09. Kinh từ bi

Đã đọc: 5217           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

9. KINH TỪ BI[1]

 

1. Người sáng suốt cầu mong hạnh phúc,

Hưởng hòa bình, cực lạc, Niết-bàn:

Thuận nhu, chính trực, đoan trang,

Hiền lương, khiêm tốn, đối nhân dung hòa.

2. Sống cao cả, kiên trì mục đích,

An cõi lòng, chẳng thích rộn ràng.

Luôn luôn làm chủ giác quan,

Không còn liều lĩnh, dục trần tránh xa.

3. Không hành động xấu, tà nhỏ nhít,

Khỏi sợ ai chỉ trích, phê bình.

Cầu mong tất cả chúng sinh:

Tươi vui, khỏe mạnh, tinh thần lạc an.

4. Con cầu nguyện sinh linh bốn loại,[2]

Sống ở đâu trên cõi trần gian,

Béo, gầy, lớn, nhỏ… mạnh lành,

Khắp nơi đều được bình an cõi lòng.

5. Có hình tướng, hoặc không hình tướng,

Ở gần ta, hoặc sống xa ta,

Đã sinh, hoặc sắp sinh ra,

An khang, hưởng được hà sa phước lành.

6. Không lừa dối vì tham lợi ích,

Không khinh người, chẳng thích ba hoa,

Khi vui, lúc giận… buông thư,

Không gây tổn hại, tâm từ rải ban.

7. Như từ mẫu, tình thương lay láng,

Xem chúng sinh bình đẳng như con.

Cho dù thân mạng thương vong

Chở che, giúp đỡ, tình thương tràn đầy.

8. Rải từ ái khắp nơi, vũ trụ,

Trùm mười phương, khoảng giữa hư không,

Không còn chướng ngại trong lòng,

Không hờn, không giận, không vương

hận thù.

9. Gìn chính niệm mỗi khi đi, đứng…

Lúc ngồi, nằm; vận động tay, chân.

Định thiền tu tập, chú tâm,

Sống đời cao cả, thanh nhàn, thảnh thơi.

10. Đừng lầm lạc vào dây tà kiến,

Đạo đức dầy, tuệ giác sáng soi,

Ái tham dứt sạch: Thảnh thơi,

Luân hồi kết thúc, an vui niết-bàn.

11.Người tu tập từ tâm vững chãi

Mười một điều lợi ích sau đây:[3]

Lên giường thì ngủ rất nhanh;

Đầu hôm thức giấc, tinh thần lạc an;

12. Không ác mộng làm tâm sợ hãi;

Được mọi người quý mến, thương yêu;

Long thiên, hộ pháp thường theo;

Phi nhân kính trọng, gặp nhiều thuận duyên;

13. Lửa, thuốc độc, kiếm gươm khó hại;

Vừa tập trung liền được nhất tâm;

Vui tươi, thần thái nhẹ nhàng;

Vãng sinh nhanh chóng; tái sinh cõi trời.



[1]. Tựa tiếng Pali là “Karaṇīya Mettā Sutta”, có xuất xứ từ Kinh Tập (Sutta Nipāta, 1.8) thuộc Tiểu bộ Kinh (Khuddaka Nikāya). Tôi dịch Kinh này dựa vào bản tiếng Anh của The Amaravati Sangha, có đối chiếu các bản dịch của quý Hòa thượng Ñanamoli, Piyadassi và Đại đức Thanissaro.    

 

[2]. Bốn loài sinh từ bào thai, sinh từ trứng, sinh từ sự ẩm thấp, sinh do biến hóa.

 

[3]. Ba khổ thơ cuối là nội dung bài Kinh lợi ích của tâm từ bi (Mettanisamsa Sutta) thuộc Kinh Tăng Chi, chương 11 pháp, bài kinh 16. Theo ấn bản của Hội thánh điển Pali thì đây là Kinh Tăng chi, tập V, trang 342 (A.V. 342).             

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập