Trang chủ Văn hóa Xuân Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm

Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm

Đã đọc: 6596           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Tôi cũng có viết nhiều câu đối, câu đối chữ Việt, và cả chữ Âu Mỹ nữa! Có một bữa, tôi thấy ông đồ xưa của Vũ Đình Liên đã sống dậy! Ông đồ xưa chỉ viết chữ Nho, ông đồ xưa nếu bây giờ sống dậy thì viết được cả chữ Việt và chữ Tây, và vẫn sử dụng được bút lông mực tàu như thường. Và ông không phải chỉ dùng giấy đỏ. Ông dùng giấy đủ màu, nhất là màu trắng ngà. Bút lông của ông được chế tạo rất nhiều kiểu, sản xuất ngay cả ở các nước Âu châu. Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt.

Thư pháp (calligraphy) của tôi không xuất sắc gì mấy. Vậy mà tập viết hoài ngó cũng được. Càng viết, chữ càng ngó được hơn. Năm ngoái (1999) trong chuyến đi Trung Quốc, anh Mộc có đem theo nhiều giấy, bút và mực. Anh xin tôi viết mấy chục tấm để bán lấy tiền cúng dường chùa tổ Lâm Tế ở quận Chánh Định thuộc thành phố Thạch Gia Trang tỉnh Hà Bắc. Anh nói đa số những người trong phái đoàn đi Trung Quốc là người Tây phương, tôi có thể viết chữ Anh. Tôi chiều lòng anh. Trong chuyến đi, số tiền bán chữ đã lên tới tám ngàn Mỹ kim. Phái đoàn đã cúng dường cho chùa tổ Lâm Tế, qua hòa thượng trú trì Hữu Minh, một ngân khoản là mười ngàn Mỹ kim để giúp vào quỹ mua thêm đất và xây cất thêm tăng viện. Hòa thượng rất cảm động. Đó là vào khoảng tháng năm. Vào tháng chín năm ấy, tại tu viện Kim Sơn do thượng tọa Tịnh Từ làm viện trưởng, sẵn có giấy bản các thầy và các sư cô mua được ở trong khóa tu ở trường Đại học Santa Barbara, tôi đã ngồi xuống viết nhiều bức, bức thì chữ Anh, bức chữ Việt, bức chữ Hán. Các thầy và các sư cô trong phái đoàn Làng Mai đã bán được gần hết các bức này, có bức bán tới một ngàn Mỹ kim. Tất cả đều được đem cúng dường vào quỹ xây cất Nhà Đa Dụng của tu viện. Trong chuyến đi hoằng pháp tới tại Bắc Mỹ, khi đến Kim Sơn, thế nào tăng đoàn Làng Mai cũng được ở nhà hẳn hoi, chứ không phải ở lều như trên mười năm qua, quá lạnh! Vào lễ giáng sinh 1999, nhiều minh tinh màn bạc nổi tiếng tại Hollywood như Marlon Brando, Jack Nicholson, Sean Penn ... cũng nhận được những bức chữ viết của tôi do bạn hữu của họ hiến tặng. Cả bên Trung Quốc và Đại Hàn, mỗi khi trao đổi thư pháp với các vị tọa chủ các chùa lớn, tôi cũng viết chữ Tây cho lạ. Chắc các bạn tò mò muốn biết tôi viết những chữ gì. Tôi chỉ viết những chữ mà khi treo lên người ta có thể thực tập theo được mà thôi. Ví dụ: "breathe, you are alive" (thở đi, bạn đang là sự sống mầu nhiệm), "drink your tea" (uống trà cho thảnh thơi và hạnh phúc đi bạn, chữ Hán là nghiết trà khứ ), "the tears I shed yesteday have become rain" (nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa), "breathe and smile" (thở đi, mỉm cười đi), "you are not a creation, you are only a manifestation" (ngươi không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện) "present moment, wonderful moment" (an trú trong hiện tại, giờ phút đẹp tuyệt vời), "there is no way to happiness, happiness is the way" (có con đường nào dẫn tới hạnh phúc đâu, hạnh phúc chính là con đường), v.v.. Bức mà Phật tử gốc Việt ưa thích nhất là bức có ba chữ "thở đi con". Ai cũng muốn thỉnh một bức về treo trong phòng khách để khi có chuyện bất an thì nhớ mà thực tập, còn khi bình thường mà thực tập thì nuôi dưỡng thêm hạnh phúc đang có. Có những bức viết trọn một, hai, bốn câu thơ hay cả bài thơ. Những câu thơ trong truyện Kiều có thể hiểu theo nghĩa thiền quán cũng rất được hâm mộ, như câu "bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao" hay câu "trời còn để có hôm nay, tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời", hoặc câu "một nhà xum họp sớm trưa, gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, bốn bề bát ngát mênh mông, triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau". Có một cặp tân hôn xin chữ, tôi đã cho câu "trước sau cho vẹn một lời, duyên ta mà cũng phúc người phải không?", đổi một hai chữ cho thích hợp.

Chữ Hán tôi viết rất ít, bởi vì hiện giờ ít người đọc được chữ Hán và thích treo chữ Hán. Tôi thấy những bức chữ Anh, chữ Việt hoặc chữ Pháp lộng kính treo lên cũng đẹp vô cùng, và khi đọc thì người ta hiểu liền. Tôi cũng có viết nhiều câu đối, câu đối chữ Việt, và cả chữ Âu Mỹ nữa! Có một bữa, tôi thấy ông đồ xưa của Vũ Đình Liên đã sống dậy! Ông đồ xưa chỉ viết chữ Nho, ông đồ xưa nếu bây giờ sống dậy thì viết được cả chữ Việt và chữ Tây, và vẫn sử dụng được bút lông mực tàu như thường. Và ông không phải chỉ dùng giấy đỏ. Ông dùng giấy đủ màu, nhất là màu trắng ngà. Bút lông của ông được chế tạo rất nhiều kiểu, sản xuất ngay cả ở các nước Âu châu. Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt. Tôi đã thấy nét chữ của nhiều vị, trong đó có Vũ Hoàng Chương và Cao Tiêu. Tại sao lại chỉ viết chữ Hán? Càng viết, chữ càng đẹp. Đồng bào và người ngoại quốc rất thích treo những bức chữ đẹp và có ý nghĩa, bằng chữ Việt hoặc bằng chữ nào mà họ hiểu. Cố chấp thì ông đồ sẽ chết vĩnh viễn, còn nếu ông đồ biết thích nghi thì ông đồ sẽ sống mãi mãi. Chúng ta không cần phải khóc ông đồ như thi sĩ Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phụng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu             
Ông đồ vẫn ngồi đó
Qua đường không ai hay
Gió buồn mơn mặt giấy
Ngoài trời mưa bụi bay        
Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Tôi muốn nói chuyện đạo Bụt, đạo Bụt tại châu Á nói chung, và đạo Bụt tại Việt Nam nói riêng. Đạo Bụt nếu không được làm mới để có thể đáp ứng với nhu cầu đích thực của người thời nay thì đạo Bụt sẽ từ từ vắng mặt, nghĩa là sẽ chết, như ông đồ xưa. Đại sư Thái Hư thấy được điều đó nên đã hô hào cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế và cách mạng giáo sản. Nếu chúng ta chỉ biết thủ cựu, nếu chúng ta có quá nhiều sợ hãi, nếu chúng ta chỉ biết củng cố địa vị thì chúng ta không thể nào làm mới được đạo Bụt. Phải giảng dạy đạo Bụt như thế nào để tuổi trẻ bây giờ có thể áp dụng được vào trong đời sống hằng ngày của họ, chuyển hóa được khổ đau, khai thông được bế tắc, xây dựng lại được tình thâm. Lễ bái, cầu phước và tín mộ không đủ. Tuổi trẻ không muốn đến chùa để chỉ đốt nhang, đốt vàng mã, vái lạy và tụng những kinh mà họ hoàn toàn không hiểu. Buổi công phu sáng gần hết là bằng tiếng Phạn, có tính chất của Mật Tông, mà lại là tiếng Phạn phiên âm Hán Việt xa lắc với nguyên âm. Buổi công phu chiều thì chủ yếu là để cầu sinh Tịnh Độ. Không mấy ai đọc được và hiểu được kinh chữ Hán. Vậy mà ta không có can đảm đem hai buổi công phu dịch ra quốc văn để hành trì. Ta sợ người ta đàm tiếu, chê bai là bỏ gốc rễ. Ta có bỏ gốc rễ đâu. Ta chỉ chăm sóc và làm mới cho gốc rễ thôi, để cho cội cây xưa có được sức sống mới đâm lên những chồi mới, nếu không cây sẽ chết. Cách đây chừng vài trăm năm, người ta đã từng bĩu môi chê chữ Nôm là quê mùa, là mách qué (nôm na là cha mách qué). Người ta bảo người đứng đắn và người trí thức chỉ dùng chữ Hán thôi. Vậy mà thi hào Nguyễn Du đã sáng tác truyện Kiều bằng chữ Nôm và đã tạo nên được một niềm tin lớn cho quốc dân nơi khả năng tiếng Việt. Không dùng súng đạn và gươm giáo mà thi sĩ đã xây được thành lũy vững chãi cho nền độc lập dân tộc. Độc lập chính trị chỉ có thể bền vững khi có độc lập văn hóa. Cụ Nguyễn Du là một ông đồ không bao giờ già, không bao giờ chết. Hồn của cụ sống mãi trong hồn của người trẻ bây giờ. Bài học đó há không đủ soi sáng cho chúng ta sao? Con cháu chúng ta bỏ chùa, bỏ đạo gốc tổ tiên chạy theo những trào lưu từ ngoài tới, lỗi đó là của ai? Làm mới đạo Bụt, áp dụng ngay những pháp môn của đạo Bụt nhập thế (Phật tử Trung Quốc bây giờ gọi là Nhân Gian Phật Giáo, Tây phương gọi là Engaged Buddhism), sử dụng ngay tiếng Việt để tụng niệm trong hai buổi công phu, điều này rất cần thiết. Chúng ta đừng làm như ông đồ xưa, từ từ vắng mặt trong cuộc đời. Chúng ta phải tái sinh lại ngay lập tức để trở thành ông đồ nay. Chỉ có ông đồ nay mới làm thỏa mãn được những nhu yếu của người ngày nay. Từ thế kỷ 14, vua Trần Nhân Tông và thiền sư Huyền Quang đã thấy được sự thực này. Các vị đã bắt đầu sáng tác bằng tiếng Việt, sử dụng chữ Nôm. Ở Triều Tiên, ngày xưa cả nước đi theo đạo Bụt. Vào đầu thế kỷ này, chỉ còn dưới 50% dân chúng là Phật tử. Giới trẻ đi theo ngoại lưu nhiều như thác lũ. Lý do là đạo Bụt bên đó quá bảo thủ và rất còn kỳ thị phụ nữ. Ta cầu xin các vị tôn đức trong sơn môn ta nghĩ lại cho con cháu được nhờ. Đạo Bụt không thể không được hiện đại hóa. Tại Tây phương, nhiều người đang muốn cho đạo Ky Tô được hiện đại hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo điều của giới chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người ta bảo thủ quá, không chịu làm mới; không chịu cách mạng giáo lý và giáo chế. Đạo Bụt có tinh thần cởi mở tự do, dễ làm mới hơn nhiều. Ta có thể thành công trong vài thập niên nếu chúng ta tỉnh thức. Ông đồ xưa ơi, xin ông mau mau sống dậy. Cơ hội đã đến. Xin ông hãy chuẩn bị tái sinh. Hẹn ông cùng có mặt ở mùa hoa đào năm tới:

 

Sang năm hoa đào nở
Sẽ thấy ông đồ xưa
Với hình hài rất mới
Sống động hơn bao giờ.


Chúng ta không có lý do gì để không thành công.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (1 đã gửi)

avatar
Nhi 26/02/2010 16:13:54
Cam on thay rat nhieu.
tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập