Khóa Trình “Tỉ Giáo Tôn Giáo Học’ Đặt Ở Chùa Giác Ngộ

Đã đọc: 1854           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nguồn gốc xuất hiện về so sánh tôn giáo học cũng do từ phát triển tôn giáo nhân loại học. Nếu không có con người sẽ không có tôn giáo, nên rốt cuối của tôn giáo là quan hệ đến khoa học của con người, thật khó dùng phương pháp của vật lý, hoá học, tức là phương pháp của khoa học tự nhiên để nghiên cứu và giải thích về tôn giáo.

Kiến trúc chùa Giác Ngộ được xây dựng 7 tầng, phía sau còn dựng một bảo tháp cao ngất trong đô thị sầm uất. Thượng toạ Thích Nhật Từ hoạch định dành 2 lầu để làm: thư viện chứa đựng ‘bách khoa toàn thư Phật học’, học đường để dạy môn học Tôn giáo học cho sinh viên thuộc Học viện và nhà sách nhằm lan toả lượng sóng tri thức văn hoá Phật giáo.

Tỉ giảo tôn giáo học=Tôn giáo học (比较宗教学=宗教学) là môn học của phương Tây truyền vào. Môn này hiện được thịnh hành trong các trường đại học trên thế giới, đòi hỏi người học cần có kiến thức bao quát và ít nhất phải có nhận thức nhất định về ngữ nghĩa của hai tôn giáo, hai đối tượng để so sánh và nắm bắt ngoại ngữ cổ đại và ngoại ngữ hiện đại và quan hệ mật thiết việc so sánh ngữ ngôn học. Nguồn gốc xuất hiện về so sánh tôn giáo học cũng do từ phát triển tôn giáo nhân loại học. Nếu không có con người sẽ không có tôn giáo, nên rốt cuối của tôn giáo là quan hệ đến khoa học của con người, thật khó dùng phương pháp của vật lý, hoá học, tức là phương pháp của khoa học tự nhiên để nghiên cứu và giải thích về tôn giáo. Năm 1870 nhà Tôn giáo học nổi tiếng Max Müller lần đầu tiên nêu lên khái niệm về Tôn giáo học. Trước đó cũng có người nghiên cứu về tôn giáo, nhưng mãi đến thời đại của ông mới dốc sức hệ thống hoá những tư liệu nghiên cứu này, dùng phương pháp đặc định để chỉnh lý chúng, khiến trở thành một môn khoa học. Môn học kích hoạt tiến trình đào sâu phương pháp nghiên cứu so sánh về ngữ ngôn học, tham chiếu sử tôn giáo và tôn giáo học, lịch sử của tôn giáo và kết cấu của tôn giáo, văn hiến truyền kỳ vào thời hồng hoang ở vùng đất sa mạc hoang vu xa xưa có thần linh, trời đất, núi sông cho đến sùng bái tổ tiên, sùng bái linh hồn, sùng bái chim muông hay cây cỏ.

Tác phẩm văn học rất vĩ đại và rất xa xưa trên thế giới, có Sử thi của nhà thơ cổ đại xuất sắc người Hi Lạp Hómēros, văn học Phệ đà của Ấn Độ, Kinh dịch của Trung Hoa và Cựu Ước của Do Thái đều là sản vật của tôn giáo.[1] Người vạch lối cho bộ môn này ở Trung Hoa có thể nói là Dương Văn Hội, được người Đại Lục tôn là “người cha phục hưng Phật giáo Trung Hoa cận đại”[2]. Năm ấy, ông đến Nhật Bản truy tìm điển tịch Duy thức của trong nước đã bị tản mác, theo thông tin và nghe đến tình hình về Phật học ở châu Âu rồi thông qua giới thiệu của học giả nổi tiếng Phật giáo Nhật Bản Nanjō Bunyū, cũng là lúc phương pháp nghiên cứu học tiên tiến của phương Tây mới truyền vào, nhất là phương pháp nghiên cứu tỉ giảo Tôn giáo học tiến vào trong nước, sau đó ông đã khai sáng nghiên cứu Phật học Trung Quốc trong kỉ nguyên mới.[3] Thời đại của ông đã xoáy sâu vào việc khảo chứng, chỉnh lý, ấn loát rất nhiều kinh điển Duy thức ở Nơi khắc kinh Kim lăng. Năm đó ông từ Nhật Bản mang về nước rất nhiều cổ bản của trong nước bị thất thoát, trong ấy có một bộ phận tương đương cũng là kinh điển Pháp tướng duy thức, sau đó có học trò Âu Dương Cánh Vô hay Lữ Trừng, Vương Ân Dương tiến thêm một bước chú sớ và nghiên cứu những kinh điển này. Những thành quả này được biểu hiện phản ánh trong Nội học (内学) và China Nội học viện tùng san (支那内学院丛刊.)[4]

Thích Tuệ Sĩ dịch nguyên bản cổ ngữ Sanskrit A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, phần chú thích đã dùng phương pháp nghiên cứu đối chiếu qua nhiều thứ ngôn ngữ, nên hiện nay được xem là độc bản được dịch xuất trực tiếp từ Sanskrit của Thế Thân ra Việt văn mà không phải uống ngụm nước giữa nguồn Hán văn-bản Hán dịch của Huyền Trang. Hiện nay dạy cho học trò về các tiết học Câu-xá luận cũng dùng hệ ngữ ngôn học để tham chiếu và tìm ra lỗ hỏng trong các văn bản quan hệ. Ngoài ra còn dịch Thành duy thức luận và cước chú nhiều thứ ngôn ngữ, được trường Phật học dùng làm tài liệu tham khảo. Luận này còn gọi Tịnh duy thức luận, gọi tắt Duy thức luận. Huyền Trang thời Đường đã phát triển sáng rạng Pháp tướng tông, sau có học trò Khuy Cơ cống hiến rất to lớn trong việc phát triển và hoàn thành đại nghiệp tông này. Khuy Cơ soạn viết Thành duy thức luận thuật ký (成唯识论述记), học trò Tuệ Chiểu trứ thuật Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng (成唯识论了义灯), Trí Chu soạn Thành duy thức luận diễn bí sao (成唯识论演秘钞), trở nên “Duy thức tam đại bộ” (唯识三大部) nổi tiếng. Huyền Trang còn có học trò Viên Trắc người Tân La được xem là một biệt phái-Tây Minh phái đối lập với Khuy Cơ, đã trứ thuật Thành duy thức luận sớ (成唯识论疏). Có người cho rằng phái này trước thuộc Quý tộc phái, sau thuộc từ Bình dân phái. Luận này lưu truyền rộng rãi vào thời đại Nại Lương (710~784) Nhật Bản. Bởi giáo nghĩa của luận sâu thẳm nên sau đó xuất hiện nhiều bản sớ sao, sớ giải, giảng giải.

Năm 2000 Thích Nhật Từ sau khi du học Ấn Độ trở về nước, lên bục giảng thuyết trình về Tôn giáo học cho tăng ni sinh viên KV. Nắm bắt kiến thức nhất định về tôn giáo nên dám mạnh dạn phê phán gay gắt vạch rõ âm mưu ngầm phá Phật giáo của tín hữu Ki Tô giáo. Đây có thể xem là tăng nhân đã nghiên cứu giáo điển thuyết minh rất sớm về tôn giáo học, còn biên soạn Từ điển Từ Vựng Phật Học Đối Chiếu Pali-Việt, Sanskrit-Việt, Tây Tạng-Việt, Nhật-Việt, Hoa-Việt và Triều Tiên-Việt, nhưng chưa xuất bản. Thích Nhuận Châu dịch trứ gần 20 tác phẩm của các học giả nổi tiếng thế giới người Đức người Anh như: Max Müller, Gadjin M. Nagao; phần cước chú, chú thích, dẫn thích đã  đối chiếu ngôn ngữ Phạn-Hán-Anh-Nhật, còn biên soạn Từ điển: Thuật ngữ Phật học đối chiếu (Buddhist Terms)… Nhưng những bản dịch và soạn viết này vẫn chưa xuất bản, chỉ lưu hành nội bộ. Là người rất sớm đã dùng phương pháp nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ. Quyển Lịch sử phật giáo Trung Hoa cổ đại-Đối chiếu giữa các Tôn giáo du nhập[5] của Giáo sư Tôn giáo học Huỳnh Hạ Niên (hiện công tác tại Viện nghiên cứu tôn giáo và khoa học xã hội ở Bắc Kinh, phó chủ biên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo thế giới), phần 3 của sách: 1, tỉ giảo nghiên cứu về “Thập tứ hành tướng” Phật điển Pāli và “Cửu tâm luận” Phật điển Hán dịch. Y cứ cổ bản: Duy thức thuật ký của Huyền Trang, Duy thức thuật yếu của Khuy Cơ, Tỉnh hồ sớ của Pháp Hỷ và Kiêu Thường Duy và Triết học cương yếu của Đái Duy Tư, còn văn hiến cận đại có: Ấn Độ Phật giáo nguyên lưu lược giảng của Lữ Trừng, Thượng toạ bộ Cửu tâm luận lược thích của Thang Dụng Đồng, Thuyết hữu phần thức của Kim Khắc Mộc, Duy thức xu yếu để luận giải về tâm lý học Phật giáo; 2, Tỉ giảo tôn giáo học: y cứ Trung Quốc cảnh giáo của Chu Khiêm Chi dịch, Nhất Thần luận hay Đại Tần Cảnh giáo bi để so sánh quá trình du nhập, tiêu chuẩn luân lý thiện ác nhân quả trong Phật giáo như linh hồn, hồn phách, thần thức của tôn giáo Phật giáo, Cảnh giáo, Cơ-đốc giáo thời Đường. Sách này như là “Bức tranh bao quát về tỉ giảo tôn giáo, tác giả khái quát về Cơ-đốc giáo và Cảnh giáo trong sự so sánh với phật giáo tại Trung Hoa…Đây là dữ liệu quan trọng về tỉ giảo tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hoá”.[6]Có thể xem đây là quyển sách xuất hiện khá sớm về tỉ giảo nghiên cứu tôn giáo.

Thạch động Đôn Hoàng được khai quật hơn 700 năm nay. Trong Đôn Hoàng tạng kinh động (敦煌石經洞)dung chứa kinh điển Phật giáo, Thánh kinh Cảnh giáo, chân kinh Nho giáo, văn hiến Đạo giáo. Đây là kho tàng tư liệu vô giá cho các nhà tôn giáo học khi nỗ lực đào sâu nghiên cứu so sánh và bổ sung giáo điển gốc của tôn giáo. Tháng 8 năm 1925 học giả Nhật Bản Ishihama Juntaro lên bục giảng Đại học Osaka đã sử dụng qua cụm từ Đôn hoàng học. Năm 1930 nhà sử học, nhà sử học tôn giáo nổi tiếng Trần Viên trong Lời tựa của Đôn Hoàng kiếp dư lục (敦煌劫余录) có khái niệm dùng từ Đôn Hoàng học. Năm 1979 Trường đại học Lan Châu tỉnh Cam Túc thiết lập Trung tâm nghiên cứu Đôn Hoàng trong đó có bộ môn Đôn Hoàng học (敦煌学)

Phổ Đà-Xuyên Mộc-BRVT

 



[1] Tham khảo Pháp sư Thánh Nghiêm, So sánh tôn giáo học

[2] tham khảo Huỳnh Hạ Niên, Thích Trung Nghĩa dịch, Nhân vật phật giáo Tích Lan cận đại, phần “So sánh quan điểm phục hưng Phật giáo của Dương Văn Hội và Đạt Ma Ba La,”, tủ sách Đạo Phật ngày nay, Nxb Hồng đức, 2015

[3] tham khảo Tây trào khước từ Đông doanh lai-Nhật bản Đông bản nguyện tự dữ Trung quốc cận đại Phật học đích nhân duyên (西潮却自东瀛来—日本东本愿寺与中国近代佛学的因缘), trong Cát Triệu Quang tự tuyển tập (葛兆光自选集), Quảng tây Sư phạm Đại học xuất bản xã, tr.138-156

[4] tham khảo bài viết Nghiên cứu duy thức học trong trăm năm (百年的唯识学研究) của Gs. Huỳnh Hạ Niên (黄夏年), đăng trên Động thái khoa học xã hội [Vũ Hán] ([武汉]社会科学动态),[4]kì 1, 2000, tr.25~28,11

[5] Thích Trung Nghĩa dịch, Nxb Hồng Đức, 2014

[6] Sđd, ‘Lời giới thiệu’ của TT. Thích Nhật Từ

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập