Học lời Phật dạy qua Kinh A Di Đà

Đã đọc: 331           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Để đến được thế giới gọi là Cực Lạc, người học Phật phải sống trong chánh niệm. Danh từ Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Kinh được lặp lại rất nhiều trong Kinh văn A Di Đà. Hành trị Niệm giúp cho người tu có được Định và Tuệ. Có Tuệ giác, ta có được năng lực đưa ta đến cõi Cực Lạc. Cõi đó không ở đâu xa, ngay nơi chúng ta đang sống.

佛說阿彌陀

Phật thuyết A Di Đà Kinh

Nam mô A Di Đà Phật,

Kinh “ Phật thuyết A Di Đà Kinh[i]”, hay còn được gọi là Kinh A Di Đà, là Kinh được Phật tử tụng phổ biến. Kinh A Di Đà thường được in ấn ở bản dịch âm tiếng Hán có nhiều từ Nôm khó hiểu. Phật tử Hoàng Phước Đại, pháp danh Đồng An, biên soạn, dịch thuật chú giải để các Phật tử có thể hiểu rõ hơn lời Phật dạy trong Kinh A Di Đà.

Trong quá trình biên soạn, tôi có sử dụng các dữ liệu từ các bài giảng của quý thầy để biên soạn được chính xác. Mong quý thầy hoan hỉ.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Đoạn kinh thứ 1 :

1.     原文

如是我聞。一時佛在舍衛國,祇樹給孤獨園。與大比丘僧,千二百五十人俱,皆是大阿羅漢,眾所知識:長老舍利弗、摩訶目犍連、摩訶迦葉、摩訶迦旃延、摩訶俱絺羅、離婆多、周利槃陀伽、難陀、阿難陀、羅侯羅、憍梵波提、賓頭盧頗羅墮、迦留陀夷、摩訶劫賓那、薄拘羅、阿那樓馱,如是等諸大弟子。

并諸菩薩摩訶薩:文殊師利法王子、阿逸多菩薩、乾陀訶提菩薩、常精進菩薩,與如是等諸大菩薩。及釋提桓因等,無量諸天大眾俱。

2. Dịch âm

Như thị ngã văn. Nhất thời Phật tại Xá-Vệ quốc, Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức:

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử.

Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát, cập Thích Đề Hoàn Nhơn đẳng, vô lượng chư thiên đại chúng câu.

3. Dịch nghĩa

Đây là những điều tôi đã được nghe Phật nói. Một thời Phật còn cư trú  tại nước Xá Vệ, ở tu viện Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Thụ Cấp Cô Độc. cùng với các vị đại Tỳ kheo, một ngàn hai trăm năm mươi vị, Đều là những đại A La Hán ai cũng biết đến: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di,Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà, là những đệ tử lớn của Phật.

Cùng các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều có mặt.

4. Chú giải

Như vầy tôi nghe, là lời khẳng định của thầy Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng nguyên văn những gì thầy Ananda nghe được từ Phật. Thầy Ananda nói với đại chúng rằng Kinh A Di Đà  được Phật thuyết giảng kinh vào thời điềm Phật ở nước  Xá Vệ, tại tu viện thuộc khu rừng có tên là  Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.  Tham dự buổi thuyết giảng này có  một ngàn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo các vị này đều là các vị đã chứng đắc quá A La Hán, và uy danh đều được mọi người biết đến. Các vị đó là :

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạt Câu La, A Nậu Lâu Đà, các thầy đều là các đệ tử lớn của Phật.

Lại có các vị đại Bồ Tát như: Pháp Vương Tử, Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát A Dật Đa, Bồ Tát Thường Tinh Tấn... các vị đại Bồ Tát như thế, cùng với vua cõi trời là Đe Thích và vô số chư thiên, đại chúng cùng quy tụ.

Như thị ngã văn (如是我聞), dịch là "Như vầy tôi nghe ”,  đây là lời khẳng định của Ananda ( một thị giả của Phật), người đã nghe Phật thuyết giảng và đọc lại kinh này cho đại chúng nghe. Ananda nói đúng nguyên văn những gì ngài nghe được từ Phật.

Nhất thời (一時,) dịch nghĩa là "một thời", nêu thời điểm Phật ( 佛 ) thuyết giảng kinh.

Tại Xá Vệ quốc ( 在舍衛國) dịch là ở nước  Xá Vệ,

Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên (  祇樹給孤獨園,) dịch là Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô Độc tên thật là Tu Đạt Đa (Sudatta), do ông hay làm từ thiện bố thí, cứu giúp những người nghèo khổ, những người cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc. Cấp Cô Độc muốn mua vườn của Thái tử Kỳ Đà để xây dựng tu viện thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử bảo ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa và Thái tử  xin cúng dường toàn bộ cây cối trong vườn cho  Phật, do đó khu rừng có tên Rừng Kỳ Đà thuộc vườn Cấp Cô Độc.

 

Dữ đại Tỳ kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhân câu (與大比丘僧,千二百五十人俱), dịch là cùng với các vị đại Tỳ Kheo, một ngàn hai trăm năm mươi vị.  Tỳ Kheo (比丘 )  là người thọ và hành trì 250 giới luật, Đại tỳ kheo tăng  (大比丘僧) là những vị đệ tử lớn của Phật.

Giai thị đại A La Hán (皆是大阿羅漢): Đều là các vị đại A La Hán. A La Hán (  阿羅漢) là thánh quả cho người tu học đã thoát khỏi vòng sinh tử. Họ cùng Đức Phật hoằng pháp mang lại lợi lạc  cho tất cả các cõi trời người.

Chúng sở tri thức ( 眾所知識), được mọi người biết đến.

Trưởng lão Xá Lợi Phất ( 長老舍利弗, Shariputra ). Trưởng lão chỉ người có đức hạnh và tu hành lâu năm. Trưởng lão Xá Lợi Phất, vị thầy nổi tiểng về trí tuệ siêu việt.

Ma Ha Mục Kiền Liên, ( 摩訶目犍連、Mahamaudgalyayana). Ma Ha là để tôn xưng các vị có đức lớn và có trí tuệ, là những vị đệ tử lớn của Phật. Ma Ha Mục Kiền Liên là vị đại đệ tử của Phật, rất giỏi phép thần thông, thầy được công nhận là thần thông đệ nhất trong hàng ngũ các đệ tử Phật.

Ma Ha Ca Diếp, (摩訶迦葉、Mahakashyapa ). Thầy Ma Ha Ca Diếp nối tiếng trong số các đệ tử xuất gia của Đức Phật, thực hành khổ hạnh. Thầy Ma Ha Ca Diếp là người chủ trì lần kiết tập Kinh điển thứ nhất tại thành Vương xá, với sự tham gia của 500 vị A La Hán.

Ma Ha Ca Chiên Diên, ( 摩訶迦旃延、Mahakatyayana ). Thầy Ma Ha Ca Chiên Diên   nổi tiếng về luận nghị, lý luận của thầy rất vững chãi và đanh thép.

Ma Ha Câu Hy La, ( 摩訶俱絺羅、Mahakausthila ). Thầy Ma Ha Câu Hy La nổi tiếng về tài đối đáp trong thuyết pháp

Ly Bà Đà, ( 離婆多、Revata ). Thầy Ly Bà Đà chứng đắc giải thoát không còn bị dính mắc vào thiện và ác.

Châu Lợi Bàn Đà Già, ( 周利槃陀伽、Suddhipanthaka). Thầy Châu Lợi Bàn Đà Già, khi mới xuất gia đầu óc tăm tối, trong bốn tháng cũng không thuộc được bài kệ:. Sau này nhờ Phật dạy, thầy đã  chứng quả A-la-hán  nắm rõ được kinh Phật.

Nan Đà, (難陀、Nanda), Thầy Nan Đà là em  trai của Đức Phật,

A Nan Đà, (阿難陀、Ananda ), thầy A Nan Đà em họ của Đức Phật, là thị giả có trí nhớ siêu phàm.

La Hầu La, ( 羅侯羅、Rahula), thầy La Hầu La  là con của Đức Phật

Kiều Phạm Ba Đề, ( 憍梵波提、Gavampati), thầy Kiều Phạm Ba Đề có tướng mạo xấu, do trong đời quá khứ, lúc Ngài làm sa di, nhân thấy một vị lão tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu đang nhai

cỏ. Sau này Ngài tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp

nhép.

Tân Đầu Lô Phả La Đọa, (賓頭盧頗羅墮、Pindolabharadvaja), thầy Tân Đầu Lô Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di.

Ca Lư Đà Di, ( 迦留陀夷、Kalodayin ). Thầy Ca Lư Đà Di có thân hình thô đen, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả báo thuở xưa để mình trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Thầy nối tiếng, nên được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.

Ma Ha Kiếp Tân Na, ( 摩訶劫賓那、Mahakapphina).  Thầy Ma Ha Kiếp Tân Na cũng thông hiểu thiên văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.

Bạt Câu La ( 薄拘羅、Vakula,) . Thầy薄拘羅là bậc thiểu dục tri túc, thân không bao giờ khoác y dày. Thầy có vẻ  mặt nghiêm túc, đoan chánh

A Nậu Lâu Đà, ( 阿那樓馱tiếng phạn là Aniruddha). Thầy A Nậu Lâu Đà là em họ của Phật, bị mù cả hai mắt. Thầy chứng đắc Thiên Nhãn Thông; thấy rõ cả 3 cõi.

Như thị đẳng đại đệ tử, ( 如是等諸大弟子): những đệ tử lớn của Phật.

Tinh ( 并), dịch là Cùng nhau, bao gồm.

Chư (諸 ), dịch là cùng với, các, mọi.

Tinh chư ( 并諸 ) , dịch là cùng với.

Bồ Tát 菩薩) , Bồ Tát là một người tỉnh thức. Bồ Tát từ chữ Boddhisatava mà ra, có nghĩa là con người tỉnh thức và đang giúp người khác tỉnh thức. Bồ Tát Ma Ha Tát ( 菩薩摩訶薩) dịch là các vị đại bồ tát.

Văn Thù Sư Lợi Phaùp vöông töû ( 文殊師利法王子). Thầy  là con thứ ba của vua Vô Tránh Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng. Ngài cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi.  Bồ tát Văn Thù Sư Lợi xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…như là một nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca.

Dữ như thị (與如是), dịch   cùng đều như vậy.

Ðẳng chư (等諸), dịch cùng hàng, cùng thứ bậc.

Đại Bồ Tát (大菩薩 ) dịch Bồ tát lớn

Cập (及) dịch đều, như

Vô lượng( 無量), dịch rất nhiều

Chư thiên đại chúng câu (諸天大眾俱), dịch các vị đại chúng nhà trời.

Đoạn kinh thứ 2 :

1.     原文

爾時,佛告長老舍利弗:「從是西方,過十萬億佛土,有世界名曰極樂,其土有佛,號阿彌陀,今現在說法。」

舍利弗,彼土何故名為極樂?其國眾生,無有眾苦,但受諸樂,故名極樂。」

2. Dịch âm

Nhĩ thời, Phật cáo Trưởng lão Xá Lợi Phất Tùng thị Tây phương,  quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Ðà, kim hiện tại thuyết pháp.

Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.

3. Dịch nghĩa

Lúc bấy giờ Phật gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo: Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy, có một vị Phật tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.

Xá Lợi Phất! đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.

4. Chú giải

Kinh  A Di Đà  thuộc về loại kinh "vô vấn tự thuyết" nghĩa là tuy không có ai hỏi cả mà Phật tự nhiên nói ra.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất, từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc.

Thế giới Cực Lạc là thế giới hết sức vui vẻ. Thế giới này có một vị Phật tên là A Di Đà. A Di Đà là tiếng Phạn, có nghĩa là Vô lượng quang, cũng có nghĩa là Vô lượng thọ. Vô lượng quang là ánh sáng của ngài chiếu soi mười phương thế giới không bị chướng ngại. Vô lượng thọ là sanh mạng của ngài trải qua trăm ngàn vạn ức đại kiếp cũng không cùng tận.

"Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.

Đoạn Kinh này định nghĩa về Cực Lạc. Chúng sanh ở trong cõi nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ hạnh phúc mà thôi. Vì vậy, cõi đó gọi là cõi Cực Lạc. Chữ "Cực" có nghĩa là rất; Cực Lạc là rất sung sướng.

Nhĩ thời (爾時) dịch là lúc bấy giờ.  Chính là ngay thời điểm vô lượng chư Thiên, Bồ-tát, Thanh Văn, A La Hán, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cùng nhóm họp để nghe Phật thuyết pháp.

Cáo ( 告) dịch là bảo, nói. Phaät caùo Tröôûng laõo Xá Lợi Phất ( 佛告長老舍利弗), dịch là  Đức bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Tùng thị ( 從是), dịch là từ đây. Từ địa điểm tịnh xá ở Vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc.

Tây phương( 西方), dịch là phương Tây. hướng Tây. Tuøng thò Taây phöông(從是西方), dịch là từ đây đi qua phương Tây. Từ địa điểm tịnh xá ở Vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc của nước Xá Vệ đi  về hướng Tây.

Qua (過), dịch là cách, khoảng.

Thập vạn ức  ( 十萬億), dịch là mười vạn ức. Ức (億 ), dịch là vạn, nhiều.

Phật độ (佛土), dịch là cõi Phật

Hữu thế giới danh viết Cực Lạc (有世界名曰極樂), dịch là có một thế giới gọi là Cực Lạc.

Kỳ độ ( 其土) dịch là trong cõi ấy, trong đất ấy.  Kyø ñoä höõu Phaät (其土有佛) dịch là có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy.

Hiệu ( 號) dịch là tên, danh xưng.

Hiệu A Di Đà ( 號阿彌陀 ), dịch là có một vị Phật tên là A Di Đà.

Kim ( 今) dịch là hieän, ngay bây giờ.

Kim taïi thuyeát phaùp ( 今現在說法), dịch là hiện đang thuyết pháp.

Xá Lợi Phất ( 舍利弗),thầy Xaù Lợi Phaát

Bỉ độ( 彼土 ), bên cõi ấy, bên đất ấy.

Hà cố (á何故) , dịch là tại sao.

Danh ( 名), dịch là tên gọi.

Danh vi Cöïc Laïc ( 名為極樂), dịch là tên là cực lạc.

Kỳ(其), dịch là cái nó, việc đó.

Kỳ quốc chúng sanh (其國眾生), dịch là chúng sanh ở nước đó.

 ( 無), dịch là không có.

Vô hữu chúng khổ (無有眾苦), dịch là Chúng sanh không có khổ

Đản(但), dịch là nhưng, chỉ.

Đản thọ chư lạc (但受諸樂), dịch là chỉ hưởng thụ hạnh phúc

Cố ( 故) dịch là cho nên, vì vậy.

Cố danh Cực Lạc ( 故名極樂), dịch là Vì vậy, gọi là Cực Lạc.

Đoạn kinh thứ 3 :

1.     原文

又舍利弗! 極樂國土,七重欄楯,七重羅網,七重行樹,皆是四寶周匝圍繞,是故彼國名為極樂。

2. Dịch âm

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.

3. Dịch nghĩa

Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc,  có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc.’’

4. Chú giải

Đoạn kinh này nói về môi trường trang nghiêm của cõi Cực Lạc.

Cõi Cực Lạc có 7 lớp lan can bảy lớp lưới giăng và bảy lớp hàng cây,  tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, Vì  cõi ấy đẹp như thế nên được gọi là cõi Cực Lạc.

Trùng (重),dịch là lớp.

Lan thuẫn ( 欄楯),lan can.

La võng (羅網),lưới giăng.

Hàng thụ ï(行樹,), hàng cây.

Táp vi nhiễu  (  匝圍繞 ), vây vòng quanh.

Đoạn kinh thứ 4 :

1.     原文

又舍利弗。極樂國土,有七寶池,八功德水,充滿其中,池底純以金沙布地。四邊階道,金、銀、琉璃、玻璃合成。上有樓閣,亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、瑪瑙而嚴飾之。池中蓮花大如車輪,青色青光、黃色黃光、赤色赤光、白色白光,微妙香潔。

2. Dịch âm

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa. Tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành. Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não nhi nghiêm sức chi. Trì trung liên hoa đại như xa luân: thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.

3. Dịch nghĩa

‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.

4. Chú giải

Bảy báu  gồm vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Phật dạy thầy Xá Lợi Phất, ở cõi Cực Lạc có ao  bằng bảy báu và trong đó chưa đầy nước tám công đức. Nước tám công đức đó có công dụng như sau:1. Trừng tịnh: lắng gạn trong sạch; 2. Thanh lãnh: trong trẻo mát lạnh; 3. Cam mỹ: mùi vị ngon ngọt; 4. Khinh nhuyễn: nhẹ nhàng mềm mại; 5. Nhuận trạch: thấm nhuần tươi mát; 6. An hòa: yên ổn hòa nhã; 7. Trừ được đói khát và vô số khổ não; 8. Trưởng dưỡng thân tứ đại, tăng trưởng các thiện căn. Và nước tám công đức đó chứa đầy trong ao. Ao trong cõi Cực Lạc đáy ao toàn là cát vàng. Tiếp theo đoạn kinh miêu tả bốn bên hồ có những lối đi và được làm bởi kim, ngân, lưu ly, pha lê. Phía trên có lầu gác  đều dùng  châu báu như kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não trang trí.

Thất bảo trì ( 七寶池), hồ bảy báo. Trì ( 池). Dịch là hồ.

Bát công đức thủy ( 八功德水), nước tám công đức.

Sung mãn kỳ trung (充滿其中), tràn đầy bên ở trong.

Kim sa (金沙), đất bằng vàng.

Giai đạo (階道 ), đều là đường đi.

Lâu các (樓閣 ), nhà lầu, gác.

Diệc dĩ ( 亦以), đều là, cũng là.

Nghiêm sức ( 嚴飾), trang trí đẹp.

Đoạn kinh thứ 5 :

1.     原文

舍利弗。極樂國土,成就如是功德莊嚴。

又舍利弗。彼佛國土,常作天樂。黃金為地。晝夜六時,雨天曼陀羅華。其土眾生,常以清旦,各以衣祴盛眾妙華,供養他方十萬億佛,即以食時,還到本國,飯食經行。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên Mạn Đà La. Kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích, thịnh chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.

Xá Lợi Phất! Nước Cực Lạc đầy đủ những công đức trang nghiêm như thế.’’

3. Dịch nghĩa

Lại này Xá Lợi Phất, cõi nước Phật kia, thường trỗi nhạc trời, vàng ròng làm đất, ngày đêm sáu thời, mưa hoa Mạn Đà La cõi trời. Chúng sanh ở cõi ấy, cứ mỗi sáng sớm, thường dùng đãi y, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở về nước mình, ăn cơm, kinh hành.

Phật dạy thầy Xá Lợi Phất nước cực lạc có đầy đủ hạnh nguyện trang nghiêm như thế.

4. Chú giải

Ở nước cực lạc, có  những con chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng...Những con chim này thay phiên nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục thời). Đó là sáu thời công phu Ngày xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần gọi trú dạ lục thời. Trú là ban ngày, dạ là ban đêm. Sáu thời gồm: Đầu ngày (từ 6 giờ đến 10 giờ), giữa ngày (từ 10 giờ đến 14 giờ), cuối ngày (từ 14 giờ đến 18 giờ) và đầu đêm (từ 18 giờ đến 22 giờ), giữa đêm (từ 22 giờ đến 2 giờ), cuối đêm (từ 2 giờ đến 6 giờ). Những con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được tiếng pháp trong đó.

Chúng sanh ở cõi cực lạc  ấy, cứ mỗi sáng sớm, thường dùng vạt áo, đựng các hoa đẹp, đem cúng dường vô số Phật ở phương khác, vừa đến giờ ăn, trở về cõi cực lạc để ăn cơm rồi kinh hành.

Xá Lợi Phất ( 舍利弗 ), thầy Xá Lợi Phất

Cực lạc quốc độ ( 極樂國土,  ), đất nước cực lạc.

Thành tựu (成就), đạt được.

Như thị (如是), như vậy. Khẳng định sự trang nghiêm đã nói ở phần trên: ao báu, nước tám công đức, lầu gác, hoa sen v.v...

Công đức ( 功德),  tích lũy được do làm các việc thiện.

Trang nghiêm ( 莊嚴),  trang hoàng đẹp đẽ.

Thường tác (常作), luôn làm như thế.

Thiên nhạc (天樂), âm thanh của nhạc trời.

Hoàng kim vi địa (黃金為地), vàng ròng làm đất. 

Trú dạ lục thời ( 晝夜六時), ngày đêm sáu thời

Thường dĩ thanh đán ( 常以清旦), Thanh đán, có nghĩa là lúc mới vừa rạng sáng. Nói “thường dĩ” là hàm ý: ngày nào cũng làm như thế.

Các dĩ y kích ( 各以衣祴), đều dùng vạt áo.

Thịnh chúng diệu hoa (盛眾妙華), chứa đầy hoa vi diệu. Thịnh có nghĩa là chứa đựng.

Cúng dường ( 供養), Cúng là dâng, Dường là cung kính. Cúng dường có nghĩa là kính dâng lên.

Tha phương ( 他方), các phương khác.

Thập vạn ức Phật (十萬億佛), diễn tả số nhiều đến cùng cực.

Tức dĩ thực thời (即以食時), ngay lúc đó.

Hoàn đáo bổn quốc (還到本國), trở về lại nước đó. Tức dĩ thực thời hoàn đáo bổn quốc, có thể hiểu là chúng sanh sau khi đi hái hoa vào buổi sáng lập tức trở về cõi nước cực lạc.

Phạn thực ( 飯食), nghĩa là dùng cơm.

Kinh hành ( 經行), tức là đi nhiễu xung quanh, đi vòng quanh. Người Phật tử sau khi dùng cơm xong thường đi hành thiền để tu dưỡng thân tâm.

Đoạn kinh thứ 6 :

Nguyên văn

1.   原文本

舍利弗。極樂國土,成就如是功德莊嚴。

復次舍利弗:「彼國常有種種奇妙雜色之鳥:白鶴、孔雀、鸚鵡、舍利、迦陵頻伽、共命之鳥。是諸眾鳥,晝夜六時,出和雅音。其音演暢五根、五力、七菩提分、八聖道分,如是等法。其土眾生,聞是音已,皆悉念佛、念法、念僧。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm. Kỳ âm diễn xướng: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề phần, Bát Thánh Đạo phần, như thị đẳng pháp. Kỳ độ chúng sanh, văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

3. Dịch nghĩa

Này Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế!

Lại này nữa Xá Lợi Phất, cõi nước kia thường có các loài chim màu sắc kỳ diệu, như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng. Những thứ chim này, ngày đêm sáu thời, hót lên tiếng hòa nhã, tiếng ấy diễn xướng năm căn, năm lực, bảy Bồ Đề Phần, tám Thánh Đạo Phần.  Ai nghe tiếng này rồi, tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

4. Chú giải

Hai chữ “như thị” trong đoạn Kinh “ Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm” kết lại lời khen ngợi cõi nước Cực Lạc có các thứ thiên hoa, thiên nhạc...

Tiếp theo là đoạn Kinh “ Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu..”. Đoạn Kinh này thuyết minh lần nữa về cảnh kỳ diệu trong cõi Cực Lạc.

Sống trong chánh niệm và định, chúng ta  có tuệ giác để nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Phật A Di Đà hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc. Nếu có niệm và định thì chúng ta có tuệ giác để thấy và nghe trong đời sống hàng ngày đều là pháp thoại.

Phục ( 復), có nghĩa là lại nữa, lần nữa.

Thứ ( 次), là tiếp theo.

Phục thứ ( 復次), nhằm khẳng định cõi cực lạc gồm có các thứ diệu cảnh như có các loài chim màu sắc kỳ diệu, như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng.

Thường hữu (常有), luôn xảy ra sự việc như thế.

Chủng chủng ( 種種 ), quá nhiều, rất nhiều .

Kỳ diệu ( 奇妙 ), rất lạ lùng, đẹp đẽ.

Tạp sắc ( 雜色), có nhiều màu.

Bạch Hạc (白鶴), chim trắng, mỏ dài, chân cao, lông trắng, có khả năng bay rất xa, tiếng kêu lớn và thanh.

Khổng Tước ( 孔雀), là chim Công, đuôi dài, con trống rất đẹp, thường xoè đuôi và cánh ra như cánh quạt, màu sắc sặc sỡ.

Anh Vũ  ( 鸚鵡), Anh vũ là chim Vẹt, lông xanh, mỏ quặp, có khả năng nói được tiếng người.

 Xá Lợi ( 舍利), Xá lợi là chim Thu, còn được gọi là chim Bách thiệt, mắt rất trong, tiếng hót dịu dàng, thanh thoát, có thể nói được tiếng người

Ca Lăng Tần Già ( 迦陵頻伽), Ca lăng tần già là tên của một loài chim quý, lông màu đen, mỏ đỏ, tiếng hót cực hay, êm ái, véo von hơn cả tiếng trời, thường sống thành cặp chẳng hề rời nhau, còn được gọi là Mỹ âm điểu, Diệu thanh điểu. Tiếng hót của loài chim này thường được ví như pháp âm của Phật.

Cộng Mạng  ( 共命), là một loài chim lạ, cực kỳ quý hiếm sống ở Tuyết sơn, với đặc điểm là tuy một thân nhưng có hai đầu nên còn gọi là Mạng mạng điểu hay Sanh sanh điểu.

Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng là những loại chim có màu sắc đẹp, giọng hót hay và quý hiếm. Các loài chim này được đề cập đến trong kinh Phật. Đức Phật thường lấy giọng hót của các loại chim này, để so sánh và tán thán những vị Tăng thuyết pháp có âm thanh vi diệu, chinh phục được thính chúng, đưa họ trở về chánh đạo. Đặc biệt, ở Tịnh độ của Phật A Di Đà thì Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng liên tục ngày đêm hót lên những pháp âm vi diệu khiến người nghe phát tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Thị chư ( 是諸), chỉ các loài Bạch Hạc, Khổng Tước.... vừa nhắc tới ở đoạn trên.

Thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời ( 是諸眾鳥,晝夜六時), các loài chim hóa hiện ấy thuyết pháp không hề gián đoạn.

Hòa nhã ( 出和), thanh tao, dịu dàng,

Xuất hòa nhã âm ( 出和雅音 ),  âm thanh điệu kỳ, tao nhã khiến người nghe sanh tâm vui thích, tâm ý thanh thản, khoáng đạt.

Kỳ âm  ( 其音), chỉ các âm thanh hòa nhã của các loài chim kì diệu

Kỳ âm diễn sướng (  其音演暢), Âm thanh của chúng có thể “diễn” nói các diệu pháp, khiến cho tâm người nghe sảng khoái

Ngũ Căn ( 五根 ), năm nền tảng căn bản đưa đến việc sản sinh và tăng trưởng thiện nghiệp. Bao gồm :

1.Tín căn, lòng tin vững chắc vào Tam Bảo,

2.Tấn căn, sự nổ lực siêng năng, tinh tấn dũng mãnh trong việc thực hành tu tập.

3.Niệm căn, nhớ nghĩ đến việc tu tập, trì giới.

4.Định căn, tâm trụ vào một nơi, một chỗ để lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp.

5.Huệ căn. hiểu rõ được chân lý như thật của vô thường.

Ngũ Lực ( 五力), năm lực có được nhờ vào năm căn tăng trưởng sinh ra trong tu tập, trì giới . Đó chính là thần lực của năm căn,

Bao gồm:

1.Tín lực, sức mạnh do tín căn sinh ra .

2.Tấn lực, sức mạnh do tấn căn sinh ra .

3.Niệm lực, sức mạnh do niệm căn sinh ra .

4.Định lực sức mạnh do định căn sinh ra .

5.Huệ lực. sức mạnh do huệ căn sinh ra

Thất Bồ Đề Phần ( 七菩提分), còn gọi là thất giác chi, bảy phương pháp tu tập nhằm giúp người tu  đạt được giác ngộ. Bao gồm

- Trạch Pháp : Dùng trí tuệ để lựa chọn phương pháp tu.

- Tinh tấn : Luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập.

-  Hỷ :  Sanh tâm hoan hỷ và phấn chí tu hành

-  Khinh an: Nhẹ nhàng, an ổn .

 - Niệm: Thường ghi nhớ

-  Định: Tâm chuyên chú, tập trung.

-  Xả : Không vướng bận.

Bát Thánh Đạo Phần ( 八聖道分), tám con đường hay tám phương tiện mầu nhiệm đưa chúng sinh đến bờ giác ngộ.

Chánh kiến: Thấy đúng với sự thật khách quan.

Chánh tư duy: Suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải.

Chánh ngữ: Lời nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý.

Chánh nghiệp : Hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích co người lẫn vật.

Chánh mạng: Sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình.

Chánh tinh tấn: Chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật.

Chánh niệm: Ghi nhớ đến những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người,.

Chánh định: Tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình và người.

Như thị đẳng pháp ( 如是等法 ), Cũng như mọi pháp khác. “ Như thị”, chỉ các pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực... vừa nêu trên. Chữ “Đẳng” hàm ý còn nhiều pháp khác nữa như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần.... hoặc Tứ Nhiếp Pháp, Lục Độ, cho đến vô lượng pháp môn.

Kỳ độ (其土), cõi ấy, tức là cõi Cực Lạc.

Văn thị âm dĩ  (聞是音已) , nghe các âm như vậy. “Thị âm” chỉ các pháp âm do các loài chim phát ra, “ Dĩ ” có nghĩa là đã xong, đã hoàn tất. Giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng (皆悉念佛、念法、念僧), đều cùng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Phật, Pháp, Tăng là Tam Bảo. Bảo có nghĩa là tôn quý. Phật, Pháp, Tăng là ba thứ tôn quý nhất trong mọi pháp xuất thế và thế gian. Ý nói sau khi được nghe các pháp âm ấy, ai nấy đều xưng niệm Tam Bảo.

Đoạn kinh thứ 7 :

1.   原文本

舍利弗。汝勿謂此鳥,實是罪報所生,所以者何?彼佛國土,無三惡道。

舍利弗。其佛國土,尚無惡道之名,何況有實。是諸眾鳥,皆是阿彌陀佛,欲令法音宣流,變化所作。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thật thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo.

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thật?

Thị chư chúng điểu giai do A Di Đà Phật, dục linh pháp âm tuyên lưu, biến hóa sở tác.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở nước Phật kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo. Những con chim kia đã được Phật A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.

4.Chú giải:

Kinh văn khẳng định Cõi Phật A Di Đà là cõi cực lạc.

Vật vị (  勿謂 ) đừng bảo, đừng nói. Dùng để răn nhắc.

Thử thị ( 實是), chỉ những loài chim đã kể ở trên như bạch hạc, khổng tước v.v...

Tội báo sở sanh ( 罪報所生), nghĩa là do tạo tội nghiệp nên chiêu cảm ác báo thọ sanh trong đường ác.

 Sở dĩ giả hà? (所以者何)?Tại sao lại như vậy?

Tam Ác Đạo( 三惡道 ), còn gọi là Tam Đồ, hoặc Tam Ác Thú, tức là:

a) Địa Ngục

b) Ngạ Quỷ

c) Súc Sanh:

Đoạn kinh thứ 8:

1.   原文本

舍利弗。彼佛國土,微風吹動諸寶行樹,及寶羅網,出微妙音,譬如百千種樂,同時俱作。聞是音者,自然皆生念佛、念法、念僧之心。

舍利弗。其佛國土,成就如是功德莊嚴。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất. Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác. Văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm.

Xá Lợi Phất. Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất, ở nước Phật ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.

4. Chú giải:

Đoạn kinh “ Xá Lợi Phất. Bỉ Phật quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc, đồng thời câu tác” , diễn tả ở cõi cực lạc, Mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu, chúng khua động lẫn nhau, chạm ngọc, lay vàng, tạo thành vô lượng âm thanh vi diệu. giống trăm ngàn thứ âm nhạc trên trời  cùng hòa tấu.

Ở cõi Tịnh Độ, khi có gió đi qua các hàng cây và các màn lưới châu báu thì có những âm thanh vi diệu, có âm nhạc và có lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như vậy thì có cơ hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Vi phong (微風), là gió nhẹ.

Chư bảo hàng thụ ( 諸寶行樹 ), là những hàng cây báu do thất bảo hợp thành.

Bảo la võng (寶羅網),  là những mành lưới do các thứ báu kết thành.

Xuất vi diệu âm (出微妙音), tạo ra nhưng âm thanh kì diệu.

Thí như bách thiên chủng nhạc  ( 譬如百千種樂), giống trăm ngàn loại âm nhạc trên trời.

Đồng thời câu tác ( 同時俱作 ), cùng phát ra một lúc.

Văn thị âm (聞是音), nghe âm thanh như vậy. Những âm thanh vi diệu do gió lùa qua cây báu, mành lưới báu phát ra, cũng như những pháp âm được diễn nói.

Tự nhiên (自然 ), không cần phải nhắc nhở.

Đoạn kinh thứ 9:

1.   原文本

舍利弗。於汝意云何?彼佛何故號阿彌陀?

舍利弗。彼佛光明無量,照十方國,無所障礙,是故號為阿彌陀。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà?   Bỉ Phật hà cố hiệu A-Di-Đà?

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A-Di-Đà.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức Phật kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Tại vì đức Phật ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà.

4. Chú giải:

Một vị bồ tát, một vị Phật luôn luôn từ cơ thể phóng ra ánh sáng. Đó là ánh sáng của chánh niệm. Ánh sáng của các vị Phật đi rất xa. Phóng ra ánh sáng đó để làm gì? Để soi đường và giúp người ta đừng bước sa vào hầm hố của khổ đau.

Quang minh Vô Lượng (光明無量), ý nói đức Phật A Di Đà có vô lượng ánh sáng.

Vô lượng ( 無量), biểu thị tột bực .

Chiếu thập phương quốc ( 照十方國), Chiếu mười phương cõi nước. Diễn tả cảnh được chiếu thật là rộng lớn.

Vô sở chướng ngại (無所障礙), chẳng bị chướng ngại.

Đoạn kinh thứ 10:

1.   原文本

又舍利弗。彼佛壽命,及其人民,無量無邊阿僧祇劫,故名阿彌陀。

2. Dịch âm

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Đà.

3. Dịch nghĩa

‘Hơn nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Phật ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài tới vô lượng vô biên kiếp a tăng kỳ, vì vậy, danh hiệu của ngài là A Di Đà’’

4.Chú giải:

Bởi vì chúng ta cũng có bản chất bất sanh và bất diệt. Niệm Phật cho sâu sắc, quán chiếu về đức A Di Đà cho sâu sắc, ta tiếp xúc được với bản môn, với tính vô sinh bất diệt của chính ta, và đó là thành quả cao nhất của sự thực tập.Ta thấy được rằng bản chất của ta cũng là bản chất vô lượng thọ.

Thọ mạng (壽命 ),  tuổi thọ của con người

Cập kỳ nhân dân (及其人民), cùng với nhân dân.

Chẳng những thọ mạng của Đức Phật là vô lượng, mà tất cả mọi người trong cõi Cực Lạc đều có thọ mạng vô lượng.

A tăng kỳ kiếp (阿僧祇劫 ), vô lượng, vô số.

Đoạn kinh thứ 11:

1.   原文本

舍利弗。阿彌陀佛成佛已來,於今十劫。

又舍利弗。彼佛有無量無邊聲聞弟子,皆阿羅漢,非是算數之所能知。諸菩薩眾,亦復如是。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số, chi sở năng tri, chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất. Từ khi Phật A Di Đà thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp.

Này nữa, Xá Lợi Phất. Số đệ tử thanh văn đã đắc quả A La Hán của đức Phật ấy nhiều vô lượng, không thể đếm được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng đông đảo như thế.

4. Chú giải:

Tuy đức A Di Đà mới thiết lập cõi Cực Lạc được mười kiếp, nhưng số đệ tử Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của Ngài nhiều vô lượng không thể đếm được. Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế. Nghĩa là đức A Di Đà có đệ tửThanh Văn và cũng có đệ tửBồ Tát.

Thành Phật dĩ lai (成佛已來), từ lúc thành Phật.

Thập kiếp (十劫), mười kiếp.

Trên phương diện tích môn, từ khi đức Phật A Di Đà thiết lập ra cõi Cực Lạc qua mười kiếp.

Thanh Văn đệ tử ( 聲聞弟子), đệ tử Phật thuộc hàng Thanh Văn. Những người do được nghe Đức Phật giảng thuyết pháp Tứ Đế mà ngộ đạo.

A La Hán (阿羅漢), chẳng thọ sanh trong Tam Giới nữa.

Phi thị toán số chi sở năng tri ( 非是算數之所能知 ), số lượng nhiều đến nỗi chẳng thể dùng phép toán mà biết được.

Chư Bồ Tát chúng ( 諸菩薩眾), các vị Bồ Tát là hàng thánh giả tu học Đại Thừa.

Diệc phục như thị (亦復如是), cũng giống như thế. Ngụ ý chẳng những các chúng Thanh Văn nhiều vô lượng vô biên mà các vị Bồ Tát cũng đông nhiều như thế, chẳng thể tính toán được nổi!

Đoạn kinh thứ 12:

1.   原文本

舍利弗。彼佛國土,成就如是功德莊嚴。

又舍利弗。極樂國土,眾生生者,皆是阿鞞跋致,其中多有一生補處,其數甚多,非是算數所能知之,但可以無量無邊阿僧祇說。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

Hựu Xá Lợi Phất! Cực lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí. Kỳ trung đa hữu, nhất sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết.

3. Dịch nghĩa

"Này Xá Lợi Phất! Nước Phật kia đã được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.

"Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.

4. Chú giải:

Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển.’’ Bất thối chuyển có nghĩa là không còn bị sa đọa trở lại. Thối là đi lui; hễ sinh sang nước đó rồi thì chỉ đi tới thôi, không còn đi lui, không rơi rụng trở lại nữa, nghĩa là không rơi rụng trở lại trong cõi đau khổ, chìm đắm và hệ lụy.

Bất thối chuyển nghĩa là không còn sa đọa trở lại. Những người nào sinh về cõi Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển.

Và trong số đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh bổ xứ. Bồ tát nhất sanh bổ xứ là bồ tát sẵn sàng được sinh ra một lần cuối để thành Phật. Muốn cõi nào thì đi về cõi đó để thành Phật. Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi sanh đã là bồ tát nhất sanh bổ xứ, sinh ra lần chót ở cõi Ta Bà và thành Phật ở đây. Số lượng các vị này, tức là các vị bồ tát nhất sanh bổ xứ, đông đảo vô cùng, không thể đếm được. Ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.A Tăng Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ A tức là vô và Tăng Kỳ là số.

A Bệ Bạt Trí ( 阿鞞跋致), bất Thoái Chuyển; không còn bị sa đọa trở lại

Nhất sanh bổ xứ (一生補處), Bồ Tát sẵn sàng được sinh ra một lần cuối để thành Phật.

Đoạn kinh thứ 13:

1.   原文本

舍利弗。眾生聞者,應當發願,願生彼國,所以者何?得與如是諸上善人俱會一處。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc.   Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân, câu hội nhất xứ.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy.

Tại sao? Tại vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức

4.Chú giải

Chúng sanh văn giả (眾生聞者), chúng sanh nghe những công đức thù thắng mầu nhiệm ở cõi Cực Lạc.

Ưng đương phát nguyện (應當發願), phải nên phát nguyện.

Nguyện sanh bỉ quốc (願生彼國), chí nguyện cầu sanh ở cõi nước Cực Lạc.

Sở dĩ giả hà? (所以者何), câu hỏi tại sao như vậy?

Thiện nhân (上善人), người nghĩ đến điều thiện và làm điều thiện. Chỉ các vị Bồ Tát, Nhất Sanh Bổ Xứ …

Đoạn kinh thứ 14:

1.   原文本

舍利弗。不可以少善根福德因緣,得生彼國。

舍利弗。若有善男子善女人,聞說阿彌陀佛,執持名號,若一日、若二日,若三日,若四日,若五日,若六日,若七日,一心不亂,其人臨命終時,阿彌陀佛,與諸聖眾,現在其前。是人終時,心不顛倒,即得往生阿彌陀佛極樂國土。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu: nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.

3. Dịch nghĩa

"Xá Lợi Phất! Những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy.

Xá Lợi Phất, người con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe đến danh hiệu A Di Đà Phật phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung, sẽ được thấy Phật A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt. Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và tán loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.

4. Chú giải:

Đức Thế Tôn khuyên rằng: Nếu chúng sanh được nghe nói đến cõi Cực Lạc thì nên phát tâm sanh về cõi đó.

‘‘Xá Lợi Phất, những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy.’’ Phúc đức tức là những may mắn, những thiện duyên. Căn lành là những gốc rễ tốt đẹp. Căn là gốc rễ, nhưng cũng có khi được hiểu là hạt giống. Vậy muốn sanh về cõi Cực Lạc ta phải có hạt hoặc là rễ của Tịnh Độ. Những hạt giống tốt đẹp đó là đến chùa lạy Phật,  bố thí, cúng dường, những chuyến xe 0 đồng chở bệnh nhân…. Tất cả những hành động đó đều là những hành động gieo trồng căn lành.

Xá Lợi Phất! Người con trai lành, người con gái lành nào muốn sanh về cõi ấy thì khi nghe danh hiệu Phật A Di Đà, phải nắm lấy danh hiệu ấy.’’

Nghĩa là nghe danh hiệu thì phải nắm lấy danh hiệu. Phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày...’’

Ngày nào cũng niệm đến khi lâm chung, tự nhiên mình sẽ nhớ mà niệm. Phương pháp này gọi là phương pháp trì danh. Trì danh không phải chỉ bằng miệng của mình, mà còn bằng tâm của mình. Nắm lấy là trì, hết lòng là nhất tâm. Nắm lấy danh hiệu, không phải bằng trí năng, hoặc bằng miệng lưỡi, mà bằng trái tim. Tâm của mình phải chuyên nhất. Mình phải để tâm vào danh hiệu đó, phải làm cho danh hiệu của Phật có mặt trong tâm mình.

Nếu ta thường niệm Phật có chánh niệm thì vào giờ phút lâm chung, tâm thức ta sẽ vững vàng để đưa ta đi về hướng thiện, và gặp được các bậc ‘‘thượng thiện nhân’’. Nếu thực tập giỏi thì không phải đợi giờ phút lâm chung mới đến được Tịnh Độ mà trong mỗi giây phút niệm Phật, ta đã có Tịnh Độ bên mình. Khi ta bắt đầu niệm Phật và niệm cõi Cực Lạc thì tâm ta lúc đó có Phật và có cõi Cực Lạc.

Thiện căn (善根), tâm nguyện thuần lương, tinh tấn hành trì.

Phước đức (福德), làm những điều lành nhằm tạo lợi ích cho người khác.

Chấp trì (執持), giữ gìn cái nhận được. Nhất tâm bất loạn (一心不亂) tâm không bị gián đoạn.

Chung thời (終時), là lúc khí ấm trên thân đã hết, thức thần sắp ly khai xác thân.

Lâm mạng chung thời (臨命終時), là lúc khổ báo trong cõi Sa Bà sắp chấm dứt.

Chư thánh chúng (諸聖眾) là các vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác trong cõi Cực Lạc.

Thị nhân (是人 ), chỉ người niệm Phật.

Tâm bất điên đảo(心不顛倒 ),  tâm minh mẫn, chánh niệm.

Đoạn kinh thứ 15:

1.   原文本

舍利弗。我見是利,故說此言。若有眾生,聞是說者,應當發願,生彼國土。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn. Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

3. Dịch nghĩa

‘‘Xá Lợi Phất, vì thấy được điều lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng, những ai đang nghe tôi nói đây hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy.’’

4.Chú giải:

Ngã kiến thị lợi (我見是利), ta thấy điều lợi này. Ngã là lời tự xưng của Đức Phật.

 Cố thuyết (故說此言), cho nên nói à chữ dùng để tiếp ý câu trên.

Thử ngôn (此言), lời này chỉ giáo pháp Niệm Phật.

 Văn thị thuyết giả (聞是說者), nghe nói như vậy

 Ưng đương (應當), phải nên.

 Tâm lý Đức Thế Tôn cũng là tâm lý của chúng ta. Chúng ta cần có một khung cảnh an toàn và hạnh phúc để chuyển hóa khổ đau, nên khi gặp ai đau khổ là ta giới thiệu khung cảnh an toàn và hạnh phúc ấy cho họ để họ có dịp đến đó tu học. Kinh A Di Đà là kinh đức Thế Tôn giới thiệu quê hương Tịnh Độ cho chúng ta. Ngài bao lượt đinh ninh dặn dò, khuyên lơn những mong người nghe mau phát tâm nguyện cầu vãng sanh, đừng bỏ lỡ đại lợi ích thù thắng này.

Đoạn kinh thứ 16:

1.   原文本

舍利弗。如我今者,讚歎阿彌陀佛,不可思議功德之利。東方亦有阿閦鞞佛、須彌相佛、大須彌佛、須彌光佛、妙音佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

舍利弗。南方世界,有日月燈佛、名聞光佛、大焰肩佛、須彌燈佛、無量精進佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

舍利弗。西方世界,有無量壽佛、無量相佛、無量幢佛、大光佛、大明佛、寶相佛、淨光佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

舍利弗。北方世界,有焰肩佛、最勝音佛、難沮佛、日生佛、網明佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

舍利弗。下方世界,有師子佛、名聞佛、名光佛、達摩佛、法幢佛、持法佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:『汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

舍利弗。上方世界,有梵音佛、宿王佛、香上佛、香光佛、大焰肩佛、雜色寶華嚴身佛、娑羅樹王佛、寶華德佛、見一切義佛、如須彌山佛,如是等恆河沙數諸佛,各於其國,出廣長舌相,遍覆三千大千世界,說誠實言:汝等眾生,當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

2. Dịch âm

" Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghì công đức chi lợi. Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị:   Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghì Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh".

3. Dịch nghĩa

Này Xá Lợi Phất! Nếu trong giây phút hiện tại, tôi đang ca ngợi sự lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, thì tại phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Thượng và phương Hạ, các Phật đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của quý vị, bao trùm cả thế giới Tam thiên đại thiên, và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: Này toàn thể chúng sanh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’’

"Xá Lợi Phất, nếu trong giờ phút hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

'Xá Lợi Phất, tại phương Nam có các vị Phật Nhựt Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

'Xá Lợi Phất, tại phương Tây có các vị Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh Quang và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

'Xá Lợi Phất, tại phương Bắc có các vị Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhựt Sanh, Phật Võng Minh và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

'Xá Lợi Phất, tại phương Hạ có các vị Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp và các vị Phật khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

'Xá Lợi Phất, tại phương Thượng có các vị Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn và các vị Phật đông khác như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Phật trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'

4. Chú giải:

Bất khả tư nghị ( 不可思議), chẳng diễn tả, lý luận được.

Hằng hà sa số (恆河沙數), nhiều như số cát trong sông Hằng.

Quảng trường thiệt tướng (廣長舌相), tướng lưỡi rộng dài

Biến phú(遍覆), che phủ khắp cả.

Thành thực ngôn ( 誠實言), lời chân thực. chẳng hư vọng.

Hộ Niệm ( 護念), gìn giữ, yêu mến.

Trong đoạn kinh này, Phật nói rằng không những ngài đang tán dương cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà mà ngài còn khuyến khích chúng sanh các cõi khác phát nguyện sinh về cõi ấy. Kinh A Di Đà là một kinh rất mầu nhiệm, cõi A Di Đà là một nơi lý tưởng để thực tập đời sống giác ngộ, và Phật A Di Đà là một bậc đạo sư lý tưởng. Vì vậy tất cả các vị Phật trong mười phương, vị nào cũng nâng đỡ và yểm trợ cho nhau.

Đoạn kinh thứ 17:

1.   原文本

舍利弗。於汝意云何?何故名為一切諸佛所護念經?

舍利弗。若有善男子、善女人,聞是經受持者,及聞諸佛名者,是諸善男子、善女人,皆為一切諸佛之所護念,皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。是故舍利弗,汝等皆當信受我語,及諸佛所說。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà, hà cố danh vi "Nhất Thiết Chư Phật sở hộ niệm Kinh"?

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển, ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.  Thị cố, Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương, tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.

3. Dịch nghĩa

Này Xá Lợi Phất, thầy nghĩ sao? Tại sao gọi Kinh này là Kinh mà tất cả các vị Phật đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm? Sở dĩ như thế là vì những người con trai hoặc con gái nhà lành nào, nghe được vị Phật A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phương pháp niệm Phật, thì những người ấy được tất cả các vị Phật hộ niệm, và tất cả đạt tới địa vị cao tột không còn bị thối chuyển. Vì vậy, quý vị hãy tin vào những lời tôi đang nói và cũng là những lời chư Phật đang nói.’’

4.Chú giải:

Chỉ cần niệm một vị Phật thôi, mà nếu đạt đến nhất tâm, là ta có định. Khi ta đã có định ở nơi một vị Phật, thì thông qua vị Phật đó, ta có thể tiếp xúc được hằng hà sa số chư Phật, vì một vị Phật là tất cả các vị Phật và tất cả các vị Phật là một vị Phật. Cho nên, niệm Phật A Di Đà cũng là niệm Phật Thích Ca, niệm Phật Thích Ca...

Nhược hữu (若有), nếu có. Từ dùng để diễn tả ý giả định.

Thiện nam tử, thiện nữ nhân (善男子善女人),  Những người nam, người nữ có thiện tâm.

Văn thị kinh, thọ trì giả (聞是經受持者),  lắng nghe, kinh này tin tưởng, hành trì.

 Cập văn chư Phật danh giả (及聞諸佛名者), và nghe danh hiệu của chư Phật.

Giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm (皆為一切諸佛之所護念) đều  đương nhiên được chư Phật hộ niệm.

A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提),  Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 Nhữ đẳng (汝等), tất cả. Toàn bộ đại chúng hiện diện trong pháp hội cũng như toàn bộ chúng sanh được nghe kinh này trong đời tương lai.

Giai đương tín thọ (皆當信受),  đều nên  tin và nghe theo.

Ngã ngữ ( 我語), lời của tôi. Ngã là chữ Đức Phật Thích Ca dùng để tự xưng. Chữ “ngữ” chỉ toàn bộ những lời dạy trong pháp hội này.

Đoạn kinh thứ 18:

1.    原文本

舍利弗。若有人已發願、今發願、當發願,欲生阿彌陀佛國者,是諸人等,皆得不退轉於阿耨多羅三藐三菩提,於彼國土,若已生、若今生、若當生。是故舍利弗,諸善男子、善女人,若有信者,應當發願,生彼國土。

2. Dịch âm

 Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhân, dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhân đẳng, giai đắc bất thối chuyển, ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ư bỉ quốc độ, nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

Thị cố, Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

Vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất, nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sinh về cõi Phật A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ phút phát nguyện, đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã có mặt ở nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy chưa sanh, đãsanhhay đang  sanh về đó.

Vì thế nên Xá Lợi Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có ai tin tưởng thì hãy nên phát nguyện sanh về cõi nước ấy

4. Chú giải

‘‘Xá Lợi Phất, nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sanh về cõi Phật A Di Đà.’’ Ta có muốn sanh về Cực Lạc hay không? Tất cả đều do ta. Ta có hai hoàn cảnh. Một là hoàn cảnh ta đang hệ lụy khổ đau và hai là tuy ta đang ở trong hoàn cảnh ấy nhưng ta đã có tâm muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy. Vì vậy vấn đề là ta có muốn thoát hay không muốn thoát. Nếu ta muốn thoát, thì ta sẽ thoát được. Nghĩa là ngay lúc tâm mình phát nguyện thì mình đã có mặt ở Tịnh Độ.

Đoạn kinh thứ 19:

1.   原文本

舍利弗,如我今者,稱讚諸佛不可思議功德,彼諸佛等,亦稱讚我不可思議功德,而作是言:釋迦牟尼佛能為甚難希有之事,能於娑婆國土,五濁惡世,劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中,得阿耨多羅三藐三菩提。為諸眾生,說是一切世間難信之法。

舍利弗。當知我於五濁惡世,行此難事,得阿耨多羅三藐三菩提,為一切世間說此難信之法,是為甚難。

佛說此經已,舍利弗,及諸比丘,一切世間天人阿修羅等,聞佛所說,歡喜信受,作禮而去。

2. Dịch âm

Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghì công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghì công đức, nhi tác thị ngôn: "Thích-ca Mâu-ni Phật năng vi thậm nan, hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc độ, ngũ trược ác thế:   kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng-sanh trược, mạng trược trung, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-Bồ-Đề, vị chư chúng-sanh thuyết thị, nhất thiết thế-giới nan tín chi pháp".

Xá Lợi Phất! Đương tri ngã, ư ngũ trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-Bồ-Đề, vi nhất thiết thế-giới thuyết thử, nan tín chi pháp, thị vi thậm nan."

Phật thuyết thử Kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ-kheo, nhất thiết thế gian: Thiên, Nhân, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.

3. Dịch nghĩa

Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật thì chư Phật cũng xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi’’.

Xá Lợi Phất! Hãy biết rằng tôi ở trong đời ác ngũ trược, làm được việc khó khăn này : đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này, thật là điều rất khó!

Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và các tỳ kheo, hết thảy thế gian: trời, người, A Tu La v.v... nghe lời Phật dạy, hoan hỷ tin nhận, làm lễ mà lui

4. Chú giải:

Công đức của một bậc giác ngộ, ta không thể dùng tư tưởng mà hiểu thấu được, không thể dùng ngôn từ mà diễn tả được. ‘‘Phật Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm có. Ngay trong cõi Ta bà đầy năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược và mạn trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sanh những pháp môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin.’’

Kiếp trược: Kiếp có nghĩa là một khoảng thời gian, khoảng thời gian ấy có thể là năm mươi năm, bảy mươi năm hay một trăm năm...Khi ngắn thì gọi là tiểu kiếp, khi vừa vừa gọi là trung kiếp và khi dài gọi là đại kiếp.

Yếu tố vẩn đục thứ hai là kiến trược. Kiến tức là những cái thấy sai lầm, nói đủ là tà kiến. Tà kiến lại có năm loại căn bản:

Thân kiến: Cho rằng ta là thân này, ta đồng nhất ta với thân này.

Biên kiến: Vướng vào một bên, một thái cực.

Tà kiến: Những cái thấy đảo ngược.

Thứ tư là Kiến thủ kiến: kẹt vào một ý tưởng, một quan điểm. Chữ ‘‘thủ’’ ở đây có nghĩa là bám víu, là kẹt vào. Chữ ‘‘kiến’’ ở đây là kiến thức, ý niệm, nhận thức.

Thứ năm là Giới cấm thủ kiến. Giới đây là những kiêng cử, những cấm kỵ, những hình thức nghi lễ, những giáo điều hoặc những tín điều mà mình bị kẹt vào.

Phiền não trược là những thứ làm cho tâm ta bị vẩn đục như tham lam, sân hận, si mê, hiếu danh, kiêu mạn... Ở cõi Cực Lạc, không có những thứ phiền não ấy, hoặc có rất ít.

Chúng sanh trược tức là những lỗi lầm tội ác của chúng sinh như bất hiếu, không chịu giữ giới, ganh tỵ lẫn nhau, không hành xử bình đẳng, phân chia thành từng giai cấp để bóc lột lẫn nhau, cấu xé lẫn nhau.

Cuối cùng là mạng trược. Mạng trược ở đây tức là sự đi vòng quanh, là sự chìm đắm ở trong sanh tử luân hồi.

 

Bất khả tư nghị (不可思議), không thể nghĩ bàn. Tư ( 思), có nghĩa là nghĩ. Nghị ( 議), có nghĩa là bàn luận.

Ngũ trược (五濁), năm loại ô nhiễm. Năm yếu tố vẩn đục.

Tín thọ (信受),  tin tưởng, hành trì.

Tác lễ ( 作禮), biểu thị lòng tôn kính.

Nhi khứ (而去), lui về.

Để đến được thế giới gọi là Cực Lạc, người học Phật phải sống trong chánh niệm.  Danh từ Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Kinh được lặp lại rất nhiều trong Kinh văn A Di Đà. Hành trị Niệm giúp cho người tu có được Định và Tuệ. Có Tuệ giác, ta có được năng lực  đưa ta đến cõi Cực Lạc. Cõi đó không ở đâu xa,  ngay nơi chúng ta đang sống.

Học Phật, học lời giảng của Phật, phận con cháu chúng ta phải liễu tri lời dạy của Phật, để tiếp nối tổ tiên xiển dương Đạo pháp. Làm cho cây Đạo Phật ngày càng đơm hoa kết trái, giúp mọi người sống an vui, hạnh phúc như lời nguyện hàng ngày :

Phật nhật tăng huy

Pháp Luân thường chuyển

Phong điều vũ thuận

Quốc thái dân an

 

 

Xin cảm ơn quý Phật tử đã dành thời gian đọc chú giải Phật thuyết A Di Đà Kinh. Nam Mô A Di Đà Phật.

Ths. Hoàng Phước Đại, Đồng An



[i] https://hoavouu.com/images/file/hISynWAx0QgQAGYz/qianlong-038.pdf

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập