Đạo Phật Ngày Nay

Người Con Của Đức Phật

Trong Kinh MN 141, Đức Phật dạy rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Này các Tỷ-kheo, hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna, Này các Tỷ-kheo, hãy gần gũi Sāriputta và Moggallāna; các vị ấy là những Tỷ-kheo hiền trí (pandita), là những vị sách tấn các đồng Phạm hạnh. Như một sanh mẫu, này các Tỷ-kheo, như vậy là Sāriputta! Như một dưỡng mẫu, như vậy là Moggalana! Này các Tỷ-kheo, Sāriputta hướng dẫn đến quả Dự lưu, còn Moggallāna hướng dẫn đến tối thượng nghĩa. Này Tỷ-kheo, Sāriputta có thể khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt hiển lộ một cách rộng rãi bốn Thánh đế." (1)

Ngôn ngữ thay đổi tùy theo thời kỳ và khu vực. Điều thấy rõ là, ngôn ngữ người Bắc, Nam và Trung có dị biệt, và người thế kỷ trước hẳn là nói khác với người của thời hiện nay. Cách xưng hô cũng như thế. Trong khi người phương Nam có nơi gọi ba là tía, người phương Bắc có nơi gọi là thầy, là bố. Tương tự, nơi các môi trường: chúng ta quen với cách xưng hô cũng thay đổi theo các thời gian bước vào trường học và trường đời.

Khi vào tiểu học và trung học, chúng ta thường tự xưng là "con" khi nói chuyện với thầy cô, và khi vào đại học tự nhiên xưng là "em" khi gặp các vị giáo sư. Bước chuyển biến tự nhiên đó, có khi là một bước nhảy vọt, khi chúng ta thấy ở các nơi khác, trong môi trường khác, thí dụ nơi công quyền, người học trò cũ có khi phải xưng là "tôi" cho dù là cảm thấy hơi kỳ kỳ.

Chúng ta hãy hình dung một câu chuyện như thế này. Giả sử người cha của chúng ta, một hôm gọi con lại, nói rằng cha để lại một di sản quý giá nhất trên trần gian này cho con. Người con, thương cha rất mực, và chưa hiểu hết di sản kia là gì, cho dù tin lời cha rằng không có gì quý hơn nữa, hỏi cha rằng: "Thưa cha, tôi không hiểu, xin giải thích di sản đó quý thế nào."

Kỳ lạ. Chúng ta, người Việt, hẳn là không bao giờ xưng "tôi" với cha hay với mẹ như thế. Chúng ta sẽ xưng là "con" và sẽ dịu dàng hỏi về di sản quý giá nhất trần gian đó. Hãy hình dung di sản đó là giáo lý nhà Phật, và người cha kia là Đức Phật, hay là vị Thầy bổn sư... Các bản kinh khi đã dịch ra tiếng Việt đều cho người hỏi xưng là "con" -- nhưng các bản tiếng Anh đều viết là "I" (tôi) vì không có đại danh từ khiêm hạ.

Trẻ em gốc Việt tại Hoa Kỳ đôi khi xưng hô cũng vướng như thế, nếu các em không có ai hướng dẫn cách xưng hô và nếu các em chỉ đọc Kinh Phật qua các bản tiếng Anh. Chúng ta nên nói với các em rằng các bản dịch tiếng Anh dù chính xác cỡ nào, cũng không chuyển được tinh thần Đức Phật muốn chúng ta hãy mang ơn Tam Bảo y như chúng ta được sinh ra từ ơn phước đó. Đó là, Đức Phật dạy rằng Phật tử chúng ta hãy nhìn vị Thầy bổn sư, và hãy nhìn các vị tăng ni khác đang hoằng pháp nơi cõi này, cũng ở vị trí như người mẹ của mình. Tình cờ, các bản Kinh tiếng Việt ghi được tinh thần đó của lời Đức Phật, trong khi các bản tiếng Anh đã mất đi chữ "con" trong ý nghĩa người chào đời trong cõi này.

Trong Kinh MN 141, Đức Phật dạy rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Này các Tỷ-kheo, hãy thân cận Sāriputta và Moggallāna, Này các Tỷ-kheo, hãy gần gũi Sāriputta và Moggallāna; các vị ấy là những Tỷ-kheo hiền trí (pandita), là những vị sách tấn các đồng Phạm hạnh. Như một sanh mẫu, này các Tỷ-kheo, như vậy là Sāriputta! Như một dưỡng mẫu, như vậy là Moggalana! Này các Tỷ-kheo, Sāriputta hướng dẫn đến quả Dự lưu, còn Moggallāna hướng dẫn đến tối thượng nghĩa. Này Tỷ-kheo, Sāriputta có thể khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt hiển lộ một cách rộng rãi bốn Thánh đế." (1)

Sanh mẫu là mẹ, dưỡng mẫu là người nuôi. Bản dịch Sujato ghi rằng, "Sāriputta is like one who gives birth" (Xá lợi phất cũng như người sinh đẻ ra chúng ta), và "Moggallāna is like one who raises the child" (Mục kiền liên y hệt như người nuôi lớn đứa trẻ). Bản dịch ngài Suddhaso dịch là, "Sāriputta is like a parent, Moggallāna is like a babysitter" (Xá lợi phất như ba mẹ, Mục kiền liên như người giữ trẻ). Nghĩa là, di sản Tứ Thánh Đế quý gia vô lượng, làm cho chúng ta sinh ra trong dòng các vị thánh, đưa chúng ta bước lên con đường giải thoát. Chỉ có ngôn ngữ Việt với chữ "con" giữ được tinh thần đó.

Có thể, chúng ta chỉ nói là có thể, cũng có vài ngôn ngữ khác cũng có đại danh từ khiêm hạ như thế; chỗ này, hy vọng các nhà ngôn ngữ học tra cứu giùm chúng ta. Nhưng hiển nhiên là, tiếng Anh thì chuyện gì cũng xưng là "tôi" hết, làm người Việt "cổ hủ" như người viết cứ thấy là vương vướng.

Đối chiếu với Hán Tạng, Kinh EA 27.1 được hai Thầy Tuệ Sỹ, Đức Thắng dịch cũng có đoạn, trích: «Tỳ-kheo các ngươi, hãy thân cận Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, và thừa sự cúng dường. Sở dĩ như vậy là vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là cha mẹ sinh ra chúng sanh. Đã được sanh, rồi người dưỡng cho lớn khôn là Tỳ-kheo Mục-kiền-liên. Sở dĩ như vậy là vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã vì mọi người nói pháp yếu, thành tựu bốn đế; Tỳ-kheo Mục-kiền-liên đã vì mọi người nói pháp yếu, thành tựu đệ nhất nghĩa, và thành tựu hành vô lậu. Vì vậy các ngưoi hãy thân cận Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên.» (2)

Nghĩa là nơi đây, Đức Phật dạy cũng hệt như Kinh MN 141. Trong Trung A Hàm cũng thế, văn cú hơi khác, nhưng tinh thần cũng như thế, theo Kinh MA 31, bản dịch Tuệ Sỹ, trích: "“Tỳ-kheo Mục-kiền-liên có khả năng làm cho đứng vững nơi chân tế tối thượng, nghĩa là cứu cánh lậu tận. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất sanh ra các đồng phạm hạnh, cũng như sanh mẫu; Tỳ-kheo Mục-kiền-liên trưởng dưỡng các đồng phạm hạnh cũng như dưỡng mẫu. Do đó các đồng phạm hạnh nên phụng sự, cung kính cúng dường, lễ bái Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên mong cầu phước lợi và thiện ích, cũng cầu sự an ổn và khoái lạc cho các đồng phạm hạnh”."(3)

Cái tinh thần nói rằng các bậc thánh là con sinh ra từ lời Đức Phật đã ghi rõ trong Kinh SN 16.11, trong lời của ngài Ma-ha Ca-diếp nói với ngài Ananda, trích bản dịch của Thầy Minh Châu: "Và này Hiền giả, nếu ai có nói về ta một cách chơn chánh, thời ta là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đã nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ." (4)

Nghĩa là, với ngài Ma-ha Ca-diếp, cũng như với tất cả những người học đạo như chúng ta, nếu chúng ta thực tâm tu học, thì chúng ta là "con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp" -- thế mới thấy, ngôn ngữ Việt tuyệt vời ưu thắng. Ngay nơi cách xưng hô là "con" đã hàm chứa vô lượng thắng nghĩa rồi.

Trong khi ngài Ma-ha Ca-diếp tự nhìn thấy như thế, ngài Xá lợi phất được Đức Phật khen ngợi trong Kinh MN 111 như sau, trích bản dịch của Thầy Minh Châu: "Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”. Nói một cách chơn chánh về Sāriputta, người ấy có thể nói như sau: “Sāriputta là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”." (5)

Thử suy nghĩ thêm: chữ "Buddhist" trong tiếng Anh có nghĩa là người theo Phật giáo. Nghĩ đi nghĩ lại, bạn sẽ thấy chữ đó không hay, không mang tinh thần kinh điển. Trong khi chữ "người con Phật" hay chữ "Phật tử" rất mực tuyệt vời, nói đúng tinh thần người con chân chính của Đức Thế Tôn. Chữ "Phật tử" là từ gốc Hán-Việt, đã sáp nhập vào kho tàng ngôn ngữ của dân tộc Việt từ lâu. Không rõ có dân tộc nào cũng có ngôn ngữ mang tinh thần kinh điển như chúng ta hay không? Nhưng không tự nhiên mà nghĩ ra các chữ này để xưng hô. Hẳn phài là tu nhiều kiếp mới có cơ duyên thuần thành như thế vậy.

Bây giờ, vấn đề quy về điều chủ yếu: bản thân chúng ta đã sống như thế nào, đã học, đã tu, đã thực hành như thế nào để có thể xứng đáng là người con của Đức Phật. Thời giờ trôi nhanh. Vô thường không đợi ai. Tất cả chúng ta hãy tinh tấn để chính danh là "con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp" y hệt như lời Đức Phật khen ngợi ngài Xá lợi phất.

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 141: https://suttacentral.net/mn141/vi/minh_chau

(2) Kinh EA 27.1: https://suttacentral.net/ea27.1/vi/tue_sy-thang

(3) Kinh MA 31: https://suttacentral.net/ma31/vi/tue_sy

(4) Kinh SN 16.11: https://suttacentral.net/sn16.11/vi/minh_chau

(5) Kinh MN 111: https://suttacentral.net/mn111/vi/minh_chau

Bình luận