành nên là, để tâm tương ưng. Nghĩa là, ngộ trước, rồi sau đó mới gọi là tu thực sự.
Tâm ấn của chư Phật là gì? Chúng ta thường nghe rằng Thiền Tông là tu pháp vô tâm, hiểu là không tâm; nhưng nếu mang nghĩa đen là không-tâm thì lấy gì mà tu? Nơi đây muốn nói là Tâm Niết Bàn, tâm giải thoát, tâm xa lìa tham sân si, y hệt mặt gương không dính bụi, nên cứ ngỡ là tâm không lưu ảnh là tâm vô tâm.
Chúng ta có thể nhắc tới sự tích lần đầu tiên Huệ Năng khi còn là một thanh niên cư sĩ họ Lư từ miền núi rừng xa xăm tới tìm gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Lúc đó, Ngũ Tổ hỏi: "Người Lĩnh Nam không có Phật tánh, làm sao làm Phật được?" Chàng cư sĩ họ Lư nói: "Người thì có Nam - Bắc, Phật tánh há cũng vậy sao?" Phật tánh trong đoạn đối thoại này có thể hiểu là Tâm ấn chư Phật, nơi đây là một pháp vô vi, vô ngã, không hề có gì là tôi hay của tôi.
Câu “Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối” là muốn nói tới dấu ấn của tâm, tức là tâm chân thật mà chư Phật cùng chứng ngộ. Như thế, đây không phải là một vật gì để truyền, mà là thầy xác nhận học trò đã trực nhận bản tâm. Khi nói tới tâm ấn này “không có lừa dối” nghĩa là chân lý này không thay đổi theo thời gian hay quốc độ. Thực tại thì không bao giờ nói dối.
Khi nói “Tròn như thái hư” là một cách so sánh: Thái hư là hư không vô tận. Tâm giác ngộ được ví như bầu trời (bạn có thể kinh nghiệm, khi một vài giây phút nào đó, tâm của bạn vắng lặng, xa lìa tham sân si): tâm giải thoát không bị ràng buộc, không có biên giới, không bị vật gì ngăn ngại (nếu tâm bạn không còn bám víu vào tất cả những cái được thấy nghe hay biết), và tâm bạn lúc đó như gương sáng dung chứa mọi hiện ảnh mà không bị ô nhiễm.
Lúc đó, gọi tâm bạn là Không cũng được, vì không lưu giữ bất kỳ những gì bạn thấy, nghe, ngửi, nếm, vân vân. Lúc đó, gọi tâm bạn là Có, là bao trùm khắp thế giới cũng được, vì tâm bạn không ngăn cản, không kình chống bất cứ những gì tới với mắt, tai, mũi, lưỡi, vân vân của bạn.
Tâm như thế có thể gọi là “Không thiếu không dư,” bởi vì nếu thiếu thì phải đi tìm, nếu dư thì tràn ngập ra. Không hề có gì là thiếu hay dư đối với một tâm chiếu sáng như gương. Hình ảnh so sánh tâm với gương là từ hai bài kệ của ngài Thần Tú và của ngài Huệ Năng khi trình bày hiểu biết cho Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.
Thần Tú viết bài kệ lên vách tường hành lang, so sánh thân người như cây Bồ-đề và tâm như tấm gương sáng, người tu hành phải lo lau bụi, giữ tấm gương luôn luôn được trong sáng. Trong khi đó, Huệ Năng vì không biết chữ nên nhờ người viết bài kệ của mình lên vách rằng: Bồ-đề vốn chẳng phải cây / Gương sáng chẳng phải đài / Xưa nay vốn không phải vật / Nơi nào dính bụi trần?
Thiền Tông nói rằng: Tâm giải thoát chưa bao giờ mất, và do vậy tu hành không phải thêm cái gì mới mà là buông bỏ vô minh để trí tuệ hiển lộ, và nơi đây tham sân si nhiều đời được ví như bóng tối trong căn phòng sẽ biến mất, ngay khi ngọn đèn trí tuệ thắp sáng.
Tại sao nói rằng tâm này “Không đi không lại”? Đây là ngôn ngữ quen thuộc của tư tưởng Bát Nhã. Thật tướng các pháp không thật sự từ đâu đến hay đi đâu. Đứng Phật từng so sánh thân tâm chúng ta vô ngã, y hệt như bọt sóng trên sông, như ráng nắng, như ảo ảnh, như trò ảo thuật. Vậy thì lấy gì mà nói có đi, có lại. Do duyên mà hiện ra, hết duyên thì biến mất. Một đợt sóng nổi lên rồi tan. Ta nói sóng đến rồi đi, nhưng trong thực tướng của nước chưa từng đến hay đi. Tâm cũng y hệt như thế. Do vậy, khi các Thiền sư nói rằng Thấy tánh mới thành Phật, cũng có nghĩa là thấy tâm vốn vô tự tánh thì là Phật.
Do vậy, còn gọi là “Không được không mất.” Không lẽ có chuyện hôm nay được đạo, rồi ngày mai có thể mất đạo? Phật tánh chưa từng sinh nên cũng chưa từng mất. Cảnh giác: các thầy Bắc Tông dùng chữ Phật Tánh, nhưng thầy Nam Tông dùng chữ tâm vô vi, tâm không bị các pháp hữu vi ảnh hưởng.
Lời dạy cũng nói rằng tâm này “chẳng một chẳng khác”; Đây là cái thấy Trung đạo. Nếu nói tâm ấn (hay tâm giải thoát) là “một”, thì không giải thích được sự sai biệt của muôn vật. Nếu nói hoàn toàn “khác”, thì không thấy được tính duyên khởi. Khi nói có pháp nào là một hay khác, là nói về pháp hữu vi. Chỉ vào gương sáng của tâm giải thoát thì sẽ thấy là Không, và không thể gọi là Có, và khi đã xa lìa cả Có và Không thì không gọi được là một hay nhiều. Tương tự, trăm ngàn ngọn sóng khác nhau, nhưng đều là nước.
Tâm này “chẳng thường chẳng đoạn.” Kinh Phật dạy các pháp hữu vi là vô thường, nhưng pháp vô vi (tâm giải thoát) không phải thường, không phải đoạn. Đức Phật dạy Lý duyên khởi, trong đó không thể gọi là thường vì không có gì vĩnh cửu, không thể gọi là đoạn vì hư vô chủ nghĩa là sai. Do vậy, chúng ta phải tu, và phải cảnh giác, vì không phải chết là hết, vì dòng nhân quả vẫn tiếp nối. Điều này chính là Trung đạo mà Đức Phật đã giảng trong nhiều bài kinh.
Khi nói tâm ấn chư Phật “vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt” là một ý rất gần với Bát Nhã Tâm Kinh: “Bất sinh bất diệt.” Sinh và diệt chỉ là cách nói theo thế gian. Không có gì là sinh và diệt, vì thực tướng các pháp là vô ngã. Bởi vì các pháp vô tự tánh, nên trong thực tướng là bất động, đúng ra là không thể gọi là động hay tĩnh, và do vậy hoàn toàn “Cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa” hay bất kỳ ngôn ngữ nào có thể mô tả.
Do vậy, nếu nói chân tâm ở rất xa thì là hỏng. Nếu nói chân tâm hoàn toàn rất gần để nắm bắt được cũng sai. Bởi vì ngay khi tìm kiếm nó như một đối tượng thì đã mất; và ngay khi buông mọi phân biệt thì sẽ thấy nó vốn hiện tiền. Vạn pháp như thế là như thế.
Và rồi, “vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi” -- nghĩa là, gọi bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, định nghĩa nào thì cũng là hỏng. Chỉ tạm gọi Tâm giải thoát này là Tâm ấn, Phật tánh, Niết-bàn, Chân như và vân vân. Tên gọi được lập ra để hướng dẫn người còn mê, y như ngón tay chỉ mặt trăng. Khi đã thấy mặt trăng, thì đừng bận tâm về ngón tay rằng ngón tay này là Nam truyền hay Bắc truyền. Đừng bận tâm nắm giữ ngón tay, khi đã thấy trăng. Tương tự, cũng đừng tranh luận và mang vác chiếc bè tre hay bè gỗ, vì khi đã sang bờ kia, tất cả đều cần buông hết.
Nghĩa là, người nào buông hết, không dựng lập bất kỳ tâm nào, không bám víu bất kỳ pháp nào, thì giải thoát. Trong ý của “Không đi không lại” còn có ý phá chấp của thế gian là có cái tự ngã nào đó cần giải thoát, nhưng Đức Phật trong rất nhiều kinh đã nhiều lần phủ nhận ý niệm có một thực thể đi từ đời này sang đời khác. Bởi vì người thấy Duyên khởi sẽ không còn chấp có hay không, và do vậy không thấy có đến hay đi. Do vậy, không hề có một thực thể thường hằng đi từ nơi này sang nơi khác.
Thiền Tông nói rằng tất cả các pháp hiển lộ qua tâm mình, và khi bạn thấy bản chất rỗng không trong mọi thứ, lúc đó bạn thấy được tâm ấn. Nghĩa là, vô ngã, hay vô tự tánh chính là tâm ấn. Tâm bạn là tấm gương phản chiếu mọi thứ; ảnh tới và đi, nhưng tánh phản chiếu vẫn bất động. Hãy giả sử rằng bạn yêu thích âm thanh từ một cây đàn. Các kinh (như, Tương Ưng Kinh SN 35.246) nói rằng nếu bạn tìm cách chụp bắt tiếng đàn bằng cách chẻ đàn ra trăm mảnh, bạn sẽ không tìm ra. Tương tự (như, Kinh Na Tiên Tỳ Kheo) bạn có thể thấy không có tự ngã nào trong thân và tâm, và thấy không hề có cái gì gọi là xe trong một cỗ xe.
Thấy tất cả các pháp đều vô ngã, vô tự tánh, rỗng rang không một pháp, thì còn cần gì mà tu nữa. Nói là tu gì nữa, nghĩa là còn nắm giữ, còn bám víu, còn chấp vào một cái gì gọi là có thể sở đắc. Trong Tạng Pali có Kinh Susīma Sutta (Tạng A Hàm còn gọi là Kinh Tu-thâm), có ký số SN 12.70. Không có gì để tu hết, đó là tông chỉ Thiền Tông: chỉ cần thường trực thấy tâm ấn chư Phật.
Chư Tổ thường nói, đừng mài gạch làm gương. Ý này là để nhắc môn đệ rằng không hể có cái gì cần phải kiếm được, vì vốn các pháp là không hề thiếu và không hề dư, và đã hàm chứa trong bản tâm các pháp giải thoát viên mãn rồi. Các Nikāya không dùng chữ “viên mãn” nhưng nói rõ rằng tâm chúng sanh bị tham, sân, si che lấp, và khi các lậu hoặc diệt tận thì giải thoát, không cần phải tạo thêm hay phải tích lũy thêm bất kỳ cái gì. Đó là ý: không thiếu, không dư.
Chúng ta có thể đối chiếu lời của ngài Tì-ni-đa-lưu-chi với Kinh Ud 8.3 trong Tạng Pali: “Này các Tỷ-kheo, có cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị chi phối bởi điều kiện [do duyên]. Này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị chi phối bởi điều kiện, thì sẽ không thể thấy được sự giải thoát khỏi những gì sinh, hiện hữu, bị tạo tác và bị chi phối bởi điều kiện. Nhưng vì có cái không sinh, không hiện hữu, không bị tạo tác, không bị chi phối bởi điều kiện, nên có thể thấy được sự giải thoát khỏi những gì sinh, hiện hữu, bị tạo tác và bị chi phối bởi điều kiện.”
Tới đây, chúng ta có thể đối chiếu thêm một số lời Đức Phật dạy trong Kinh Nikaya và A Hàm với lời dạy của Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Thế nào là tâm ấn chử Phật?
Trong Kinh Sabba Sutta (Kinh Tất Cả, ký số SN 35.23), theo bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi lời Phật dạy là: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!”
Như thế, trong Kinh Sabba Sutta, Đức Phật đã cắt đứt ngay ý niệm có một cái ngã đứng phía sau sáu căn. Nơi đó, không có ai đến, không có ai đi.
Có nghĩa là, như Thiền Tông nói kiểu tượng trưng, tất cả thế giới này là tâm. Bạn không là gì cả, bạn là vô ngã, bạn là vô tự tánh, nhưng tâm bạn khởi lên thế giới. Hya nói cách khác: thế giới khởi lên trong tâm bạn. Bạn là những gì bạn thấy và nghe. Nếu không thấy và không nghe như thế, bạn sẽ chấp rằng bạn là cái gì đó. Nếu bạn thấy thực tướng là vô ngã, là vô tự tánh (y hệt như gương soi, hay như bầu trời hư không) thì tất cả đều là mắt và cái được thấy, đều là tai và cái được nghe, và vân vân.
Nhìn về mặt khác, ý chỉ Thiền Tông cũng hiển lộ trong Kinh Bahiya Sutta (Kinh Udāna 1.10).
Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng: "Này Bāhiya, ông nên tập luyện như thế này: Trong cái được thấy, chỉ có cái được thấy; trong cái được nghe, chỉ có cái được nghe; trong cái được cảm nhận, chỉ có cái được cảm nhận; trong cái được nhận thức, chỉ có cái được nhận thức. Đó là cách ông nên tập luyện, này Bāhiya.
“Và vì đối với ông, này Bāhiya, trong cái được thấy chỉ có cái được thấy, trong cái được nghe chỉ có cái được nghe, trong cái được cảm nhận chỉ có cái được cảm nhận, trong cái được nhận thức chỉ có cái được nhận thức, nên ông sẽ không gắn liền với điều ấy; và vì ông không gắn liền với điều ấy, nên ông sẽ không ở trong điều ấy; và vì ông không ở trong điều ấy, nên ông sẽ không ở đời này, đời sau, hay ở khoảng giữa hai đời—chính điều này là sự chấm dứt khổ đau.”
Chỗ này cần chú ý: khi cái được thấy, cái được nghe... chỉ là cái được thấy, cái được nghe thì ông không là ở trong đó, không ở trong đời này, đời sau, hay ở khoảng giữa hai đời—chính điều này là sự chấm dứt khổ đau... Tuyệt vời. Chỉ cần thấy như thế thôi. Không là ‘ở đây’, không là ‘ở kia’, không là ‘ở giữa hai bên’ và không ở bất kỳ đâu cả. Đó là Tâm ấn chư Phật vậy, nơi không đến, không đi, không trong, không ngoài.
Bạn có thể nhớ lại, trong Thiền sử Việt Nam có hai bài kệ chỉ ra ý chỉ của Kinh Bahiya Sutta. Bài kệ của Vua Trần Nhân Tông dài bốn câu, cuối bài phú Cư Trân Lạc Đạo. Và bài thơ bốn câu của Thiền sư Phước Hậu:
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Năm nay tính lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.
Thiền Tông có thể giải thích thành ra thiên kinh vạn quyển, nhưng nếu chỉ cần nhớ ngắn gọn, riêng chỉ cần bài Bát Nhã Tâm Kinh là đủ, hoặc rút về một chữ "Như" ghi trong bài thơ của ngài Phước Hậu, và tất cả cũng đều chỉ vào lời dạy về Tâm ấn chư Phật của ngài Tì-ni-đa-lưu-chi.
Độc giả còn ngờ vực, xin mời đọc thêm về các giải thích này trong sách song ngữ Thiền Tông Việt Nam (The Way of Zen in Vietnam) ở đây:
https://thuvienhoasen.org/p30a34037/phan-1-
Tất cả đều là Thiền pháp thực dụng, không phải lý thuyết.