Buddhist Today

Mang Chi Tảng Đá Trong Tâm

Tam giới duy tâm là: ba cõi chỉ là tâm. Vạn pháp duy thức là: tất cả các pháp trong cõi này đều là thức. Nhận định như thế không có gì xa lạ. Đức Phật cũng đã từng dạy như thế. Nói, tất cả hiện thành, là nói tất cả đã trọn đầy đủ rồi, không cần khiêng tảng đá ngoài tâm vào trong tâm làm chi. Nó thế thì cứ như thế.

Nhiều học giả và người dân thường gọi tắt con đường học Phật là tu tâm, dưỡng tánh, đôi khi gọi Cửa Phật là Cửa Không. Tuy nhiên, bước đầu tiên và cũng là bước quan trọng cho tới tột cùng phải là Giới, vì Đức Phật nói rằng con đường giải thoát phải là Giới-Định-Tuệ. Cả ba phần có khi là một lộ trình thứ tự, và đôi khi là một bước đi hội nhập cả ba, cũng đều là tu tâm. Do vậy, phần lớn những cuộc vấn đáp trong Thiền sử là nói về tâm.

Trên trang Wikipedia, mục từ Pháp Nhãn Văn Ích, ghi lại một giai thoại khi ngài Pháp Nhãn (885-958) kết bạn với hai vị tăng Thiệu Tu và Hồng Tiến cùng đi hành cước, gặp mùa tuyết rơi, ghé trú tuyết ở La Hán Viện, nơi ngài La Hán Quế Sâm (867-928) trụ trì.

Wikipedia viết: “Tuyết tan, cả ba đều rủ nhau đi tiếp. Quế Sâm tiễn chân ra cổng chỉ phiến đá hỏi: Thường Thượng toạ nói: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, như vậy thì phiến đá này là trong hay ngoài tâm? Sư không đáp được bèn ở lại cầu học. Ở lại hơn một tháng mà mỗi lần Sư trình kiến giải nói đạo lí đều bị Quế Sâm gạt đi nói Phật pháp không phải như vậy. Sư thưa: Con đã hết lời cùng lí rồi. Quế Sâm bảo: Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành. Qua câu này, sư đại ngộ triệt để.”

Tam giới duy tâm là: ba cõi chỉ là tâm. Vạn pháp duy thức là: tất cả các pháp trong cõi này đều là thức. Nhận định như thế không có gì xa lạ. Đức Phật cũng đã từng dạy như thế. Nói, tất cả hiện thành, là nói tất cả đã trọn đầy đủ rồi, không cần khiêng tảng đá ngoài tâm vào trong tâm làm chi. Nó thế thì cứ như thế.

Trong Kinh The All Sutta, SN 35.23, Đức Phật dạy rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: ‘Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác’, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!

Như vậy, toàn bộ thế giới này chỉ là tương tác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ xúc chạm, và được tư lường. Néu có cái gì khác, hằn là ngoài thế giới của chúng ta.

Vậy thì, chúng ta trả lời sao với câu hỏi: phiến đá này là trong hay ngoài tâm?

Đối với một người thường trực sống trong thức tỉnh với pháp ấn vô thường và vô ngã, họ sẽ không bận tâm chuyện phiến đá trong hay ngoài tâm nữa, vì ngay tới phiến đá và ngay như cái gọi là tâm cũng không có chỗ để chỉ ra và nắm bắt thì lấy gì mà nói trong hay ngoài. Chúng ta có thể nhớ tới câu chuyện bà già bán bánh rán gặp luận sư Đức Sơn Tuyên Giám. Thiền sử ghi lại rằng bà già xin cúng dường bánh điểm tâm (ăn sáng, còn có nghĩa là chỉ tâm) cho sư nhưng bà cụ xin sư trước tiên hãy trả lời câu hỏi: Trong kinh Kim cang có nói ‘Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc' vậy thì Thầy muốn điểm tâm nào?

Trong cái nhìn nhà Phật, đó là cái nhìn hiển nhiên. Bởi vì không ai có thể nắm bắt tâm quá khứ vì đó là cái đã qua, không ai có thể nắm bắt tâm vị lai vì nó chưa tới, không ai có thể nắm bắt tâm hiện tại vì nó là hiển lộ từ dòng chảy xiết vô thường và vì tự thân nó vô ngã. Tâm là cái không hình dạng, tuy rằng tâm cho chúng ta kinh nghiệm, thấy, nghe... về thế giới trong và ngoài thân mình. Tâm sẽ hiển lộ bất thiện pháp khi dính vào tham sân si, và sẽ hiển lộ thiện pháp của từ bi trí tuệ sau khi gột sạch lậu hoặc.

Trong Tạng Pali có ba chữ về tâm: manodhātu, dhammadhātu, manoviññāṇadhātu.

Bhikkhu Sujato dịch là: the mind, thoughts, and mind consciousness.

Bhikkhu Bodhi dịch là: the mind element, mental-phenomena element, mind-consciousness element.

Chuyển ngữ sang tiếng Việt nghĩa là: tâm, niệm (hay ý), và thức.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng tâm chúng ta sẽ dẫn tới cái mà chúng ta gọi là thế giới của chúng ta. Hai bài kệ đầu tiên của Kinh Pháp Cú được Thầy Minh Châu dịch là:

1. “Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo.”

2. "Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo,

Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

Như bóng, không rời hình.”

Nghĩa là, tâm và ba cõi thế giới gắn liền nhau. Nhưng thực tướng là, Đức Phật đã dạy minh bạch rằng tâm là không, và thế giới cũng là không. Các pháp như thế nào thì cứ để mặc như thế. Hễ ai còn để tâm vướng bất kỳ khung quy ước nào (dù là cao, thấp, vuông, tròn, trong, ngoài...) trong dòng chạy xiết vô thường và vô ngã đều là hỏng.

Trong Kinh SN 35.85, Đức Phật dạy rằng, qua bản dịch của Thầy Minh Châu: “Vì rằng, này Ānanda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã? Mắt, này Ānanda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã. Và vì rằng, này Ānanda, không có tự ngã, hay không thuộc tự ngã nên được gọi trống không là thế giới này.”

Có lẽ trừu tượng nhất trong suy nghĩ của nhân loại là khái niệm về Tánh Không. Đặc biệt là trong thời của Đức Phật, khi chưa có chữ viết, và để ghi nhớ những gì học được thì cần tới hình ảnh. Do vậy, Đức Phật đã dùng tới hình ảnh để mô tả về khái niệm Không. Trong Kinh SN 22.95, Đức Phật nói rằng Sắc ví như đống bọt nước, Thọ ví như bong bóng nước, Tưởng ví như ráng nắng mặt trời, Hành ví như cây chuối (tước vỏ cây chuối sẽ thấy không có gì hết), Thức ví như trò ảo thuật, và do vậy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

“...phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?”

Tương tự, thọ, tưởng, hành, thức cũng là trống không, rỗng không, không có lõi cứng.

Bát Nhã Tâm Kinh hằng ngày tụng ở các chùa Bắc Tông ghi rằng: “Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế. Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt...”

Bất kỳ ai giữ cái nhìn thường trực như các câu vừa dẫn của Bát Nhã Tâm Kinh là sẽ giải thoát, không cần tu luyện gì phức tạp.

Tương tự, trong Kinh SN 12.70 Sutta (của Tạng Pali) và Kinh SA 347 Sutra (của Tạng A Hàm), Đức Phật dạy rằng những người thường trực thấy thân và tâm là vô ngã tất nhiên sẽ giải thoát, sẽ trở thành A la hán, mà không cần tu luyện bất kỳ thần thông nào phức tạp. Kinh kể chuyện một du sĩ ngoại đạo là Susima (Tu Thâm, theo phiên âm ở bản A Hàm), tới gặp một nhóm các vị sư đã được Đức Phật công nhận là đã chứng quả A La Hán, thành tựu giải thoát. Susima hỏi các vị sư này rằng có phải các sư đã đắc tứ thiền, hay tam thiền, hay nhị thiền, hay sơ thiền. Các vị sư đó nói rằng họ không có các định lực như thế. Susima hỏi các vị sư đó rằng vì sao các sư tự biết đã chứng quả A la hán. Các sư nói rằng các sư đã chứng được tuệ giải thoát.

Susima mới hỏi Đức Phật, và được Thế Tôn giải thích về trường hợp các vị sư tu chưa đắc sơ thiền mà đã giải thoát là, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susīma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Bhikkhu Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.” (Susima, trước tiên là biết về sự ổn định an trú của Pháp, sau đó là biết về Niết bàn.)

Bản dịch của Bhikkhu Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.” (Susima, trước tiên là biết về sự ổn định an trú của các nguyên lý tự nhiên. Sau đó sẽ biết về giải thoát.)

Pháp trú nơi đây được ghi chú là thường trực thấy Luật duyên khởi, tức là thấy vô ngã.

Chúng ta cũng có thể nhớ tới ngài Kiều Trần Như đắc pháp sau khi chỉ nghe mấy chữ của Luật duyên khởi: vì cái này có, cho nên cái kia có. Người nào thấy như thế, trong tâm sẽ không còn vướng gì nữa. Lúc đó sẽ tự nhàm chán mọi thứ, sẽ ly tham, và rồi sẽ biết là đã giải thoát.

Nói rằng tâm là cái không được thấy, là Tánh Không, nhưng không có nghĩa rằng tâm không là gì hết. Bởi vì, tu theo Phật chính là tu để hiển lộ tâm vô lậu. Nơi đây, chúng ta dịch Kinh SN 43.14-43 theo bản Anh văn của Bhikkhu Bodhi:

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng dạy cho các ông về Chân lý và con đường dẫn đến Chân lý…. Ta sẽ giảng dạy cho các ông về bờ bên kia … về cái vi tế … cái cực kỳ khó thấy … cái không già … … cái kiên định … cái không hoại diệt … cái vô tướng … cái không hý luận … cái an tịnh … cái bất tử … cái siêu việt … cái cát tường … … cái an toàn …. sự đoạn diệt của tham ái … cái kỳ diệu … cái hy hữu … cái vô bệnh … trạng thái vô bệnh … Niết-bàn … cái vô khổ … sự ly tham … … sự thanh tịnh … sự giải thoát … cái vô chấp … hòn đảo … nơi nương tựa … chốn dung thân … chỗ quy y …”(1)

Do vậy, nói tâm là Không, nói thế giới là Không, nhưng thực sự, người học Phật tu cho tận cùng là sẽ nhận ra Niết bàn. Nơi đó là tất cả các phẩm tính trong đoạn văn Kinh vừa dẫn, đó là cái Cực kỳ khó thấy, cái Không già, Cái kiên định, cái Không hoại diệt, cái Vô tướng... Nơi tâm này, hiển nhiên là không có chỗ để bàn, dù là cao thấp, ngắn dài, trong tâm hay ngoài tâm.

GHI CHÚ:

(1) Kinh SN 43.14-43: https://suttacentral.net/sn43.14-43/en/bodhi

Bình luận