Lưỡng nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay

Triết lý của trống

Đã đọc: 1298           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Tiếng trống là một pháp được tạo thành khi nhiều pháp khác duyên lại với nhau. Nhưng đôi khi các pháp đã hợp lại rồi vẫn cứ nằm im thinh thít. Cái trống nhỏ đã có rồi, nhưng nó sẽ không mang lại ý nghĩa nếu như không có bàn tay tạo thành chất xúc tác cuối cùng để vang ra những thanh âm vui nhộn. Đôi khi duyên hội tụ đủ đầy rồi, vẫn còn phải đợi một duyên khởi nữa để tròn vẹn, viên thành!

Lời của trống

Âm thanh của chiếc trống nhỏ là kết quả của muôn vàn các pháp, được tụ hội lại bởi muôn duyên, và duyên khởi. Nếu nhìn kỹ, mình sẽ thấy, âm thanh tùng tùng ấy không phải do riêng công của tay người, hay của những phần cấu tạo nên trống. Âm thanh ấy là của chung, của tất cả các pháp đã, đang, và sẽ tạo kết hợp lại cùng nhau. Thiền sư bảo kết quả của các pháp tụ hội là vô thường, huyễn hóa. Nhưng khi ta thấy được tự thân của mặt trống, của hạt gỗ, của que cầm, của tay người đều có thể tạo ra âm thanh, đều phản chiếu lên được bóng hình của “thứ” mà chúng có thể tạo thành. Thì thanh âm đó không còn là huyễn hóa nữa, mà sự trường tồn, bất biến. Nên gọi, tự thân các pháp đã thể hiện đầy đủ tất cả các pháp khác hiện hữu trên thế gian này. Đấy là chỗ thấy chắc chắn có được, khi hành giả thiền quán về sắc thân vô thường, vạn pháp vô thường sẽ nhận chân được bản thể bất sanh bất diệt ẩn tàng trong những điều tưởng chừng như sanh trụ hoại diệt liên tục này.

Bài học từ chiếc trống

Âm thanh tự tánh của chiếc trống vốn dĩ là sự tịch lặng. Chỉ vì các pháp hội đủ, duyên khởi đưa đến thì tiếng tùng tùng ấy phát ra. Mình nghe như thế bảo tùng tùng là âm thanh của trống. Đó là nghe và biết dưới con mắt của thế gian, thật sự âm thanh ấy là của muôn trùng duyên khởi, nó vốn không có, cũng không không, do duyên hợp tạo thành. Nó là thành quả khi các pháp nương theo duyên mà hội tụ và viên thành. Mình chạy theo con sóng, nhưng quên mất tự tánh của sóng cũng là nước. Nước có thể yên tịnh, cũng có thể xao động cuồng nộ nhưng bản chất của nước lại an nhiên. Chư Bụt, chư Bồ tát ngộ được sự an nhiên của nước, nên hành đạo giữa Ta bà mà không hề bị nhiễm đắm bụi trần. Dạo chơi trên sóng dữ, lửa đỏ là thân tâm thơi thới, bình an. Bồ tát đi vào Địa ngục, thì Địa ngục hóa thành hồ sen. Địa ngục không phải là nơi ở ngoài ta, nó ở ngay trong tâm ta, dùng trí Bát nhã đem vào lửa của sân hận, kinh hoàng thì lửa tự tiêu tắt. Tin Bụt, và Bồ tát thì phải thực hành theo các Ngài, tu tập theo các Ngài, chứ không thể cứ mãi ngồi đó mặc cả từng lời cầu xin.

Mình quen cách đặt tên cho một tổ hợp các pháp tương đối, và tin rằng nó thường hằng, vĩnh cửu. Như thấy tổ hợp của thân này thì gọi là con người, thấy tổ hợp linh kiện thì gọi là máy móc, thấy miếng da căng ra bịt kín hai mặt của chiếc hộp rỗng thì gọi là chiếc trống v.v... Và xa hơn nữa thì thấy tổ hợp của quan tâm, chăm sóc thì gọi là yêu thương, thấy tổ hợp của vợ đẹp, con ngoan, nhà cao cửa rộng thì gọi là hạnh phúc. Những khái niệm về tổ hợp ấy đã bao đời nay giam giữ ta, khiến cho ta sanh ra phiền não, đau khổ, mong cầu. Đến mức ta vào chùa, quỳ dưới chân Bụt - là Người từ bỏ tất cả, để xin lại những thứ mà Người đã từ bỏ rất lâu rồi. Như vậy, những định kiến ngàn đời về tên gọi của các tổ hợp ấy khiến ta điên đảo, và chưa chắc việc đi chùa, lễ Bụt là cách đối trừ điên đảo hay là một cách vi tế đang tự đào sâu, vun vén cho cội gốc của dây leo phiền não được tinh vi hơn, thâm độc hơn.

Hiểu được thế, ta nguyện sẽ đến chùa bằng tâm không mong cầu. Không viết giấy nhờ quý thầy cầu an, cầu mua may bán đắt. Mà đến chùa, lễ Phật như dịp ta tạm buông gánh phiền não, gánh nợ đời này ở trước cổng, rồi thong dong nhẹ bước vào chùa. Một cơ hội, để thân nhẹ, tâm an, miệng mỉm cười. Những khóa tu nửa ngày, một ngày, ba ngày… an lạc cũng với mục đích như vậy, nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có tiếp nhận được sự an lạc ấy, và nguyện gìn giữ, lan truyền sự an lạc ấy cho người thương, người thân xung quanh khi ta kết thúc khóa tu hay không. Cho nên tâm mình nên như gió, bản chất thật của gió là không hương, không vị nhưng gió nguyện mang hết hương vị của thế gian. Hương thơm để dành cho những chúng sanh thích mùi thơm, mùi hôi thúi để dành cho những chúng sanh vì nghiệp báo chỉ nghe và chịu những sự sự thối hôi, nhơ nhớp. Như các loài gián, chuột, vi khuẩn yếm khí chỉ chấp nhận được, và hạnh phúc khi ở trong cống rãnh, ao tù nước đọng.

Quán sâu về chiếc trống nhỏ bé, ta cũng đủ năng lực để mở tung cánh cửa Bất sanh Bất diệt, và phủ kín tâm này bằng niềm hỷ lạc vô tận mà không ngôn ngữ nào diễn tả được. Căn nhà có tám vạn bốn ngàn cánh cửa để ra vào, vậy chỉ cần vào được nhà ấy, thì có thể thông suốt được tất cả các cửa còn lại. Nên có một vị thầy dạy rất hay là nghe chim, nghe lá, nghe gió, nghe suối đều đã, đang, và sẽ thuyết Pháp Hoa kinh.

Ứng dụng vào đời sống hư thực

Khi gặp những lúc sóng dữ, nghịch cảnh cầm trên tay chiếc trống, lắc nghe tùng tùng, ta sẽ được cho một công án để suy ngẫm. Và mỉm cười nhẹ nhàng khi nhận ra rằng: À, các pháp đang tụ hội, nương theo duyên khởi mà sanh diệt. Phiền não vốn là nhân của Như Lai, hoa sen được xem là thanh khiết nhất trong các loài hoa, lại bắt đầu đời sống trong ao tù, nước đọng, rễ bén sâu vào bùn nhơ để nuôi lớn Bồ đề tâm. Vậy không có chúng sanh cũng sẽ chẳng có quả vị Bụt, không có chúng sanh cũng sẽ không có đối tượng để nhập hạnh Bồ tát, không sanh già bệnh chết thì không có sự giải thoát, không phiền não sẽ không có Thiền định. Thiền phái Trúc Lâm có câu kệ rằng: “Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền”.

Có đôi lần, hành giả nên quán mình là chiếc trống, những lời nói, tiếng hát, hành động, suy nghĩ là tiếng tùng tùng. Mình biết âm thanh ấy là không thực, nhưng nó đem lại niềm an lạc của tha nhân. Tựa như Bồ tát biết thân này là vô thường, bất tịnh nhưng không nảy ra ý định chán ghét, khinh miệt thân này mà trái lại còn trang nghiêm thân bằng trí Bát nhã, rồi dùng thân này để lợi lạc hữu tình, cúng dường Tam bảo. Hãy im lặng khi vắng bóng của duyên khởi, nhưng khi bắt buộc phải nói thì hãy nguyện nói những lời ái ngữ, dùng vô thường để khiến mình và giúp người quay về với tri kiến Phật, với viên ngọc bị lãng quên trong túi áo kẻ ăn mày. Khi mình đau buồn, tay xìu xìu, mệt mỏi lắc trống, trống vẫn vang lên âm tùng tùng. Khi sân hận, khi vui vẻ, trống đều tùng tùng. Vậy dù đời có đau khổ, có bế tắc, có tuyệt vọng đến cùng cực mình hãy là chiếc trống, luôn vang lên những lời nói của ái ngữ, luôn tỏa ra năng lượng của Từ tâm Vô quái ngại. Hãy tin rằng không ai có thể giải trừ đau khổ, phiền não cho ta ngoại trừ chính bản thân ta nỗ lực. Nhưng hãy tin rằng, ta sẽ giúp được cho những người thương trên con đường chuyển hóa, bằng lời nhắc nhở, chia sẻ...

Thêm điều nữa về chiếc trống. Nó có thể phát ra âm tùng tùng vì nó rỗng. Hãy xem đó là một bài mẫu cho ta thực tập. Ta sẽ không đem lại niềm vui cho bất cứ ai nếu trong tâm ta còn chất chứa những định kiến, nội kết. Hãy xả bỏ những sân hận, si mê, và tham đắm để đến với người mình thương một cách tinh tuyền nhất. Mình không thể làm người khác thấy an ninh khi ở bên nếu trong lòng mình còn quá nhiều những định kiến, những sự bất tín nhiệm về họ. Tình cảm không phải là nhốt người mình thương, mình yêu vào tim mà là hoan hỷ khi thấy họ được thong dong, tự tại với công việc, với cách sống họ chọn vì mình biết mình là nguồn cảm hứng cho cách sống, cho công việc ấy...

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)