Trang chủ Văn học Tuỳ bút Đứng từ diễn biến quan niệm vật lý học thời gần đây để bàn về Phật giáo và khoa học

Đứng từ diễn biến quan niệm vật lý học thời gần đây để bàn về Phật giáo và khoa học

Đã đọc: 174           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Vật lý học là nền tảng của tri thức khoa học vốn có, cho nên phải đứng từ diễn biến quan niệm vật lý học thời gần đây để bàn về Phật giáo và khoa học.

Phật giáo ngoài khế lý, còn rất xem nặng về khế cơ. Muốn một người hiểu rõ chân nghĩa Phật giáo thì phải đánh thức niềm tin, phải lập thuyết hợp với trình độ để thích hợp nhu cầu đúng lúc. Khoa học ngày nay phát rạng. Nếu đứng từ góc độ khoa học để nhận thức Phật giáo, điều rất thực tế là phải dùng phương tiện bằng đường tắt để giải thích Phật giáo. Vật lý học là nền tảng của tri thức khoa học vốn có, cho nên phải đứng từ diễn biến quan niệm vật lý học thời gần đây để bàn về Phật giáo và khoa học.

I. XÂY DỰNG HAI LÝ THUYẾT LỚN  

Từ năm 1900 về sau, vật lý học thời gần đây sản sinh ra hai hệ thống lý thuyết lớn:

1, Thuyết Lượng tử (量子论) là đứng từ đơn vị thế giới quan bé nhỏ của đơn vị vật chất để bàn về bản chất và hiện tượng sự vật.

2, Thuyết Tương đối  (相对论) là đứng từ thế giới quan để xem xét kết cấu hoàn chỉnh vũ trụ rộng lớn của không gian và thời gian.

Việc sinh sôi của thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối hiện nay phải mượn Phật giáo để giải thích về tính khoa học và tính thời đại. Trong Phật giáo có rất nhiều nguyên nhân quan trọng, nên thật không dễ dùng quan niệm để tiếp nhận, rất khó trình bày rõ ràng cặn kẽ về lý thuyết, cho nên sau đó chỉ nhìn lướt qua và chỉ chứng nghiệm tính chính xác của nó.

Không bàn về phương pháp thực nghiệm của nhà khoa học phát minh, thì mọi người cũng không có cách gì để đạt tới tính chất đặc hữu của một đơn vị hay một hạt cực nhỏ. Đối tượng họ thể nghiệm cũng là việc tập hợp một cụm, một nhóm hạt tử mà không phải hàm số tự nhiên hạt tử lẻ loi. Theo thống kê, đối mặt với vấn đề tính khả năng thì kết quả vật chất cũng biến thành tích phân cả không gian.

Cái thấy trong lượng tử học chính là giải thích chỗ mà con người thấy được sự vật, chẳng qua cũng là hình tượng bên ngoài của nó, mà thực không phải mặt mũi xưa nay của nó. Dựa vào tánh không duyên khởi trong Phật giáo thì tất cả vũ trụ vạn pháp (pháp là tên gọi vốn được thay thế sự vật) không có tính tự tồn tại, không có tính bất biến, cũng không có tính thực tại, vạn pháp vốn có tính pháp bản nhiên không tịch.

Kết luận và thuyết Lượng tử này nương nhau rồi đạt tới hoàn toàn phù hợp với hiện tại. Kinh Kim Cang ghi Đức Phật dạy các đệ tử, là tất cả pháp hữu vi đều như bọt nước mộng huyễn, như điện chớp, như sương ban mai, tất cả vạn pháp hiện bày trước mắt, nhưng không phải bản chất của nó, chẳng qua được tồn tại tính lâm thời của hiện tượng hoạt động. Phật giáo gọi quan niệm tồn tại này là giả hữu (假有). Vật lý học hay nhấn mạnh đến “Trong từ ngữ vốn thuộc trừu tượng thì lượng tử vật lý học này, căn bản không có một chữ ‘chân’ (真)”. Phật giáo đã chứng minh rất dồi dào, phù hợp về quan niệm việc thật giả.

II. NGUYÊN LÝ TÍNH KHÔNG XÁC ĐỊNHVÀ NHẬN THỨC LUẬN PHẬT GIÁO

Vào năm 1927, nhà vật lý học Heisenberg[1] công bố thiên văn chương nổi tiếng Bất xác định tính nguyên lý[2] (不確定性原理), làm cho mọi người không có cách nào để xác định hạt tử tuyệt đối và tính chất vật lý chân thật. Chiếu theo giải thích của vật lý học, thì đó cũng là xác định hiện tượng sản sinh tất nhiên của hạt tử vốn có. Con người cũng không có cách nào trình bày nhanh chóng theo chỉ tiêu trình tự.

Thực ra, không có cách nào cả. Nhận thức luận Phật giáo trước giờ cũng mạnh dạn thừa nhận và tiếp thu điều này. Phật giáo cho rằng mọi người muốn hiểu rõ thế giới thì chỉ cần một phần rất nhỏ trong cả vũ trụ đó là giác quan của họ, sẽ tạo ra thế giới. Đức Phật lúc đầu thành đạo dưới cội bồ-đề, Ngài dạy: “Tất cả chúng sinh đều có đủ đức tướng trí tuệ Như Lai, nhưng do chấp trước vọng tưởng nên không thể chứng đắc”.

Lời này mang ý nghĩa phá sạch hết thảy nơi nghiệp chướng. Phật giáo nói suốt trong quá trình nhận thức đều dựa vào ý mà sinh ra thức, có ý thức xác định mới tiếp thu và kế thừa lạc tạ ảnh tượng ngoại duyên năm thức (năm thức trước trong tám thức), rồi phát ra nhận thức xác định. Nếu trong ý thức vốn bị dơ bẩn, có tồn tại ngã chấp, ngã kiến thì tác dụng nhận thức vĩnh viễn không có cách nào để đạt tới tròn đầy, chỉ thấy trở ngại, bản năng tĩnh lặng vốn có trong con người (tức là Phật tánh hay trí tuệ Như Lai), rồi sau đó vứt bỏ, mới dẫn tới dựa vào trí mà không dựa vào thức, chuyển thức thành trí, xông tới phá vỡ giới hạn nhận thức vốn có trong con người, rốt ráo giác ngộ chân tướng vũ trụ nhân sinh.      

Việc phát triển nghiên cứu phân tử, nguyên tử, kết đọng vật chất đã dẫn đến một chuỗi giải thích rất hoàn mỹ về tánh không duyên khởi và nhận thức luận của Phật giáo. Đối diện với loài người là chủ đề quan trọng trong việc nỗ lực của mọi người. Cho nên trước mắt phải trải qua việc triển khai mới mang đến kết quả khả quan.

III. NGUYÊN LÝ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI VÀ NHẬN THỨC THỜI GIAN, KHÔNG GIAN CỦA PHẬT GIÁO

Năm 1905, Albert Einstein[3] phát minh thuyết Tương đối. Ông xem không gian cũng chỉ là một thứ hình thức trực giác. Không gian (空间) cũng là tác dụng sát-na sự vật của tâm thức và cảm tưởng qua biểu tượng tri giác, rồi phản ứng ra một dạng khái niệm tri giác. Nếu tách rời tác dụng ý thức này, thì bản thân không gian cũng không thể tồn tại.

Không những không gian như thế, mà thuyết Tương đối cũng đem vứt bỏ lần lượt quan niệm không gian tuyệt đối. Albert Einstein nói, thời gian chẳng qua là một loại trình tự trong điều kiện phát sinh, ngoài vốn trình tự này để tập hợp cự ly mỗi một nguyên tố thì không tồn tại độc lập khác. Nên thời gian cũng là một dạng khái niệm sản sinh tác dụng tri giác. Dựa vào Phật giáo thì hữu tình là thể cộng tồn, được dựa vào hoạt động tâm lý thân và tâm. Từ xưa đến nay là từ ngoài mà có trong (từ thức đến tâm), hay từ trong mà có ngoài (từ ý đến thức) đều không ngừng tuôn chảy.  

Qua nhìn thấy thế giới rộng lớn, thuyết Lượng tử cho biết chuyển động hạt tử nhỏ là căn bản vật chất khác với hạt tử lớn. Như vậy, thuyết Tương đối cũng chứng minh không thể dựa vào cái thấy hành động chậm chạp của sự vật để phán đoán tốc độ hiện tượng tương đối cao. 

Dựa theo nguyên lý thuyết Tương đối của Albert Einstein, phỏng đoán nếu có một ai tiếp cận hoạt động tốc độ ánh sáng thì tim đập của họ cũng cùng tương đối chầm chậm lại và hít thở tất cả tác dụng sinh lý. Do hạn chế việc phát minh, nên lời phỏng đoán này đến nay vẫn chưa được trực tiếp chứng thực. Nhưng chiếu theo thể nghiệm tôn giáo đạo Phật, thì gốc công phu tu tập thiền định sẽ khiến lòng chuyên chú một cảnh, khắc chế làn sóng không vọng niệm, sẽ đi đến khắc sâu tất cả tác dụng sinh lý. Việc này thực sự đã được diễn ra trước mắt.

Trải qua thời gian lưu trữ (còn xem là hiện tại vĩnh hằng) mang tính tương đối tạm bợ, vận hành nhanh chóng (trong thực tế thì ý nghĩa hai dạng vật lý này tương đồng) để thay thế vật chất. Phật giáo đã đứng từ lĩnh vực tinh thần để chứng thực thuyết Tương đối vật lý và đoán trước quan niệm thời gian.      

IV. NGẤM VÀO KHÔNG GIAN BỐN CHIỀU

Theo thuyết Tương đối thì giữa không gian và thời gian cũng là tương đối. Đem vũ trụ làm từ một thêm lên không gian ba chiều, chia liên tục không gian bốn chiếu trên hàm số thời gian, nhưng cũng được xem là điều rất bình thường. Quan điểm chia liên tục không gian bốn chiều chính là nền tảng của vũ trụ luận và tương đối luận, vì vậy khi giải thích vũ trụ thì cần suy nghĩ khách quan mà không được tách rời thời gian và không gian. Như nhà toán học người Đức Minkowski[4] là người đầu tiên phát minh định lý “Toán học chia liên tục theo thời gian và không giang”, “Sớm chia không gian và thời gian thì tất cả sẽ mau thành bọt nước vô hình. Chỉ có kết hợp ổn đáng hai dạng này, mới bảo trì đôi chút chân thật.” 

Phật giáo nhận thấy cả không gian và thời gian cũng là “Từ sắc nên có cái vô sắc. Cái vô sắc gọi là tướng hư không”, cũng “Bởi không gian vốn có thời gian, nếu rời không gian thì làm gì có thời gian”. Nói rõ ra, giá trị này cũng không tồn tại sắc pháp vật chất, tức là không đạt tới tướng không gian. Còn thời gian cũng từ đó mà tồn tại sự vật và dấy lên biến động. Do đó tách rời tưởng tượng nhân tố thời gian thì tướng tồn tại không gian cũng không hợp với chân tướng. Đã không thể tồn tại chân tướng thì làm sao có được tướng không gian? Cho nên không thể chia cắt thời gian và không gian. Chỉ có một thể không gian và thời gian thì pháp mới hiện bày rõ tất cả chân tướng. Đó là nhận thức thời gian và không gian của Phật giáo; nó cũng là một khái niệm liên tục của bốn chiều.     

Đồng thời Phật giáo còn tiến thêm một bước, nêu ra nhờ vào kinh nghiệm chủ quan của con người mà nhận thức vũ trụ nhân sinh được chia quan điểm không gian và thời gian. Bản thân nó có đủ tác dụng quán tính rất lớn, từ đó khiến mọi người biết tất cả lý do tồn tại tương đối, cũng từ đó mà nảy sinh nhận thấy nhầm lẫn tướng thế gian chủ quan, và họ cũng không thể nào lập tức phá trừ gốc sâu rễ dầy phiền não ngã kiến này, nên phải thông qua con đường huấn luyện, sau đó mới đem tri giác sai lầm này trở nên đúng đắn, rồi dẫn tới “dùng trí biến thức”, “dùng trí dẫn đường”, tất cả thuận theo pháp, thấy thể của pháp rồi bước tới khế nhập không gian bốn chiều và thân chứng thực tướng vũ trụ nhân sinh. 

V. CÂU THÔNG VỀ BA CHÂN LÝ SÂU MẦU VÀ HAI LÝ LUẬN LỚN

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ghi Đức Phật giải thích ngắn gọn về ba chân lý trong nhân sinh vũ trụ: “Các hành vô thường, các pháp vô ngã, niết-bàn tịch tịnh”. Ba điều này còn gọi là ba pháp ấn. Đức Phật đứng từ trên pháp tắc nhân quả để thể nghiệm ba chân lý lớn này. Chân lý thứ nhất là các hành vô thường, nhằm giải thích tất cả muôn pháp không ngừng đọng lưu chuyển, bày rõ từ trong không ngừng lưu chuyển này.

Các hành bày rõ không chân thực, nên không phải thực có thường tồn. Chân lý này đã được thuyết Lượng tử phát triển, rồi đạt tới giải thích rất rõ tốt. Nếu dựa vào lý thuyết Lượng tử học thì mọi người cũng không khó lĩnh hội đến chân nghĩa bản tánh không tịch và không có thường tánh. Chân lý này nêu lên các pháp vô ngã, sự vật vốn bày rõ bên ngoài chẳng qua cũng dựa vào thân tâm mà tồn tại, cũng là năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hòa hợp nhân duyên rồi trở thành giả tướng, tác dụng điều hòa và kết hợp vật chất sinh ra và hiện tượng tinh thần.

Thân thể là sắc, xen lẫn cảm giác vui buồn là thọ, nhận thức hình tướng sự vật là tưởng, dấy lên ý nghĩ để tạo ra mong muốn là hành, chia chẻ gom gộp tất cả hoạt động tâm lý là thức. Nếu tách rời năm thứ hoạt động này, thì không khả năng liệu định tìm thấy thực thể tự ngã. Thuyết Tương đối thấy được thể quan niệm luận thời gian và không gian. Làm sao tồn tại thân thể trong thời gian và không gian? Chẳng qua chỉ là ý niệm của con người (sắc thân), kết cấu với ý thức trong thọ, tưởng, hành, thức. Nếu tách rời kết cấu này, thì thực tế không chút tồn tại. Cùng hướng nêu lên hai kết luận, thì thật không khó lĩnh ngộ ý nghĩa sâu chân lý khi nhận thức chân lý thuyết Tương đối.  

Như tham ngộ hai chân lý lớn “Các hành vô thường” và “Các pháp vô ngã” thì phải đứng từ hiện tượng tồn tại để nắm bắt vốn bản tính của không. Đồng thời, từ trong thực tướng rốt ráo không để hiểu rõ pháp tắc duyên khởi trên thế giới hiện tượng, bước vào lưu chuyển sống chết con người qua ngàn vạn việc loạn động để thể nghiệm đến tất cả trở về cảnh giới niết-bàn tịch tịnh bình đẳng.

Trung Quán luận của Đại sư Long Thọ ghi: “Pháp hữu vi vô thường, sinh diệt niệm niệm cũng thuộc nhân duyên, tự tại có không, tự tại có không nên vô ngã. Vô thường, vô ngã, vô tướng, không bám vô tướng tức là niết-bàn tịch diệt”. Thấy được ba chân lý lớn này đúng là mang nghĩa lý gom gộp rất đầy đủ, rất trọn vẹn, rất rốt ráo các pháp vũ trụ nhân sinh.

Vật lý học và Phật giáo cũng vậy, lấy việc hiểu thấu thiên nhiên làm chỗ nương tựa để giải quyết vấn đề nhân sinh. Hơn nữa cuộc đời của Albert Einstein cũng dốc hết sức mình để xây dựng thống nhất lý luận. Tính toán là chiếc cầu vững để xây dựng giữa thuyết Lượng tử và thuyết Tương đối, cũng khơi thông cách xa giữa vũ trụ lớn nhỏ, để một tỏa ra vạn, thống nhất giữa nhận biết và ý chí trong vũ trụ nhân sinh.

Trên con đường hiện thực lý tưởng,  vẫn còn có khoảng cách rất lớn giữa ý nghĩa vật lý và ý nghĩa triết học. Nhưng Phật giáo về lĩnh vực tinh thần đã biểu hiện việc làm xong xuôi của người đi trước. Thước phim hiện đại vẫn chưa có cách nào để chế ngự và trội hơn khi bước lên cảnh giới này. Từ đó, khẳng định Phật giáo xây dựng khoa học sâu mầu trên trí tuệ bát-nhã.

Hai lý thuyết lớn của vật lý học thời gần đây đã đi cùng tính thời đại, còn Phật giáo thì giải thích mang tính khoa học, trở thành chiếc cầu bắc xuyên thông giữa Phật giáo và khoa học. Lập trường của khoa học là khách quan, lập trường của Phật giáo cũng dứt khoát xóa bỏ bám vướng chủ quan. Khoa học là sản vật của lý trí, mục đích phá vỡ cái thấy sai nhầm về vật lý con người, Phật giáo cũng gạn lọc trí tuệ và mục đích phá vỡ rốt ráo mê vướng trong tâm lý con người. Tìm cầu chân lý là mục tiêu chung nhất của mọi người, từ đó chân lý trở nên điểm giao xen rộng lớn giữa khoa học và Phật giáo. 

Phật giáo và khoa học được bù đắp nhau mà thành, nương nhau rồi sau đó phát triển. Phật giáo bổ sung chỗ lệch một phía của khoa học, giúp khoa học tránh né nguy hại, thúc đẩy việc phát triển cân bằng giữa tinh thần văn minh và vật chất của loài người, dẫn đến loài người bước trên con đường có cuộc sống thêm an ổn, thêm hạnh phúc. Đồng thời nhờ vào việc giúp đỡ của khoa học mà Phật giáo càng dễ bày rõ lĩnh vực tư tưởng đã có, khiến cho rất nhiều người đạt được chánh trí, sinh ra chánh tín, đạt tới cảnh giới: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

Từ ngày xưa, trong tầm nhìn của con người sẽ tin chắc khoa học chiếu sáng khắp cả, còn Phật giáo được ví như chiếc thuyền đơn lẻ đưa khách qua sông, hiện lên người lái đò phá tan mờ ám không gian bốn chiều trong thời đại kĩ thuật số. Quá trình lái con đò từ bi để cứu vớt khắp vô biên mêng mang, cho nên phải dốc sức tiến nhanh phía trước để sớm có ngày đạt tới bến giác.    

Trích từ cuốn Phật giáo, khoa học và triết học của Trương Mạn Đào soạn tập từ nhiều tác giả, Thích Trung Nghĩa dịch (sắp xuất bản)


 

[1] Werner Karl Heisenberg 1901 –  1976)  là nhà vật lý lý thuyets  người Đức. Một trong những người tiên phong chủ chốt của Vật lý lượng tử (quantum mechanic).

[2] E: uncertainty principle

[3] Albert Einstein (1879-1955) là nhà vật lý học người Đức. Ông phát minh công thứcvật lý E = mc2 , và có sức ảnh hưởng rất lớn về lĩnh vực triết học khoa học, là nhà khoa học rất quan trọng trong thế kỷ XX, ông được giới học giả tôn xưng là “Người cha của vật lý học hiện đại”

[4] Minkowski (1864-1909) người Do Thái, là học trò của nhà vật lý học nổi tiếng Albert Einstein. Minkowski là người đầu tiên phát minh định lý không gian và thời gian bốn chiều.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập