Trang chủ Tin tức Trong nước Đại lễ tưởng niệm và hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của HT. Kim Cương Tử

Đại lễ tưởng niệm và hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của HT. Kim Cương Tử

Đã đọc: 1966           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Vào lúc 8 giờ ngày 29 tháng 4 năm 2011, tại chùa Trấn Quốc, Tp. Hà Nội, nhân kỷ niệm 10 năm ngày viên tịch của Hòa thượng Kim Cương Tử, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hà Nội, Môn nhơn đệ tử trọng thể tổ chức Đại lễ tưởng niệm và Hội thảo khoa học về sự nghiệp xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đến chứng minh và tham dự có HT. Thích Đức Nghiệp – Phó Thư ký HĐCM Giáo hội Phật giáo Việt Nam; HT. Thích Thanh Tứ - Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT. Thích Thiện Nhơn – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS; HT. Thích Trí Quảng – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Phật giáo Quốc tế TW; HT. Thích Giác Toàn – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban KTTC TW; HT. Thích Trí Tâm – Trưởng Ban Nghi lễ TW; TT. Thích Bảo nghiêm – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Hoằng pháp TW, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hà Nội; chư Tôn giáo phẩm HĐTS, HĐTS, Ban Trị sự các tỉnh, thành hội Phật giáo; chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các tự viện tại Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và các địa phương.

Buổi lễ hân hạnh đón tiếp ông hà Văn Núi – Phó Chủ tịch UBTWMTTQ Việt Nam; Giáo sư, Anh hùng lao động Vũ Khiêu; PGS. TS Nguyễn Hồng Dương – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo; quý vị Giáo sư, Phó Giáo sư Tiến sĩ, các nhà khoa học, nghiên cứu, học giả; các Bộ ngành TW, Tp. Hà Nội và hàng ngàn Phật tử tham dự.

Trong phần nghi thức tưởng niệm, TT. Thích Bảo Nghiêm – Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng Ban Hoằng pháp TW, Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Tp. Hà Nội cung tuyên Tiểu sử Hòa thượng Kim Cương Tử (1914 - 2001):

“Hòa thượng Thích Kim Cương Tử, nguyên là thành viên Hội đồng chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khoá 8, 9, 10, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phân viện trưởng Phân viện Nghiên cứu Phật học (GHPG) Việt Nam tại Hà Nội, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự Phật giáo Thành phố Hà Nội, Viện chủ Tổ định Trấn Quốc - Thành phố Hà Nội, sáng lập danh dự kiêm Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Trung Tâm Unesco Nghiên cứu và Ứng dụng Phật Học Việt Nam.

Đại lão Hoà Thượng Kim Cương Tử thế danh Trần Hữu Cung, sinh ngày 16/10 năm Giáp Dần 1914 tại xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nơi đất thành Nam, phủ Thiên Trường nổi danh với chùa Tháp. Ngài sinh trưởng trong dòng họ Trần có danh đức nổi tiếng nhiều đời. Ngài là con trai độc nhất trong gia đình, thân phụ là cụ ông Trần Hữu Tạo, thân Mẫu là cụ bà Trần Thị Quy...

Ngay từ thuở thiếu thời trước khi đến trường học tập Ngài đã được thân phụ truyền dạy Nho học và chữ Quốc Ngữ, tham học các nghề như thợ may, thợ mộc, nghề y, dạy học... Ngài đã học nửa khoá Tổng sư tại địa phương.

Năm 15 tuổi, Ngài đã sớm nhận thức được cảnh trần gian ảo mộng, cuộc đời giả huyễn vô thường.

Năm 19 tuổi (1939), Ngài chính thức xuất gia đầu Phật tại chùa Cả, thành phố Nam Định đầu sư học đạo với Sư tổ pháp hiệu Chính Đản, Năm 1937 Ngài trở về chùa Cả tỉnh Nam Định phụng Phật, sự Sư. Ngài được Sư tổ đăng đàn trao truyền giới cư túc tại Tổ đình chùa Cả giữa lúc Ngài ở tuổi.

Năm 23 tuổi (1938) tại hạ trường chùa Cả, Ngài đã học thông suốt cả bộ luật Tứ Phận.

Năm 24 tuổi (1939), Ngài tham dự khoá thi đầu tiên tại Trường Trung học Phật giáo Bắc kỳ và giành giải nhì tại kỳ thi đó.

Năm 1953, Ngài giảng dạy tại Trường Trung học Phật giáo Bắc Việt và dạy ở một số trường lẻ như Vân Hồ, Linh Đường Bồ đề, trường Bái Trạch chùa cả Nam Định và Hải Phòng.

Năm 1954 hoà bình lập lại ở miền Bắc,Ngài đã tham gia phong trào Phật giáo yêu nước. Năm 1956 Ngài giữ chức Trưởng ban nghi lễ Phật giáo Thủ đô.

Từ năm 1957 đến năm 1983, suốt 26 năm công tác Phật sự tại Hải phòng trải qua không biết bao nhiêu gian nan vất vả, Ngài đã có công lớn trong việc xây dựng phong trào Phật giáo yêu nước, đã sớm thành lập được Chi hội Phật giáo thống nhất của các địa phương khác trên miền Bắc ra đời.

Trước khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, Ngài đã về quê theo bản nguyện chí công vô tư hoá gia vi tự, Ngài đã xây dựng toà Kim Cương bảo tháp trên đất hương hoả của tổ tiên để lại, từ đó quê hương Ngài mới có một ngôi chùa và được gọi là chùa làng Mỹ.

Tại Đại hội thống nhất Phật giáo cả nước tháng 11 năm 1981, Ngài được suy cử làm uỷ viên thường trực Hội đồng trị sự, giữ chức Trưởng ban nghi lễ TƯGHPG Việt Nam, đồng thời là giảng viên dạy môn Luật học tại trường cao cấp Phật học Việt Nam khoá I tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Từ 1982-1983 do đảm trách công tác trọng trách của Giáo hội, Ngài được Trung ương Giáo hội điều động về trụ trị chùa Trấn Quốc thành phố Hà Nội, tham gia lãnh đạo Phật giáo thành phố Hà Nội. Ngài được Tăng ni Thủ đô suy cử giữ chức Phó trưởng ban Trị sự kiêm uỷ viên giáo dục Tăng ni Thành hội Phật giáo thành phố Hà Nội từ năm 1987 đến khi viên tịch.

Năm 1985, Ngài được suy cử làm Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng ban nghi lễ GHPG Việt Nam. Năm 1990 Ngài được cử giữ chức Viện trưởng Học viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, phân viện trưởng phân Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội kiêm Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Phật học.

Năm 1988, Ngài được Giáo hội cử tham dự đoàn đại biểu Phật giáo Việt nam đi thăm Phật giáo các nước Liên Xô, Mông Cổ, Campuchia góp phần thắt chặt tình hữu nghị đoàn kết thông cảm hiểu biết lẫn nhau với Phật giáo các nước bạn.

Ngài đã trụ trì Tổ đình Trấn Quốc là một di tích lịch sử văn hoá tín ngưỡng lớn của dân tộc, trên cương vị Trụ trì từ năm 1983, Ngài đã tận tâm kiệt lực trong việc hoằng dương chính pháp, ngoài việc giảng dạy cho Tăng ni tín đồ Phật tử tu học.

Ngài còn tham ra nhiều hoạt động xã hội. Năm 1958 Ngài đã tham gia Uỷ viên UBMTTQ thành phố Hải Phòng. Từ năm 1983 là Uỷ viên UBMTTQ Việt Nam. Năm 1985 tham gia Uỷ viên Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam khoá II và khoá III và Uỷ viên UBTWMTTQ Việt Nam trong nhiều khoá, là đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khoá 9, 10, 11, là đại biểu Quốc hội khoá 8, 9, 10.

Đại lão Hoà thượng đã được Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, huy chương "Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân" của UBTƯMTTQ Việt Nam và nhiều bằng khen, giấy khen của Giáo hội UBND, UBMTTQ thành phố Hà Nội.

Ngài đã an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 16gi54 ngày 23 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 1 tháng 4 năm Tân Tỵ) trụ thế 88 năm, Hạ lạp 60 năm.

Cả cuộc đời hơn 80 mùa sen nở, Đại lão Hoà thượng hiến dâng trọn đời cho Đạo pháp Dân tộc Chủ nghĩa xã hội, cuộc đời hành đạo và hoá đạo của Ngài rất bình dị chân tu thực học, nghiêm trì Thi la tịnh giới, luôn khơi đèn trí tuệ Văn Thù và thể hiện hạnh nguyện Phổ Hiền Bồ tát tốt đời đẹp đạo.

Ngài thật xứng đáng là một Luật sư giáo thọ của Tăng ni, Phật tử GHPG Việt Nam, là bậc cao tăng thạc đức của thế kỷ XX và đầu XXI. Đức hạnh và trí tuệ của Ngài mãi mãi là ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho hàng Tăng ni, Phật tử Việt Nam”.

Thay mặt Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp. Hà Nội, Hòa thượng Thích Thiện Nhơn – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS đọc lời tưởng niệm lần thứ 10 (2001 - 2011) ngày Hòa thượng Kim Cương Tử viên tịch:

“Cố Hòa thượng Kim Cương Tử – Thành viên Hội đồng chứng minh, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; Phân viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hà Nội; Trụ trì Tổ đình Trấn Quốc - Hà Nội, là một bậc cao tăng thạc đức, thạch trụ chốn Tòng Lâm, là ánh hải đăng định hướng cho Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Thành phố Hà Nội, Thành phố Hải Phòng đi đúng mục tiêu hộ quốc an dân, phụng đạo yêu nước trong quá trình xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam theo từng thời đại khác nhau của lịch sử. Như Cổ Đức đã nói:

“Lưng mang bức tượng Di Đà

Chữ Trung chữ Hiếu thiệt là vẹn phân”

Hòa thượng đã hiện hữu ở thế gian vào những năm đầu thế kỷ và đã ra đi vào những cuối thế kỷ XX. Gần 90 năm trụ thế, hơn 60 năm tùy duyên hóa độ chúng sinh thực hành Bồ Tát đạo, Hòa thượng đã để lại cho Phật giáo Việt Nam, cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam một tấm gương đạo hạnh trang nghiêm, tỏa ngát hương thiền, công đức vô biên của một hiện thân Bồ Tát Ân, Nghiêm, Uy dũng, kiêm toàn; thì mới biết:

"Kim Cương mở mắt không hoa rụng

Đại địa đồng qui tịch diệt trường"

Về mặt xã hội, Hòa thượng đã sử dụng phương tiện quyền xảo, bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến hành xử mọi phương diện trong những chặng đường lịch sử khác nhau của dân tộc, đạo pháp và xã hội, góp phần giải phóng quê hương, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước phồn vinh, an vui, hạnh phúc.

Quả thật :

“Hương thiền toả ngát gần xa

Vườn hoa xã hội nở hoa bốn mùa”

Về Đạo pháp, bằng thiện căn có sẵn, đạo hạnh khiêm ưu, tự tại trang nghiêm công đức thanh tịnh, Hoà thượng đã tỏa sáng gương lành, gióng trống lôi âm, vang rền tiếng pháp, nêu cao gương uy mãnh giữa rừng già, phát huy tinh thần Thích hải côn bằng. Linh sơn cốt nhục, tình pháp lữ Đại thừa trong chánh pháp, phát triển đạo vàng trong những chặng đường khác nhau của lịch sử Phật giáo Việt Nam, nhằm thể hiện ý nghĩa :

“Mỗi người mỗi nước mỗi non

Khi vào cửa Phật như con một nhà

Cùng nhau thực hiện lục hòa

Chúng sinh lợi lạc, chan hoà tình thương”

Qua tự thân, Hòa thượng là nguồn vổ vũ tinh thần, động viên Tăng Ni Phật tử Việt Nam phát huy tinh thần Đạo pháp, làm Tốt đạo Đẹp đời. Nhờ vậy mà qua các giai đoạn của lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni Phật tử Việt Nam mãi mãi chan hòa, hiện hữu và chuyển lưu trong dòng chảy của dân tộc, thật là :

“Dù cho đi vạn đường trần

Đạo tâm không để một lần phôi pha”

Có thể nói, hiện thân của Hòa thượng là bóng đại thụ che mát cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, là ánh hải đăng định hướng cho Phật giáo Việt Nam xuyên suốt dòng lịch sử truyền thừa và phát triển, mà đỉnh cao là thời đại Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Do đó, mỗi cử chỉ, mỗi ngôn từ của Hòa thượng không những đã biểu hiện một sức sống mãnh liệt cho Đạo pháp, cho Tăng Ni Phật tử nói chung, mà còn là một bài học đạo đức muôn đời cho các thế hệ hiện tại và mai sau noi theo gương Hoà thượng để sống và hành xử trong khi thi hành Phật sự.

Quả thật :

“Hư không còn có ngày mòn

Bao lời huấn thị sắt son muôn đời”

Với công tác Phật sự, Hòa thượng đã trang trải tình thương và bình đẳng đối với tất cả mọi người, mọi nơi và mọi Phật sự từ Trung ương đến địa phương, từ phạm vi cơ sở của Giáo hội cho đến Tăng Ni, Tự viện và Phật tử. Qua đó không những Hòa thượng đã tạo được niềm tin, sự hoan hỷ vô biên, mà sự an ủi, khích lệ tinh thần đạo pháp cho Tăng ni, Phật tử địa phương, mà còn cho mọi sự thành công của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Quả thật :

“Mặc dù Ngài đã đi xa

Pháp thân mãi mãi chan hòa núi sông”

Đối với Sơn Môn, Pháp Phái, Hòa thượng đã thể hiện trọn tình trọn nghĩa, làm tròn trách nhiệm đối với tông phong, Thầy tổ, đoàn kết hòa hợp như nước với sữa, để được lợi ích an vui trong Phật pháp, hòa mình trong Giáo hội và dân tộc qua sự hiện hữu của mình và Tăng Ni, Phật tử trong suốt dòng thời gian và không gian vô tận, như người xưa đã nói :

“Giữ gìn tổ ấn tông phong

Tốt Đời đẹp Đạo giữa lòng dân gian”

Đối với chốn Tổ, Hòa thượng đã dồn hết tâm lực, trí lực duy trì trùng tu chốn tổ Trấn Quốc được trang nghiêm tú lệ, xứng đáng là cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thủ đô. Thế rồi, khi Phật sự tròn xong, Hòa thượng đã tự tại ra đi, không luyến tiếc. Quả thật:

“Trời không cánh Nhạn bay qua

Bóng in đáy nước xóa nhòa một khi

Nhạn không để bóng làm gì

Nước không giữ bóng bởi vì vô tâm”

Ngày nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam chốn Tổ đã và đang phát triển trang nghiêm trong lòng dân tộc, nhưng Hòa thượng không còn nữa ở thế gian này, Hòa thượng đã trở về thế giới Niết Bàn, vô tung bất diệt, nhưng công đức và đạo hạnh sáng ngời, giới đức trang nghiêm thanh tịnh của Hoà thượng vẫn còn sống mãi với thời gian vô cùng và không gian vô tận, nhất là trong lòng người con Phật và trang sử muôn màu của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Quả thật :

“Một mai thân xác tiêu tan

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng sáng ngời

Chiếu soi pháp giới, rạng ngời Chân như”

Sau phần nghi lễ tôn giáo, Hội thảo khoa học về sự gnhiệp xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam của Hòa thượng Kim Cương tử (1914 - 2001). Tại Hội thảo có 40 bài tham luận và phát biểu ý kiến của chư Tôn giáo phẩm, các nhà khoa học, nghiên cứu, học giả trình bày nhiều góc độ về cuộc đời của Hòa thượng Kim Cương Tử đối với đạo pháp, dân tộc qua nhiều thời ký lịch sử, nhất là sau khi Việt Nam độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Cung nghinh chư Tôn giáo phẩm quang lâm




Quang cảnh Đại lễ tưởng niệm và hội thảo



Chư tôn giáo phẩm và toàn thể pháp hội đạo tràng niệm Phật



Môn nhơn để tử dâng lời tưởng niệm


Chủ toạ Hội thảo


PGS. TS Nguyễn Hồng Dương đọc lời dẫn hội thảo


Quang cảnh chùa Trấn Quốc và lễ cung nghinh nghinh chư Tôn giáo phẩm



Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (1 đã gửi)

avatar
Trung viên 30/04/2011 17:06:40
Có lẻ nhu thời gian dành cho tu tập của cq1c Thầy quá ít,bởi lẻ quanh năm toàn là hội thảo,thảo luận,hội họp, thòi gian đâu mà dành cho Tín đồ hỏi sao người ta ko cải đạo..khi thấy Phật tử cải đạo ,lại tổ chức thảo luận,hội thảo để tìm nguyên nhân ,chúng ta đang tự đi trong vòng trỏn,đi hoài củng về khởi điểm,,,,
tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập