Trang chủ Văn học Truyện Thạch Đầu Hy Thiên và Triệu Luận

Thạch Đầu Hy Thiên và Triệu Luận

Đã đọc: 183           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Tác giả: Hoàng Hạ Niên[1] _ Thích Trung Nghĩa dịch

Thạch Đầu Hy Thiên (700-790) là đệ tử của Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư. Sư họ Trần, người huyện Cao Yếu thuộc Đoan châu (nay là huyện Cao Yếu tỉnh Quảng Đông). Lúc nhỏ đầu Phật xuất gia làm đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng. Không lâu sau Huệ Năng viên tịch; trước lúc qua đời, Huệ Năng dạy sư đến làm đệ tử của Hành Tư. Sư đối đáp sắc bén, nhanh nhẹn công việc nên rất được Hành Tư tin cậy và đắc pháp ấn.

Sau đó sư đến cất am trên mớ đá phía đông chùa Nam Đài nằm trên Nam nhạc, từ đó có tên lạ lùng Hòa thượng Thạch Đầu. Sư đạo phong trác tuyệt, giới hạnh cao siêu, ứng xử khéo léo, có chí sâu sắc, người đời nễ phục, là Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời nhà Đường, là vị tăng làm sáng soi lý luận Tào Động tông. Cuộc đời độ nhiều đệ tử. Sư cống hiến to lớn cho Thiền tông, nên sau khi viên tịch được Đường Hy Tông sắc hiệu Đại sư Vô Tế.

I

Hy Thiên lạy Lục Tổ, Lục Tổ thấy sơ qua, ngạc nhiên cho rằng đây là pháp khi, bèn gõ lên đỉnh đầu ba cái và dạy: “Con nên theo ta học tập Phật pháp”,[2] rồi xuống tóc xuất gia. Sư đầu năm 16 tuổi (728) thọ giới cụ túc trên núi La Phù (nay là nội cảnh tỉnh Quảng Đông). Sau khi xuất gia, đọc sách Phật, hiểu nghĩa lý, tuy tự nói mình “Không vướng nhỏ nhặt, không thông văn tự”,[3]nhưng từ khi xem Triệu luận thì rất có cảm hứng; sử sách sau đó có ghi việc này nhưng chẳng bao nhiêu.

Tổ tập đường, quyển 4 ghi: “Từ lúc xem Niết-bàn vô danh luận của Tăng Triệu viết ‘chỉ có bậc nhân mới thấy thấu vạn tượng thôi ư!’ rồi sư than rằng: ‘Bậc thánh không tự vứt cái không vứt. Tự nó nào có vô lượng pháp thân. Viên kính hư giám ở giữa mà tự hiện thể huyền vạn tượng. Mới nói mới rõ nhất chân cảnh trí nào có lui tới.”

Ngũ đăng hội nguyên, quyển 5 ghi: “Hy Thiên đọc tới câu ‘chỉ có bậc thánh mới thấy rốt vạn tượng thôi ư!’ trong Triệu luận thì trầm ngâm ‘Bậc thánh vứt cái không vứt. Nào tự thấy nó là Pháp thân không tướng. Viên giám linh chiếu ở giữa mà tự hiện vạn tượng thể huyền. Mới nói mới rõ, chẳng một cảnh trí nào nói đến đi.”

Triệu luận là một bộ trứ tác triết học Phật giáo của Luận sư Tăng Triệu soạn viết vào thời kì Đông Tấn. Thích Tăng Triệu họ Trương, người Kinh Triệu (nay là thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây). Sinh vào đầu niên hiệu Thái Nguyên (384) Hiếu Võ đế thời kì Đông Tấn. Sinh trong nhà nghèo khó, gia cảnh đói rách, làm nghề viết mướn cho người khác; một mặt viết mướn, mặt khác dốc sức học tập “Xem nhiều kinh sử, cả thảy văn tịch”.[4] Lúc đầu “Hay đọc Trang Tử và Lão Tử làm cốt lõi”,[5] thấy triết lý cao sâu trong sách u huyền rối rắm mà than thở, sau đọc kinh Duy-ma-cật thấy nghĩa lý sâu sắc, bèn “Vui vẻ thọ trì, tìm tòi nghiền ngẫm”,[6]quyết định quy y cửa Phật, cạo tóc làm Tăng. Sau khi xuất gia, siêng xem sách Phật, siêng học kinh điển Đại thừa, theo học với danh tăng Cưu-ma-la-thập ở nước Quy Tư phương Tây đến Kinh châu truyền pháp, rồi được tôn sư La-thập chân truyền. Sư chuyên giảng thuật không nghĩa nên được La-thập khen sư là “người Tần giải không đệ nhất”.

Triệu luận (肇论) của Tăng Triệu là một bản luận văn tập triết học Phật giáo. Toàn luận được tổ thành từ 4 thiên văn chương: Niết-bàn vô danh luận, Bất chân không luận, Bát-nhã vô tri luận, Vật bất thiên luận. Triệu luận đã ảnh hưởng rất lớn đến giới Phật học Trung Hoa thời kì Nam triều.

Thích Tuệ Đạt ở chùa Tiểu Chiêu Đề quận Kiến Nghiệp trứ tác Triệu luận sớ (肇论疏) gồm 3 quyển, Thích Nguyên Khang thời nhà Đường soạn Triệu luận sớ gồm 3 quyển, sau đó còn có Thích Tuân Thức thời Bắc Tống soạn Chú Triệu luận sớ (注肇论疏) gồm 6 quyển, Tịnh Nguyên thời nhà Tống soạn Triệu luận trung ngô tập giải (肇论中吴集解) gồm 3 quyển và Triệu luận tập giải lịnh mô sao (肇论集解令模钞) gồm 2 quyển, Thích Văn Tài thời nhà Nguyên soạn Triệu luận tân giải (肇论新解) gồm 3 quyển và Triệu luận tân du nhẫn (肇论新游刃) gồm 3 quyển, Đại sư Hám Sơn thời nhà Minh soạn Triệu luận lược chú (肇论略注) gồm 6 quyển.

Nhìn chung, căn cứ thống kê chú sớ hiện tồn có khoảng hơn 10 bản, nhưng phần nhiều bị mất mát.[7]Tư tưởng triết học Triệu luận phong phú, tư duy chặt chẽ, hệ thống nghiêm túc, nhấn mạnh tính logic, từ sâu thẳm này mà được giới triết học Trung Hoa xem trọng, là một bộ phận kinh điển nổi tiếng trong triết học Trung Hoa, cũng là tác phẩm tiêu biểu của triết học Phật giáo Trung Hoa và có ảnh hưởng sâu xa ở trong ngoài nước. 

Tổ tập đường và Ngũ đăng hội nguyên đều có ghi Hy Thiên nhờ xem Niết-bàn vô danh luận mà có cảm hứng. Sau khi tôn sư Cưu-ma-la-thập viên tịch, Tăng Triệu thương tiếc khôn nguôi, ngậm ngùi bàng hoàng, cảm niệm ơn đức sâu dầy của Thầy mà trứ tác Niết-bàn vô danh luận (涅磐无名论). Ngày nọ, Diêu Tung An Thành Hầu thời Hậu Tần mời Tăng Triệu đến dạy về vấn đề liên hệ đến niết-bàn, thế là sư soạn viết bản luận này.

Toàn luận gồm 8000 chữ, hình thức hỏi đáp “thập diễn cửu chiết” (十演九折), tức là nêu 9 loại tợ như dò hỏi, rồi biện luận mồn một trở thành 10 loại vấn đáp; giải thích những định nghĩa, lý luận, ý nghĩa niết-bàn, nhấn mạnh niết-bàn là cảnh giới tối cao của Phật giáo, thể hiện tinh thần “Lặng lẽ mênh mông trống rỗng”, biến hóa vi diệu, không có tướng trạng, thảy không dấu vết, không lặn hụp luân hồi. Mọi người cũng không thể đứng từ trên hình thức hay trên tên gọi để phán đoán niết-bàn, cũng không thể lấy trực quan để nắm bắt chúng và nhận thức chúng.

Niết-bàn tồn tại vĩnh viễn trong hư không, nếu đánh mất chúng thì cũng như đánh mất một mặt chân thực, hoặc bày rõ ngu ngốc vô tri của mình. Cho nên niết-bàn là dạng mà người đời không hiểu hết hay dùng trí tuệ nắm bắt. Tăng Triệu soạn xong luận này và trình cho Diêu Hưng Văn Hoàn đế thời Hậu Tần xem. Sau khi xem sơ qua, Diêu Hưng bèn khen thưởng, sắc lệnh sao chép và ban bố cho các vị thái tử trong hoàng thất xem và lưu truyền rộng rãi.

Hơn ngàn năm nay, mọi người một mực bình phẩm Niết-bàn vô danh luận là bản luận xuất sắc của Tăng Triệu, nên không hoài nghi về chân ngụy Luận. Nhưng vào năm 1938, nhà Phật học Thang Dụng Đồng nêu lên nghi vấn, cho rằng Luận này không phải do Tăng Triệu trứ tác, sau đó dẫn đến tranh luận trong giới nghiên cứu. Hiện nay giới học thuật chia ra hai nhánh, một nhánh cho rằng Luận này do Tăng Triệu sở trứ, nhánh khác giử thái độ hoài nghi; nhưng đến nay vẫn không định luận.[8]  

Hy Thiên đọc đoạn văn “thứ 17 Thông cổ” trong Luận này mà có cảm hứng, đoạn văn ghi: “Vô danh đến như con người rỗng trống vô tướng, vạn vật chẳng qua do ta tạo. Chỉ bậc thánh thấy thấu vạn vật thôi ư! Vì sao? Chẳng lý chẳng thánh, chẳng thánh chẳng lý, lý cũng là thánh, thánh chẳng khác lý. Nên Thiên đế hỏi: phải tìm cầu bát-nhã ở đâu? Thiện Cát đáp: Bát-nhã không thể tìm từ trong sắc, cũng chẳng rời sắc mà tìm. Lại nói: thấy duyên khởi là thấy pháp, thấy pháp là thấy Phật, đó là hiệu quả chẳng khác giữa vật và ta.

Vì vậy đến như con người giấu huyền cơ từ chưa lâu, ẩn mờ mịt trong biến hóa, gom sáu phía làm gương rọi lòng, một lui tới trở nên thể. Cổ kim thông thì trước sau thông, rốt nguồn ráo ngọn chẳng một cũng chẳng hai, đều rộng mênh mông nên gọi niết-bàn. Kinh ghi: ‘không rời các pháp mà được niết-bàn’. Còn ghi: ‘các pháp vô biên nên bồ-đề vô biên, lấy cái biết làm đạo niết-bàn, tồn tại ở nơi khế hợp thần diệu’. Suy cho cùng thì khế diệu vốn đồng nhất từ xa và cao, nên vật chẳng khác ta, ta chẳng khác vật, ta vật hội huyền, quy về vô cực, chẳng bước tới trước, chẳng thụt lùi sau, há chứa ở giữa trước sau ư! Thiên nữ nói: cũng như lâu xưa ông già giải thoát.”

Đại ý cả đoạn văn nay được diễn dịch vô danh là con người đạt tới cảnh giới nhất định phải có thể nghiệm rỗng trống linh nghiệm. Thể nghiệm tới cảnh không cũng chẳng mang ý nghĩa sự vật vạn vật trong thế giới, mà vạn vật do tâm ta lưu xuất, chỉ có bậc thánh mới đạt tới hợp nhất giữa ta và vạn vật. Sao nói vậy? Bởi vì chẳng nắm bắt chân lý này thì chẳng thể trở thành bậc thánh. Ngược lại chẳng phải bậc thánh thì không thể biết chân lý này. Chính từ nắm bắt chân lý này mới trở thành bậc thánh, cho nên khế hợp muôn ngàn giữa con người và chân lý.

Tất cả bậc thánh đều không thể tách rời chân lý này, đó chính là bất nhị: sắc, tâm để nói đến quán chiếu bát-nhã. Đạo lý không hai là tướng lìa tướng, sắc tức là không, không tức là sắc. Đứng từ góc độ duyên khởi pháp để thấy thì vạn pháp là pháp, vạn pháp là không, không là vạn pháp, thấy Phật là thấy pháp, thấy pháp là thấy không, các pháp tánh không, ngay thành thấy Phật, vật ta đều mất, chẳng một chẳng khác. Cho nên cả bậc thánh khám nghiệm huyền cơ từ xưa kia rồi thông đạt cảnh giới rỗng trống.

Ẩn vị lai trong biến hóa, ắt sẽ nhất tâm thống nhiếp sáu phía: đông, nam, tây, bắc, trên, dưới, cùng nên một thể quá khứ và tương lai. Từ xưa tới nay đều như vậy, rốt gốc ráo ngọn thảy chẳng hai, là nhất tâm tự nhiên mênh mông giữa vạn vật và ta, cũng là niết-bàn. Đó cũng là “Chẳng rời các pháp mà được niết-bàn” như trong kinh Phật nói. Cũng bởi vì các pháp vô biên, nên tìm được giải thoát cũng vô tận, từ đó suy ra biết đạo lý niết-bàn bảo trì khế hợp diệu khế của diệu lý, có diệu khế sẽ biết chân lý nhất thể mù mịt trong vạn pháp.

Giữa vạn pháp và ta chẳng khác về bản chất, giữa ta và vạn vật cũng là vật chất, hội thông huyền diệu giữa vật và ta, vô cực là chỗ trở về sau cuối của chúng ta. Niết-bàn cũng chẳng phải bước tới phía trước hay thụt lùi phía sau, chẳng trước chẳng sau, không ở giữa hay trước sau. Thiên nữ nói: ông già (chỉ cho Xá-lợi-phất) giải thuyết cũng chẳng trước sau.  

Nhìn chung, Tăng Triệu cũng lấy đạo lý bát-nhã không hai, chẳng một chẳng khác, liền tướng rời tướng để xác định cổ thông đạo mầu, giải thích niết-bàn. Hy Thiên nhờ đọc một đoạn rất ngắn mà có cảm hứng và dõng mãnh rồi thốt lên: “Bậc thánh chẳng tự vứt cái chẳng vứt. Nào tự nó có vô lượng (tướng) pháp thân. Viên cảnh hư giám ở gián đoạn mà tự hiện thể huyền vạn tượng. Nào có lui tới cảnh trí chân (không) nhất, gom cả lời ấy”. Rất rõ Hy Thiên nhìn thấy tư tưởng quán chiếu bát-nhã của Tăng Triệu qua câu “Huyền hội giữa vạn vật và ta chẳng một chẳng khác”. Tư tưởng quán chiếu bát-nhã cùng có bày tỏ “Huyền hội giữa vạn vật và ta”, từ đó Hy Thiên bình phẩm rất cao về Tăng Triệu, cho rằng “Mới nói mới rõ” không thể không nói là một khía cạnh rất quan trọng tư tưởng Phật học của Tăng Triệu.  

  II

Tư tưởng bát-nhã là lý luận quán chiếu độc đáo do Đại sư Long Thọ ở Ấn Độ kiến lập, rồi Đại sư Cưu-ma-la-thập hoàn chỉnh và giới thiệu đến Trung Hoa, Tăng Triệu thân thừa chân truyền của tôn sư đã phát triển sáng rạng. Tư tưởng bát-nhã cũng là tư trào lưu hành rất sớm trong Phật học Trung Hoa. Tăng Triệu dầy công xây dựng vững chắc học thuyết bát-nhã, sau đó nối tiếp tư tưởng Phật tánh niết-bàn, nên được mọi người tôn sùng là tổ sư Tam luận tông.

Tính quan trọng của bát-nhã học là dẫn dắt người Trung Hoa đến một loại phương pháp tư duy toàn mới, mô thức tư duy không hữu tương tức, chẳng một chẳng khác, làm cho người Trung Hoa càng thêm lý giải rốt ráo không quán của Ấn Độ. Nhưng Phật giáo là một tôn giáo, mục đích tôn giáo là giải quyết vấn đề tâm linh con người. Sứ mạng Phật giáo khiến cho con người hoạch đắc giải thoát, nên giải thoát niết-bàn hay Phật tánh đương nhiên có chỗ trở về sau cuối. Tăng Triệu là một gường cột một thời, là Đại sư Phật học nên sư không thể ngó lơ hay tránh né vấn đề này, Hy thiên cũng không thể ngó lơ vấn đề ấy.

Niết-bàn vô danh luận tuy thuận theo mệnh lệnh, nhưng lời lẽ trong luận có hệ thống và tư tưởng độc đáo. Tăng Triệu giải thích nền tảng lý luận và tư tưởng quán chiếu bát-nhã sẽ quyết chắc chỉ đạo niết-bàn. Tư tưởng bất nhị: tức dụng tướng tức ly tướng và thể dụng nhằm thuyết minh tính hiện thực niết-bàn, “Niết-bàn không có cũng không phải không có, lời lẽ dứt đạo, diệt ở tâm hành”.[9]Sư phản đối ngoài cái có và không, sẽ đối lập với niết-bàn độc lập, cho rằng đạt tới niết-bàn không cần rời các pháp, phê bình: “Ngoài cái có và không còn có diệu đạo khác, không có và không phải không có nên gọi niết-bàn.

Ta nghe qua lời nhưng chưa phải trong tâm”.[10] Nhấn mạnh khi bàn về niết-bàn thì tách rời giữa có và không, “không có và không phải không có” là không có thực chất niết-bàn vững chắc. “Đã nói đến niết-bàn thì không thể tách rời niết-bàn mà nói niết-bàn”.[11]Sư sau đó định nghĩa về niết-bàn: “Đạo lý niết-bàn luôn luôn diệu vợi, dùng nhị nghi dung an để tẩy sạch vạn hữu. Cũng trời đất cùng một khác, trong cái thấy không thấy hết, ta không nghe ngược lại nghe, chưa từng có được cũng chưa từng không được.[12]

Đứng từ con đường phát triển niết-bàn của Tăng Triệu thì sư phải lấy lý luận không quán để nhấn mạnh cảnh giới thực tiễn niết-bàn. Đặc điểm thể nghiệm trên logic tất nhiên phải phát triển đến kết quả duy tâm tạo “Vạn vật chẳng qua do ta tạo”, là kết quả duy tâm sở tạo “đã hình thành vạn vật”.

Hy Thiên nói: “Bậc thánh chẳng tự vứt cái chẳng bỏ” là lý giải về “Vạn vật hình thành”, “Vạn vật chẳng qua do ta tạo” của Tăng Triệu. Tiền đề ‘chẳng tự’ tức là “Rỗng trống vô tướng” mới suy ra “Vạn vật chẳng qua do ta tạo. Có tiền đề này, mới có thể ‘chẳng bỏ’, tức là trong tình huống ‘chẳng vứt’ rồi đạt tới “Hình thành vạn vật”, sau cuối suy ra kết quả logic “Vứt cái chẳng vứt”.

Triệu luận sớ cũng ghi: “Không phải vô tướng cho nên vạn vật là thể riêng mình. Khi vạn vật hình thành thì bậc thánh là thể, lấy thể vạn vật làm thể riêng mình”.[13]Quan điểm “Hình thành vạn vật” của Hy Thiên hoàn toàn kế thừa tư tưởng của Tăng Triệu. Tăng Triệu cho rằng quan điểm “Lúc bồ-tát Nho Đồng trụ ở bảy địa, ban đầu được vô sanh nhẫn, tiến tu ba vị”[14] là không thông, bởi vì “Nếu niết-bàn là một, thì chẳng phải có ba, nếu có ba thì chẳng rốt ráo”,[15]nhằm nói đến quan điểm Phật giáo nếu được ở bảy địa sẽ hoạch đắc thân pháp tánh, nên vẫn yêu cầu tiếp tục tu tập vị thứ tám, thứ chín, thứ mười ba, mới được cảnh giới cao nhất.

Đứng từ quán chiếu bát-nhã thì niết-bàn không phải có ba, nếu có ba thì không thể đạt tới rốt ráo bất nhị, cho nên nó và niết-bàn không phù hợp. Triệu luận sớ của Nguyên Khang cũng  ghi: “Nếu niết-bàn là một thì chẳng phải có ba…Nếu có ba thừa thì có ba vị, sẽ biết rõ chưa rốt ráo đạo lý…Các kinh điển, các học thuyết không giống nhau thì làm sao phân định đúng sai”. Tăng Triệu còn giảng giải: “Vô danh là đạo lý rốt ráo tự nhiên, lý chẳng khác…Mọi quần sinh trong vũ trụ có thức căn chẳng phải một. Trí soi có sâu cạn, đức hạnh có dày mỏng, nên đều có cao thấp khác nhau ở cõi niết-bàn. Có khác về niết-bàn không?

Chúng sinh trải qua khác xa thì tự ta tự khác, nhưng đạt được không trái ngược”,[16]nhằm chỉ định có khác về cao thấp nhưng cùng hướng niết-bàn là một. Hy Thiên nói: “Căn tính con người có lanh chậm, đạo vốn không có nam bắc”, ấy là kế thừa và phát triển tư tưởng này. Hy Thiên còn nêu lên và nói về hữu danh: “Hữu danh là trải qua trên pháp thân rồi bước đến cảnh giới vô vi. Tâm không thể dùng trí biết, hình không thể dùng tướng nhỏ hẹp.

Thể ngớt vào sâu, tâm trí tịch diệt, chứa đức dầy rộng và còn tiến tu ba vị … Tâm đã cầm nắm vứt, lấy tổn ích làm thể thì thể ngớt vào sâu, tâm trí tịch diệt, ngược xa lời này thì chẳng khác nào gặp người ở nam mà nói bắc, lờ mờ không rõ”.[17]Tăng Triệu đón nhận phản bác khiển trách, sư nói: “Vô danh là trải qua tên gọi người vô vi mà chẳng có chỗ bất vi… Pháp môn bình đẳng của Bồ-tát là trụ tận và bất tận, cũng từ một việc bất tận là hữu vi, bất trụ là vô vi, nên lấy nam bắc làm ví dụ để nhấn mạnh rõ cái khác và chẳng khác”.[18] Triệu luận sớ ghi: “Bồ-tát ở địa thứ bảy sẽ ngộ vô sinh nhẫn, được thân pháp tánh.

Vì sao bồ-tát Nho Đồng chứa đức rộng dày, tiến tu ba vị?” Thấy được mọi người đều đứng từ giác độ ba thừa và ba vị để phê bình quan điểm quán chiếu niết-bàn tiệm ngộ. Hy Thiên nói: “Vô lượng (hình tượng) pháp thân tự nó hợp sao” cũng là duy trì tư tưởng bát-nhã của Tăng Triệu, nhằm thống nhiếp giữa hữu vi và vô vi, quan điểm viên dung giữa đốn ngộ và tiệm ngộ. Tăng Triệu cho rằng pháp thân cũng rất nhiều vô hình tướng, nên tự nó viên dung, viên mãn rồi tiến tu ba vị, từ chỗ tiệm tu mà chứa đức sâu dày, lại bước vào cảnh giới vô vi mà không bị biến hóa: sinh, trụ, dị, diệt”. Từ đó “Pháp thân Đại sĩ thể thực tướng không, lấy trí tịch diệt mà hình đủ bát cực”,[19]“Bậc thánh tự tại, vô vi là vi, vi là vô vi”[20]nên bậc thánh chẳng bám vướng từ duyên bên ngoài, nhấn mạnh ‘tự nó’ phân biệt tự nhiên, ngoài ra còn thuần thuộc nhiều cái khác.

Hy Thiên nhận thức quan điểm niết-bàn là “Viên kính hư giám ở giữa mà tự hiện thể huyền vạn tượng”, “Thấy duyên khởi là thấy pháp, thấy pháp là thấy Phật, suy ra giữa vật và ta mang hiệu ứng không khác”. ‘Viên kính’ (圓镜) là chỉ cho một loại nhận thức tự tại trong “Cả lòng người tỏ rạng như gương, soi muôn việc”,[21] “Gom sáu phía để soi lòng, lui tới để thành thể” mà trong Triệu luận ghi. Huyền (玄) của thể huyền (体玄) là chỉ cho huyền cơ (玄机), “Từ lúc chưa hình tượng thì tất cả con người gom về huyền cơ” đến như con người rỗng trống không hình tượng, vạn vật chẳng qua do ta tạo nên vạn vật mới hình thành”, lý “Chẳng lý chẳng thánh, chẳng thánh chẳng lý, lý cũng là thánh, bậc thánh chẳng khác lý” là “cảm nhận mà chân, xa đạo ư!”.[22]‘Không lý’ (空理) “vô sinh là chân, chân là không”,[23] “sẽ trở thành nhánh thể không lý của bậc thánh …Đạt tới tâm này gọi là đại niết-bàn”.[24]  

Vì vậy Hy Thiên cho rằng tâm tròn sáng, tịnh trong, hư mặc, thẳm sâu sẽ soi tỏ tới ba đời và sáu phía, đều tự hiện không lý trong vạn tượng thế giới, tức tự tánh là không. Hy Thiên nắm bắt đặc điểm “Lời lẽ diệu tận u cực trong Triệu luận”[25]rồi một mực làm chỗ nương cậy và dốc sức diễn bày ra.  

Hy Thiên nói: “Cảnh trí chân (không) nhất, nào có lui tới”. ‘Cảnh’ (境) là chỉ cho giai vị hay cảnh giới chứng ngộ, như “Đã ở pháp thân thì bước vào cảnh giới vô vi”, các pháp của “Các pháp vô biên nên bồ-đề vô biên”; ‘trí (智) là chỉ cho thánh trí, là “Lại biết đạo lý niết-bàn tồn tại ở nơi diệu khế, vời đến diệu khế vốn ở nơi tối tăm nhất”, cũng là ‘thánh tâm’ (圣心), là ‘không lý’. ‘Cảnh trí chân nhất’ (境智真一) là “Chẳng rời các pháp mà được niết-bàn”. “Cổ kim thông thì trước cuối thông, rốt gốc ráo ngọn chẳng một chẳng hai. Rộng lớn mênh mông nên gọi niết-bàn”.

Triệu luận sớ ghi: “Trung quán luận viết ‘chẳng rời sống chết mà có niết-bàn khác’. Còn vứt bỏ rất nhiều các pháp. Các pháp này cùng với bồ-đề. Khế hợp diệu lý tức là niết-bàn. Thấy vạn pháp một thể mịt mờ cũng là diệu khế”. “Nào có lui tới” là nói đến “Vật chẳng khác ta, ta chẳng khác vật. Vật ta diệu vợi, quy về vô cực, chẳng tiến đến trước, chẳng rút lùi sau, há chứa ở khoảng giữa trước sau ư!”. Triệu luận sớ ghi: “Soi thấu bất nhị giữa ta và vật cùng trở về đạo lý vô cực, rồi dẫn tới niết-bàn. Ở trước chẳng sáng, ngưng lùi niết-bàn, từ sau chẳng sau, đã chẳng trước chẳng sau thì sao có trước cuối?”    

Hy Thiên đứng từ góc độ quán chiếu bát-nhã để quy nạp tư tưởng chẳng một chẳng khác, lui tới chẳng hai, chỉ định mối liên hệ thống nhất giữa cảnh giới và thánh trí. Giữa nó không có liên hệ về thời gian trước sau hay trước cuối, mà dung chứa thông rộng, đạt tới một chỗ, dẫn tới chí cực nên nêu ra “mới nói mới rõ.”

Theo việc giới thiệu và tìm hiểu mối liên hệ giữa Hy Thiên và Triệu luận, thấy được Hy Thiên tuy không hiểu nhiều Triệu luận, nhưng những lời trong sách của Hy Thiên ghi lại đều căn cứ và tìm tòi từ Triệu luận. Đúng chứng minh Hy Thiên từng xem cặn kẽ và đào sâu và hiểu lạ lùng về Triệu luận, sau khi tiêu hóa lại tăng thêm tinh luyện, dùng lời lẽ của mình để phân tích sâu sắc. Từ đó thấy được tư tưởng của Hy Thiên được hun đúc ảnh hướng rất lớn từ tư tưởng Không tông bát-nhã trong Triệu luận.

Tam luận tông vào thời Đường đã bị suy tàn nên ít có ai nghiên cứu về Triệu luận. Một phần trong Tục Cao tăng truyện, Huyền Trang truyện, Đạo Siêu truyện hay Trí Chu truyện đều có ghi lại sự tích Tăng Triệu; Hy Thiên cũng thuộc một trong ít người nghiên tập Triệu luận và gặt hái kết quả. Sử sách ghi lại Hy Thiên “Không thông văn tự”, nhưng từ khi có nhân duyên xem Triệu luận, nhằm giải thích sư không phải không thông hiểu. Sư không chỉ xem kinh và xem sách luận khác, mà thông qua đọc sách đã tiêu hóa nội dung, sau đó ứng dụng cho bản thân.

Dịch từ: Thiền san, kì 2, 1998



[1] Giáo sư Tôn giáo học Hoàng Hạ Niên (黄夏年): Hiện đang công tác và thẩm định tại Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Thế Giới Và Khoa Học Xã Hội ở Bắc Kinh; chủ biên tạp chí Văn hóa tôn giáo thế giới, phó chủ biên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo thế giới và Nghiên cứu Phật học. Chủ biên bộ: Dân quốc Phật giáo kỳ san văn hiến tập thành-Bổ biên (民国佛教期刊文献集成.补编) gồm 86 quyển…

[2] Tổ tập đường, q.4

[3] sđd

[4] Cao tăng truyện

[5] sđd

[6] sđd

[7] Xem “Liên hệ lưu truyền Triệu luận” của Tairyō Makita Nhật Bản, tập trong Nghiên cứu Triệu luận (肇论研究) của Zenryū Tsukamoto tập 2, tr.81, Pháp Tạng quán

[8] Xem Tăng Triệu trứ thuật nghiên cứu tổng thuật (僧肇著述研究综述), đăng trên Phật giáo Quảng Đông, kì 3, 1996

[9] Niết-bàn vô danh luận, Khai tôn thứ 1

[10] Sđd, Vi xuất thứ 4

[11] Sđd, Huyền đắc thứ 19

[12] sđd

[13] Triệu luận sớ, quyển hạ

[14] Niết-bàn vô danh luận, Nan sai thứ 8

[15] sđd

[16]Sđd, biện sai thứ 9

[17] Sđd, thứ 14 Cơ động

[18] Sđd, thứ 15 Động tịch

[19] Tuệ Đạt, Triệu luận sớ

[20] Nguyên Khang, Triệu luận sớ

[21]sđd

[22] Tăng Triệu, Vật bất di luận

[23] Nguyên Khang, Triệu luận sớ

[24] sđd

[25]sđd

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập