Ngày tết suy ngẫm về câu thơ “Xuân qua hoa vẫn nở” của Xuyên Thiền sư

Đã đọc: 1290           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Theo truyền thống văn hóa Trung Quốc cũng như truyền thống Á Đông, cây tùng cúc, trúc, mai tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong một năm; trong đó, tùng và trúc biểu trưng cho khí chất người quân tử, cúc và mai biểu đạt cho vẽ đẹp thiên nhiên ban tặng. Hoa cúc, hoa mai, hoa đào nở rộ trong tết nguyên đán, “Gió xuân thổi nhẹ cánh hoa lay, ngày xuân hoa đào hé nở say, ngắm ngàn sắc biếc hoa diệu phẩm, dã sơ tú lệ tả chẳng đầy”,[1] từ đó khiến cho nhà thơ, nhà thư họa say ngất trước phong cảnh khoe sắc cho đến tàn úa của muôn hoa. Tác phẩm Đào Hoa Viên Ký của Đào Uyên Minh chuyên môn viết về hoa thắm hay tả cảnh hoa tàn: “Hoa cúc tàn mùa đông, trông xa ngắm Nam sơn. Mặt trời lặn rặng núi, bầy chim bay về tổ, chẳng thấy vết chim bay”. Đào Uyên Minh là một trong những nhà thơ lớn ở Trung Quốc. Đào Hoa Viên Ký của ông trải qua bao thời đại đã khiến cho không ít kẻ say sưa hoa đào, cho đến kẻ chứa đựng ý hướng xuất trần cũng bị hoa đào kéo lui “Tay nắm Tâm Kinh ngắm hoa đào, cũng do tâm chưa xuất trần, bởi vấn vương hoa đào nở thắm”.[2]

Xuyên thiền sư gọi đủ là Thiền sư Đạo Xuyên, là một vị Thiền sư sống vào thời kỳ Nam Tống Trung Quốc. Cuộc đời Thiền sư chuyên nghiên cứu tư tưởng Kinh Kim Cang, để đời quyển Xuyên Lão Kim Cang Kinh Chú. Điều khiến cho người ta chú là tài nghệ văn chương của Thiền sư hay mượn cảnh vật để giảng giải nghĩa lý Kim Cang và đạt cảnh giới cao. Như Thiền sư làm thơ kệ đáp “Vượn hú đỉnh núi, hạc khóc giữa rừng. Mây dăng gió quyện, nước vọt dãy dụa. Rất ưa thu muộn sương nữa đêm, một tiếng ngỗng vang xé trời lạnh”.

  Câu thơ “Xuân qua hoa vẫn nở”[3] thuộc thể thơ “ngũ ngôn tứ tuyệt” (bốn câu năm chữ), đại khái câu thơ nói mùa xuân qua đi nhưng cảnh tượng hoa nở vẫn thản nhiên tồn tại, nếu nói đến cảnh giới thiền định thì câu thơ này hình dung tâm thức trước khi ngộ đạo và sau khi ngộ đạo.[4][5] Câu thơ mang tính tỉ lệ nghịch, mâu thuẫn căn bản với quy luật tự nhiên, tức là xuân qua hoa sẽ tàn úa. Phật học Thiên Thai nhấn mạnh một niệm ba ngàn, viên dung tam đế, viên dung ba pháp bất tung bất hoành, được biểu đạt theo kết cấu công thức toán học hiện đại thì đó là: 1 3 3 1; nếu đối chiếu với bài thơ này thì cũng có điểm tương ứng, ước chừng chỉ định thực tướng vô tướng. Kinh Kim Cang có thuyết “Thực tướng, tức là phi tướng, cho nên Như Lai nói danh thực tướng”, “Nếu thấy các tướng phi tướng, tức thấy Như Lai”, “Như Lai là chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu” cũng là theo con số: 1 3 3 1. Thực ra, những quan điểm này của Thiên thai chủ yếu được rút tỉa từ Đại Bát Niết-bàn kinh mà ra,[6] trong Kinh nói đến: Phật tính chính nhân, Phật tính nhân duyên, Phật tính liễu nhân. 

Hiện nay vẫn chưa xác định ai là tác giả bài thơ?. Giới nghiên cứu nêu 4 tác giả qua 4 thời đại:

1, Của khuyết danh.

2, Người ta căn cứ 4 câu thơ “Người ngắm hoa quế rụng, Đêm lặng núi xuân tĩnh, trăng nhô chim núi sợ, dưới suối chim hót xuân” trong bài thơ Điểu Minh Giản của Vương Duy, và bởi lẽ trong thơ ông được thậm xưng hóa “Trong thơ có họa, trong họa có thơ” cho nên cho rằng bài thơ của ông. Ông là nhà thơ lớn ở Trung Quốc, ông cũng am hiểu Phật học và đã soạn văn bia Lục Tổ Huệ Năng có tên “Lục Tổ Huệ Năng Bi minh”, đây là một sử liệu quan trọng, mang chức năng truyền tải sự kiện lịch sử, phản chiếu dòng lịch sử cổ truyền nên giúp cho giới khảo cứ học đương đại dùng làm căn cứ tư tưởng thiền học Huệ Năng, khiến cho nhà Phật học nổi tiếng Lữ Trừng phải nhấn mạnh nên lấy văn bia của ông làm y cứ.[7]Nhưng trải qua tham khảo, họ thấy trong tác phẩm Vương Thạch Thừa Tập của ông không có hai câu đầu, nên nhận xét bài thơ không phải của Vương Duy.

3, Của Cao Uyên cuối thời Thanh, bởi lẽ trong thơ Cao Uyên hay miêu tả cảnh vật tự nhiên. Trong những bài thơ để đời, chỉ có bài thơ Thôn Cư của Cao Uyên là tuyệt diệu. Thôn Cư với thể dạng thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu bảy chữ) là: “Cỏ xanh chim bay trời tháng hai, cành dương lất phất khói xuân rợp. Học trò tan học về nhà sớm, thả diều tung cánh gió Đông bay”.

4, Của Xuyên thiền sư

Cũng có những bản văn nêu đến 5 tác giả, đó là có thêm Đường Bá Hổ thời Minh. Tương truyền, lần nọ ông đi dạo trên cây cầu ở phố cổ Hàng Châu, đến khúc cầu bị rạn nứt, bèn nhìn thấy trên lan can cây cầu có khắc bài thơ này nhưng chữ được chữ mất, và ông dặm thêm vào mà thành bài thơ hoàn chỉnh.

Bốn mùa trong một năm cũng là đại biểu cho văn hóa tư tưởng qua các thời kỳ, nhất là mùa xuân đã đánh mạnh tâm thức loài người rạo rực để rồi nuối tiếc. Các nhà Nho học thời gần đây cũng mượn bốn mùa nhằm thuyết minh cho biến hóa tư tưởng xã hội, xem mùa xuân là “gọn mà sạch, mùa hạ là “rõ mà văn”, mùa thu là “mật mà nghiêm”, đông là “chẳng nỡ nghe”.[8]Các nhà Phật học Đại thừa cũng có mượn bốn mùa hoặc mượn năm giai đoạn trong kiếp sống con người để nói về  để thuyên thích về Phật giáo từ lúc sáng lập cho đến thời kì suy tàn, hoặc tiến trình phát triển bộ phái hay tông phái Phật giáo. Trong trước tác Ấn Độ Chi Phật Giáo của Hòa thượng Ấn Thuận, Ấn Thuận đem cuộc đời con người ví cho 5 thời kỳ Phật giáo, “Thanh văn lấy gốc cùng trở về giải thoát” tượng trưng cho con người mới sinh, “Khuynh hướng bồ-tát Chia dòng Thanh văn” tượng trưng cho trẻ em, “Đại thừa và Tiểu thừa lấy gốc bồ-tát làm nền tảng” tượng trưng cho người lớn, “Khuynh hướng Như Lai chia dòng Bồ-tát” tượng trưng cho người già, “Như Lai lấy gốc nhất thể Phật” tượng trưng cho người chết.[9] Trên thực tế thì 5 thời kỳ mà Ấn Thuận nêu cũng tương đồng với phân kì căn bản của giới học thuật Phật giáo nguyên thủy, bộ phái Phật giáo và Phật giáo Đại thừa.[10]Điều đáng nói ở đây là Ấn Thuận tiến một bước nhấn mạnh đặc trưng thời kỳ hoán chuyển Phật giáo, “Như thời kỳ 4 và 5 cũng là chỉ cho học giả nói đến Không tính bát-nhã đến vạn pháp duy thức, cho đến đặc điểm biến hóa trong quá trình phát triển Mật giáo.”[11]

Nhìn chung, tuy nay vẫn chưa xác định tác giả bài thơ, nhưng bài thơ vẫn lưu tồn qua hơn ngàn năm nay và được làm khóa đề văn học. Theo các Đại sư Phật học hiện đại như Thích Thánh Nghiêm hoặc Thích Tinh Vân đều cho rằng tác giả là Thiền sư Đạo Xuyên. Bởi lẽ dưới con mắt của Thiền sư thì muôn vật chưa từng sinh diệt, cũng chưa từng bị ngoại cảnh xoay chuyển,[12] vì vậy phải ‘viễn quán’ biến huyễn mà khiến cho tâm cảnh được an nhiên trong tiết xuân hay tiết đông.

 

 



[1] Huỳnh Hạ Niên, Thích Trung Nghĩa dịch, Lịch sử Phật giáo Trung Hoa cổ đại, Nxb. Hồng Đức, 2014, tr.260

[2]Sđd, tr.258

[3] Nguyên bài là “Xa trông núi có sắc, gần không nghe nước chảy, xuân qua hoa vẫn nở, người đến chim chẳng sợ”, nguyên bản là “Viễn quán sơn hữu sắc, cận thính thủy vô thanh, xuân xứ hoa hoàn tại, nhân lai điểu bất kinh

[4]Theo lời của Pháp sư Thánh Nghiêm trong bài viết “Thiền thi và Thiền họa”

[5]Hòa thượng Tinh Vân,  “Tinh Vân thuyết kệ: Như như bất động”, Nhân Gian phước báo

[6] Xem bản văn “Triết học Phật giáo và Hiện tượng học duy thức” (Đối thoại giữa Ngô Nhữ Quân và Lại Hiền Tông, ngày 25/12/2000, Trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn thuộc Viện Nghiên Cứu Trung Ương, Đài Bắc, Đài Loan)

[7] xem Lữ Trừng, Trung Quốc Phật học nguyên lưu lược giảng, Nxb. Thư cục Trung Hoa, 1979, tr.222

[8]Xem bản văn “Nghĩa học của Pháp sư Bạc Thường” của Hoàng Hạ Niên,

[9] Thích Ấn Thuận, Ấn Độ Chi Phật Giáo, Nxb. Thư cục Trung Hoa, 2011

[10] Tham khảo bản văn “Ấn Thuận và Vương Ân Dương - lấy Ấn Độ Chi Phật Giáo làm trung tâm” của Hoàng Hạ Niên, đăng trên học báo Nghiên cứu Phật học Huyền Trang, kì 2, tr.205

[11]Sđd

[12] xem Hòa thượng Tinh Vân,  “Tinh Vân thuyết kệ: Như như bất động”

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập