Lưỡng nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay
Trang chủ Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay Bài viết chọn lọc Câu Thi Na (Kusinagar) hành trình cuối cùng của Phật

Câu Thi Na (Kusinagar) hành trình cuối cùng của Phật

Đã đọc: 1683           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Giống như các tháp khác tại Ấn Độ, tháp Xá Lợi này có đỉnh rất cao khoảng 45m. Trong có mái hình vòm, nhọn ở đỉnh. Trên đỉnh tròn của tháp là một hình trụ cao khoảng 5, 5 mét, có một hàng hoa văn và một tấm bia bằng đồng khắc kinh Nhân Duyên (Nidana) bằng tiếng Sanskrit và có những dòng chữ ghi lại lịch sử pho tượng Niết Bàn của Đức Phật. Trong tháp có nhiều tháp nhỏ chứng tỏ nó đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1927 tháp được khôi phục hoàn toàn nhờ sự cúng dường của hai Phật tử người Miến Điện là U Po Kyu và U Po Hlaing. Xung quanh tháp chính, có nhiều tháp nhỏ và các nền gạch cũ nằm đan xen chính là nền của các tu viện thời xưa.

Những ngôi tháp khác bao gồm tháp của Tu Bạt Ðà La, người đệ tử cuối cùng già nhất (120 tuổi), xuất gia với Ðức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn; tháp ngài Phú Lâu Na, thánh đệ tử thuyết pháp đệ nhất... Tuy nhiên, sau thời kỳ chiêm bái của ngài Huyền Trang thì Phật giáo tại thành Câu Thi Na ngày càng mất dần ảnh hưởng. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII, sử liệu Ấn Ðộ không hề đề cập gì đến nơi này nữa. Ðến thế kỷ thứ XIII, sau cuộc xâm lăng của đạo quân Hồi giáo, loạn lạc khắp nơi, Câu Thi Na hoàn toàn đi vào quên lãng. Bên cạnh đó quân Hồi sẵn sàng đập phá bất cứ thánh tích Phật giáo nào được khám phá trên bước đường viễn chinh của họ. Như vậy, số phận thánh tích Câu Thi Na cũng như các thánh tích khác bị đập phá trong khoảng thế kỷ XII và XIII. Mãi đến thế kỷ thứ XIX, nhà khảo cổ người Anh tên Wilson (1854) tình cờ tìm thấy được dấu tích thành Câu Thi Na. Sau đó các nhà khảo cổ Cunningham và Carlleyle dựa vào tài liệu trong ký sự của ngài Huyền Trang, tiến hành những cuộc khai quật chính thức và sau đó người ta mới khai quật được tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi trên cùng một nền gạch. Năm 1856 người ta hoàn thành việc tái thiết tháp Niết Bàn. Năm 1956 Phật giáo Nhật Bản lại hợp cùng các hội Phật giáo khác tài trợ trùng tu toàn bộ ngôi tháp Niết Bàn, và kiến trúc ấy vẫn được giữ cho đến ngày nay. Ðến những năm đầu thế kỷ XX nhà khảo cổ Vogell đã tìm thêm được một số di tích khác tại làng Câu Thi Na. Ngày nay Câu Thi Na cũng chỉ là một thị trấn nhỏ, cách khu vực Kasia chừng 3 cây số về hướng Tây Nam và cách thành phố Gorakhpur chừng 50 cây số trong bang Uttar Pradesh, thuộc vùng Bắc Ấn Ðộ. Dân cư quanh vùng rất thưa thớt, nên cảnh trí vẫn còn chút gì đó phản ánh nơi thanh u, yên tĩnh như ngày nào đức Thế Tôn đã chọn nơi đây làm địa điểm đại tịch diệt của Ngài.

1. Tháp Trà Tỳ (Angrachatya), nơi hỏa thiêu nhục thân Phật.

Từ nơi tháp Niết Bàn hướng về phía Ðông cách khoảng 2 km có một ngôi tháp gọi là tháp Trà Tỳ, tức là nơi đánh dấu vị trí hỏa thiêu nhục thân của Phật. Tháp này trông rất lớn, nhưng không được cao lắm so với các tháp khác. Theo các nhà khảo cổ nghiên cứu, tháp vẫn còn cao khoảng vài mét nữa nhưng vì phần dưới chân bị lún sâu trong lòng đất nên chúng ta chỉ thấy từ mặt đất trở lên như dáng dấp hiện thời. Khi chúng tôi vào thăm viếng, ngôi tháp đang được mọi người chùi rửa và tu bổ. Dáng vẻ ngôi tháp giống như một con rùa, rộng phần chân và mô dần lên đỉnh hay nói thực tế hơn giống như những ngôi mộ làm bằng đất ở các vùng nông thôn Việt Nam. Ðường kính đáy tháp khoảng 45 m, cao khoảng 15m. Vào năm 1956, ngôi tháp này cũng được khai quật và tìm thấy rất nhiều di chỉ cùng với niên đại và ký tự thời xưa, chứng tỏ nơi đây chính là chỗ hoả thiêu nhục thân của Phật.

Căn cứ vào lịch sử Phật giáo, nhục thân của Phật phải hoãn lại bảy ngày sau đó mới hỏa thiêu, vì còn phải đợi ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakassapa) cùng với các Tỳ kheo đang trên đường đến Câu Thi Na tham dự tang lễ của Phật. Truyền thuyết kể lại rằng, sau khi đến nơi, ngài Ma Ha Ca Diếp và các Tỳ kheo đi nhiễu quanh kim thân Phật ba vòng và quỳ đảnh lễ. Ngay lúc đó đôi chân của đức Phật đã duỗi ra khỏi kim quan. Ngài Ma Ha Ca Diếp ôm lấy bàn chân của Phật và cúi đầu thọ nhận mật chỉ cuối cùng của Phật. Cũng như xưa kia tại pháp hội Linh Sơn, Ngài đã một lần mĩm cười khi đức Phật đưa cành hoa sen, thầm nhận được yếu chỉ mật truyền từ đức Thế Tôn, trong khi đại chúng tỳ kheo trong pháp hội đều ngơ ngác nhìn. Ðức Phật đã phó chúc cho ngài Ma Ha Ca Diếp rằng: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến đời sau sẽ truyền cho A Nan”. Như vậy chúng ta thấy được tầm quan trọng và uy tín của ngài Ma Ha Ca Diếp đối với đại chúng thời Phật lớn lao như thế nào. Và sau đó ngài Ma Ha Ca Diếp được đại chúng cung thỉnh châm lửa hoả thiêu nhục thân của Phật.

Cạnh ngôi tháp này, hướng bên phải từ cổng chính đi vào, chúng ta thấy có nhiều tháp nhỏ lóm khóm còn nguyên vẹn, nằm dưới mặt đất của lối đi cách tháp khoảng 3m và khi đếm thì được tám cái. Những người hướng dẫn nói rằng tám cái tháp nhỏ biểu trưng cho tám vị quốc vương của tám nước được chia xá lợi Phật tại nơi trà tỳ.

Rời khỏi nơi này chúng tôi cũng cảm thấy một chút gì đó ấm lòng khi nhìn thấy cảnh vật được mọi người chăm sóc, cỏ được trồng tỉa vén khéo, tốt tươi. Một tia hy vọng được thắp sáng trong tôi cho ngày mai Phật giáo sẽ trở lại thời vàng son, đem đến cho người dân Ấn một cuộc sống bình đẳng, ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc đầy đủ, ai cũng được hưởng trọn quyền làm người mà xưa kia cả cuộc đời đức Thế Tôn đã làm. Ngài trở thành nhà cải cách xã hội đầu tiên rất thành công trên thế giới.

2. Nền nhà của cư sĩ Thuần Đà (Cunda)

Thuần Đà (Cunda) là tên một người thợ sắt tại làng Pava, người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng trước khi Phật nhập Niết Bàn. Khi đức Phật và chúng Tỳ kheo ngang qua làng Pava và dừng nghỉ tại khu vườn xoài, thợ sắt Thuần Đà hay được tin đó liền đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ và ngồi xuống một bên để được nghe pháp yếu của Phật. Sau khi nghe pháp, thợ sắt Thuần Đà sanh tâm hoan hỷ muốn cúng dường bậc Đạo Sư và chúng Tỳ kheo vào ngày hôm sau. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Bữa ngọ trai hôm đó, đức Thế Tôn nhìn thức ăn, một loại nấm lạ với vẻ nghi ngờ. Nhưng với lòng tịnh tín, nhiệt tâm của người cúng dường nên đức Phật đã dùng trọn phần của mình và bảo Thuần Đà đem chôn phần thức ăn còn lại, vì Ngài biết rằng đó là một loại nấm độc. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn chép rằng: “Này Thuần Đà, món ăn mộc nhĩ còn lại, ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Thuần Đà , Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm Thiên giới, không một người nào trong chúng Sa Môn và chúng Bà La Môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai”.  Sau bữa cơm đó, bữa cơm cuối cùng, đức Thế Tôn bị bệnh trầm trọng và Ngài quyết định đến Câu Thi Na. Chúng ta không nên nghi ngờ về hành động của Phật. Ngài thừa biết nhân duyên đại tịch diệt đã đến, lại thêm lòng từ bi muốn tạo phước đức cho kẻ cúng dường nên Ngài quyết định dùng bữa cơm này, cho dù không dùng bữa cơm ấy thì thời giờ Niết Bàn của Phật cũng được Ngài chọn sẵn như vậy. Để đánh tan nghi ngờ và niềm hối hận trong lòng của cư sĩ Thuần Đà vì nghĩ rằng chính thức ăn mà mình dâng cúng làm cho đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Đức Phật bảo ngài A Nan hãy đến trấn an tinh thần Thuần Đà với lời rằng: “Đức Thế Tôn đã nói có hai bữa ăn trong cuộc đời đáng được ghi nhớ và phước báu hơn bất kỳ bữa ăn nào: Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết Bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích lớn hơn các sự cúng dường ăn uống khác”- Kinh Đại Bát Niết Bàn.

Đoàn chúng tôi đến tận làng Pava, nơi được cho là nền nhà của cư sĩ Thuần Đà. Làng Pava hiện nay là một khu thị trấn nhỏ, dân cư quanh vùng đông đúc. Trước khi đến nền nhà của Thuần Đà phải qua một lối đi của nhà cư dân, hai bên đường nhà cửa chen chút. Vượt qua xóm nhà dân là khoảnh đất trống, phía trước có tấm bản giới thiệu, khoảng giữa có mô đất trộn lẫn gạch cũ cao khoảng 6m. Trên cùng của mô đất có những ô gạch vuông cũ và các bức tường đổ ngang dọc. Cách nền gạch này khoảng 10 m có cây Bồ đề rất lớn, cành lá sum suê. Người ta cho rằng đây là nền nhà của Thuần Đà. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, ngôi nhà xưa không thể quá cao như vậy, rất có thể do một ai đó, có thể là vua A Dục xây mộ để tưởng niệm giống như mộ kỷ niệm của nàng Su Dà Ta, và đây chính là đống gạch vụn của ngôi mộ được kiến tạo sau này?

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)