Trang chủ Văn học Tuỳ bút Thông Điệp Nhập Thế Khi Về Thăm Chùa Giác Ngộ

Thông Điệp Nhập Thế Khi Về Thăm Chùa Giác Ngộ

Đã đọc: 1183           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Hội đủ nhân duyên, vào ngày 01/06/2016 vừa qua, lần đầu tiên con về thăm chùa Giác Ngộ tại số 92 - Nguyễn Chí Thanh - P3 - Q10 - TP Hồ Chí Minh và cũng là lần đầu tiên con phát hiện ra đồng thời với 4 hình ảnh tái hiện của nền văn hoá Phật Giáo được bài trí tại đây như một thông điệp về tinh thần nhập thế của Tăng đoàn chùa Giác Ngộ. Đặc biệt là của Thượng Toạ trụ trì, thầy Thích Nhật Từ.

Thời điểm này chùa đang bước vào giai đoạn hoàn thiện nên rất bề bộn, ngổn ngang những vật liệu và đồ đạc xây dựng... Nhưng khi lách qua lối cổng phụ phía bên phải để đi vào và bước thêm mấy bước lên cầu thang chính giữa lối vào tầng trệt, điều đầu tiên xuất hiện trước mặt con không còn là sự bề bộn, hay sự kiên cố hiện đại của ngôi chùa nữa, mà đó chính là sự tái hiện của Rồng thiêng Việt Nam thời Lý Trần!

 Sững người ra một lúc với sự ngơ ngác đến ngỡ ngàng, rồi con chỉ biết cúi đầu thành tâm, thầm bái phục cách bài trí của Chư Tăng tại đây. Là người con Phật sống xa Tổ quốc, nên khi gặp hình ảnh này đã gợi nhắc cho con biết tri ân tới Thầy Tổ. Đặc biệt quý Ngài vừa là Thiền Sư và cũng là Quốc Sư nổi tiếng trí đức vẹn toàn của dân tộc. Đó chính là Thiền Sư Vạn Hạnh và Thiền Sư Trần Nhân Tông! 

 Thiền Sư Vạn Hạnh là người đã có công kiến tạo nên một cuộc cách mạng vào thời đó, giúp cho dân tộc ta thoát được cảnh lầm than dưới chế độ cai trị của vua Lê Long Đĩnh và đánh đuổi được giặc ngoại xâm. Cụ thể Ngài đã ứng dụng Phật pháp hoá độ và giáo dục học trò của mình là Lý Công Uẩn sau này là vua Lý Thánh Tông. Khởi đầu cho một dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ 1.000 năm của Trung Hoa. Như để đánh dấu một sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc,  Rồng thiêng của chúng ta được xuất hiện vào thời đó, hoàn toàn khác hẳn với Rồng của các nước trong khu vực, đặc biệt là của Trung Quốc. Đây chính là tư tưởng thoát Trung, thoát khỏi sự nô lệ văn hoá của họ. Rồng thiêng Việt Nam thời đó không có vảy, thân mình có bốn chân, mỗi chân có 3 ngón, miệng trong tư thế hứng ngọc minh châu. Tượng trưng cho sự tôn kính các giá trị minh triết cao quý chứ không phải chân cướp ngọc, miệng phun lửa như của họ.

 Tiếp theo Thiền Sư Vạn Hạnh là Thiền Sư Trần Nhân Tông. Ngài là vị vua đầu tiên trên thế giới từ bỏ ngai vàng để đi tu. Ngài cũng là người đầu tiên nhường ngôi vua cho con (Trần Anh Tông) khi Ngài đang ở độ tuổi xấp xỉ 40, khí lực sung mãn và Ngài cũng là người đầu tiên sáng tạo nên hệ chữ Nôm của Việt Nam thay vì chữ Hán của Trung Hoa! Đây cũng là tư tưởng thoát Trung của Ngài! 

 Tinh thần nhập thế của hai vị Thầy Tổ, Thiền Sư, Quốc Sư của chúng ta được thể hiện rất thiết thực, cụ thể. Mặc dù quý Ngài đã chứng đạo, nhưng không hưởng sự an vui cho riêng mình. Quý Ngài luôn thương tưởng tới đồng bào đang bị lầm than, đói khổ. Xã tắc giang sơn của dân tộc đang có thù trong, giặc ngoài lăm le xâm chiếm. Vì vậy quý Ngài đã quyết tâm xuống núi. Bằng trí tuệ của mình, quý Ngài đã dùng tinh hoa Phật pháp cố vấn cho các đời vua thời đó, một bên là học trò, một bên là con ruột trở thành những nhà lãnh đạo đất nước tài đức vẹn toàn, bằng tinh thần thương yêu, hiểu biết, bình đẳng, vô ngã và vị tha. Nhờ đó dân tộc ta trải qua bốn thế kỷ được sống trong thời kỳ vàng son nhất của lịch sử!

 Sự hiếu kỳ được thôi thúc, con muốn tự mình khám phá theo cách riêng của con, nên con đã đi tiếp lên tầng một theo lối cầu thang bên phải, và đây là Chánh Điện. Lại một lần nữa con phải tư duy, khi trước mặt con là ba Tôn tượng Phật Bổn Sư. Khác với sự bài trí ở những ngôi chùa trong cũng như ngoài nước. Thường thì các chùa theo truyền thống Phật giáo thời kỳ sớm chỉ thờ duy nhất một Tôn tượng Bổn Sư trong tư thế thiền định. Các chùa theo truyền thống Phật giáo thời kỳ muộn thờ Tôn tượng Bổn Sư cùng với Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền hoặc tôn tượng Phật Di Đà cùng với Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí, theo kiểu mẫu của Trung Quốc hoặc Đài Loan là chính. Nhưng ở đây thực sự hoàn toàn khác, vì ba Tôn tượng nhìn rất Việt Nam! Mặc dù cũng trong tư thế kiết già như nhau nhưng với ba thủ ấn khác nhau, đó là trí tuệ, đạo đức và thiền định, tượng trưng cho bát chánh đạo. Trong đó chánh tri kiến và chánh tư duy là trí tuệ. Chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp và chánh tinh tấn là đạo đức. Chánh niệm và chánh định là thiền định.

 Con tự hỏi, phải chăng đây là cốt lõi của tinh thần nhập thế? Và rồi con tự trả lời rằng trong thời đại @ này, tri thức thế gian phát triển rất nhanh, trong đó cái tốt nhiều nhưng cái xấu cũng không phải là ít. Giữa thiện và ác chỉ là bức mành vô hình. Một học giả có thể nghiên cứu và biết nhiều hiểu rộng nhưng chưa chắc đã làm được những điều mình đã biết. Ngược lại một hành giả tuy học ít, nghiên cứu ít nhưng có chánh kiến, chánh tư duy và biết cách thu nhiếp thân tâm, phòng hộ được sáu căn thanh tịnh thì chẳng còn cái tôi cái ta ở trong tất cả mọi hành động của người đó. Vậy thì một đạo Phật dấn thân với tinh thần nhập thế để làm vơi đi nỗi khổ niềm đau cho tha nhân mà không màng đến danh lợi là điều mà các hành giả đó sẽ làm được với tất cả những người có duyên.

 Con tiếp tục leo lên các tầng tiếp theo trong sự hân hoan đến lạ thường, cuối cùng là sân thượng của chùa. Trước mắt con là một ngôi tháp ba tầng, hình bát giác cũng như những nơi khác nhưng ở trên nóc tháp không phải bánh xe chuyển pháp luân hay bình cam lồ như chúng ta thường thấy. Ở đây, ngay tại điểm cao nhất của ngôi chùa Giác Ngộ này được bài trí rất độc đáo, rất tinh tế, rất ý nghĩa và rất sâu sắc. Đó là hình ảnh bốn con sư tử tựa lưng vào nhau, đầu quay về bốn hướng tượng trưng chó Bốn Chấn Lý Thánh! Đây cũng là hình ảnh quốc huy của Ấn Độ lần đầu tiên xuất hiện trong một ngôi chùa tại Việt Nam.

Hình ảnh bốn con sư tử tựa lưng vào nhau, đầu quay về bốn hướng. Phía dưới là hình con voi, con bò đực, con ngựa, con sư tử và bốn bánh xe. Đó chính là phần trên cùng của trụ đá mà vua Asoka (Vua A Dục) đã cho xây dựng tại vườn Lộc Uyển, nơi Đức Phật thuyết giảng bài Kinh Bốn Chân Lý Thánh cho năm vị Tôn giả đầu tiên. 

 Ý nghĩa của các hình ảnh này rất đa dạng và phong phú. Ở đây con chỉ biết rằng nhà vua đã cho khắc lên đó dòng chữ "Không ai được phép chia rẽ Tăng đoàn". Điều đặc biệt vua Asoka trước đây là một vị vua bạo hành độc ác, nhưng sau khi gặp và quy y Tam Bảo, ông đã biết nhận ra lỗi lầm của mình vì thế ông đã nỗ lực chuyển hoá thân tâm dưới sự dẫn dắt chỉ dạy của quý truỏng tử Như Lai thời đó. Cuối cùng ông đã ứng dụng Phật pháp vào việc lãnh đạo và chăm lo đời sống cho dân chúng của ông như một hành động sám hối cụ thể thiết thực mà không màng đến danh lợi. Nhờ đó dân chúng Ấn Độ được sống trong cảnh thái bình, nhà nhà an vui hạnh phúc, biết hộ trì chánh pháp. Đây cũng là tinh thần nhập thế, đưa đạo vào đời của vua Asoka.

 Chưa hết, khi con vừa ngắm và dạo một vòng quanh tháp thì đột nhiên nhìn về lối cũ, nơi con vừa từ trong đó đi ra, lần này hiển hiện trước mặt con là một mái chùa thu nhỏ với dáng dấp rất quen thuộc, rất Việt Nam mà con đã từng nhìn thấy ở đâu đó. Vâng, đó chính là Chùa Đồng trên núi Yên Tử, nơi nhân dân ta đã dánh dấu địa điểm ẩn tu của vị anh hùng dân tộc, Vua Trần Nhân Tông, vị Thiền Sư cứu nước, giúp dân.

 Một làn gió nhẹ thoảng qua, lòng con chợt thấy nhẹ nhàng hoan hỷ, như đã phần nào hiểu được thông điệp tinh thần nhập thế của Thầy Thích Nhật Từ và chư Tăng chàu Giác Ngộ. Đâu đó trong con chợt vọng về bài : Cư Trần Lạc Đạo Phú của Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông:

 "Ở đời vui đạo, hãy tuỳ duyên,

 Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.

 Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

 Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền."

 

  Quảng Thành

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

1.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập