Lưỡng nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay
Trang chủ Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay Bài viết chọn lọc Trần Tung một gương mặt mới trong làng thơ thiền Lý Trần

Trần Tung một gương mặt mới trong làng thơ thiền Lý Trần

Đã đọc: 2581           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Chân lý tối hậu mà Trần Tung muốn đề cập sau khi đã mất công biện giải chỗ không sai biệt giữa “không” và “sắc”...

Bên cạnh đầu óc duy lý, thơ văn Trần Tung còn đưa lại cho ta một điều thú vị khác. Ấy là sự gặp gỡ, ảnh hưởng giữa nhiều học phái khác nhau. Ðây cũng là một biểu hiện không cố chấp của con người nhà thơ, nó tạo nên trong nhận thức và cảm xúc của ông một hệ quy chiếu phức tạp, đan dệt, biến thái bởi vô số “gam màu” ý thức hệ không cùng nguồn gốc. Tuy là một nhân vật trong làng Thiền, Trần Tung thường khi vẫn có cái thoải mái tự nhiên của một kẻ sĩ ngao du phóng lãng; con người thơ thoát ly không gian trần tục, nhập vào một không gian “đạo” bàng bạc chất thơ:

Thanh phong minh nguyệt sinh nhai túc,

Lục thủy thanh sơn hoạt kế đa.

Hiểu quải cô phàm lãng hãn mạn,

Vãn hoành đoản địch lộng yên ba.

(Giang hồ tự thích-Vui thích giang hồ)

Gió mát trăng thanh, sinh kế đủ,

Non xanh nước biếc thú vui đầy.

Giương buồm, sáng sớm bãng mù thẳm,

Nâng sáo chiều hôm giỡn khói mây.

Lại có khi ông coi mình là một xử sĩ không phải chỉ biết quan tâm đến cái “vô” cái “hữu” mà vẫn dành một chút tâm sự sâu kín cho cuộc đời thanh trọc quanh mình:

Ða tàm thân trọc phùng thời trọc,

Tiểu tại tâm thanh ngộ quốc thanh.

(Thoái cư-Ẩn cư)

Thân đục thẹn sinh thời buổi đục,

Lòng trong may gặp nước nhà trong.

Có lúc hào hứng lên, ông còn tự ví mình như một “gốc thông xanh” có khả năng làm rường cột cho đất nước - một sĩ đại phu sùng Nho vào hàng khả kính; nhưng vì trót yêu cái đẹp của tạo vật nên còn nhẩn nha ở lại bên triền núi, chưa tiện về triều:

Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên

Hu ta địa thế sở cư thiên.

Ðống lương vị dụng  nhân hưu quái,

Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.

(Giản để tùng-Cây tùng đáy khe)

Mấy năm yêu dấu gốc tùng xanh,

Ðừng thở than rằng đất vắng tanh.

Rường cột chưa dùng, người chớ lạ,

Hoa nhàn cỏ nội khắp chung quanh(...).

Rồi còn hơn thế nữa, tiếng nói của Trần Tung trong thơ đột nhiên mang tư thế một nhân vật phi phàm, vượt quá tầm cỡ cuộc đời chật hẹp mà vươn mình ra giữa khoảng trời đất. Ðó là kiểu người trong Tiêu dao du của Trang Tử; không gian ở đây mới đích thực là không gian “ảo” - không gian vũ trụ, và con người ở đây cũng không còn chút gì là chất “phàm” nữa:

Thiên địa diếu vọng hề hà mang mang,

Trượng sách du du hề phương ngoại phương.

Hoặc cao cao hề vân chi sơn,

Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương.

Cơ tắc xan hề hòa la phạn,

Khốn tắc miên hề hà hữu hương...

(Phóng cuồng ngâm-Thơ  phóng cuồng)

Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mang,

Chống gậy nhởn nhơ chừ phương ngoài phương.

Hoặc cao cao chừ, mây đỉnh núi,

Hoặc sâu sâu chừ, nước trùng dương.

Ðói thì ăn chừ, cơm tùy ý,

Mệt thì ngủ chừ, làng không làng...

Ta để ý đến phong cách trữ tình của nhà thơ. Trần Tung đã dựng lên những chủ thể trữ tình khác hẳn nhau, song ở bất kỳ kiểu người nào, ông cũng sống hết mình mà không gượng ép. Nghệ thuật ngôn từ đã được vận dụng đến tuyệt đỉnh để biểu hiện rõ tính cách. Với con người giang hồ tiêu sái thì dáng dấp thật ngang tàng qua những động từ cực đắt: bãng mù thẳm / lãng mãn hạn; giỡn khói mây / lộng yên ba. Còn với con người xử sĩ, nhà thơ lại dùng hai chữ thanh / trọc lặp đi lặp lại trong câu thơ theo thủ pháp điệp tự để làm nổi rõ tâm tư và cung cách xử thế của con người ấy. Riêng với tầm thước con người “phóng cuồng”, con người vũ trụ, thì tác giả dụng ý mở rộng dung lượng câu thơ, dùng thể thơ trường thiên tự do chủ yếu là 8 chữ, sắp đặt thành một chuỗi câu vần bằng liên tiếp nhau, mỗi câu đều có chữ hề và chữ chi hoặc một chữ thanh bằng lặp lại (mang/mang, phương/ phương, cao/cao, thâm/thâm...), khiến cho âm hưởng dội vào tình cảm người nghe gợi lên được một cảm giác mênh mông, lan tỏa, như chính mình đang đứng giữa khoảng không trung không bờ bến mà nhìn xuống trần gian (Thiên địa diếu vọng hề hà mang mang / Trượng sách du du hề phương ngoại phương...)

Tuy nhiên, con người vừa Nho, vừa Phật lại vừa Lão Trang kia trong thơ Trần Tung rốt cuộc lại là kiểu người gì? Kể cũng khó nói một cách chính xác. Vì đúng ra, chưa bao giờ Trần Tung chịu cột chặt tư tưởng mình vào một khuôn sáo cứng đọng nào cả. Ðó chính là điểm làm cho ông có sức hấp dẫn, làm cho hình ảnh của ông sinh sắc và biến hóa khôn lường. Hơn ai hết ông là người hiểu thấu vai trò quyết định luận của bản thể và luôn luôn đi tìm “diện mục” bản thể vũ trụ. Tưởng cũng cần nói rõ, trong thơ văn Lý-Trần, thuật ngữ bản thể được Trần Tung dùng đầu tiên và cũng là duy nhất, trong bài thơ Họa Hưng Trí Thượng vị hầu: “Bản thể như như chỉ tự nhiên” - Bản thể tròn đầy bất biến cứ tự nó tồn tại như nó có. Bản thể là vĩnh cửu. Và ở bất kỳ đâu, kết quả tìm kiếm cũng cho ông một đáp số thống nhất: cái không. Bản thể của vũ trụ này hoàn toàn là không. Tuy nhiên, KHÔNG không có nghĩa là tuyệt đối không có gì cả. KHÔNG không phải là hư vô, đó mới là cốt lõi của chân lý do Trần Tung kiếm tìm: “Từ không mà hiện có, có với không là một liên hoàn thông suốt” (Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông). Mặt khác, đã quy vạn vật về KHÔNG thì về phương pháp tư tưởng, rất cần gạt bỏ cách nhìn tuyệt đối hóa đối với các hình thức tồn tại của hiện hữu, bởi vì các “pháp hữu vi” xét cho cùng cũng chỉ là một “thằng người gỗ” đang múa may quay cuồng trong khoảnh khắc chuyển mình của không-thời gian của đại thiên thế giới mà bản chất tối hậu của mọi sự “múa may” nhất thời rốt cuộc vẫn là thống nhất - là “không”. Ðành rằng xét trong hạn hữu của đời người, sự khu biệt giữa các hình thức của tồn tại là có thực và nhiều khi là hết sức cần thiết, chẳng hạn phải thừa nhận “không” không phải là “sắc” thì mới giải quyết nổi những nan đề mà con người thường vấp trong khi trải nghiệm thực tế, song nếu từ đấy mà nhất thiết dẫn tới chia cắt “sắc” và “không” một cách tuyệt đối, cũng như chia cắt “hữu” và “vô” một cách tuyệt đối, thì lại là sai lầm:

Tòng “vô” hiện “hữu”, “hữu” “vô” thông,

“Hữu” “hữu” “vô” “vô” tất cánh đồng.

Phiền não, Bồ đề nguyên bất nhị,

Chân như vọng niệm tổng giai không.

Thân như huyễn kính, nghiệp như ảnh,

Tâm nhược thanh phong, tính nhược bồng.

Hưu vấn tử sinh, ma dữ Phật,

Chúng tinh củng Bắc, thủy triều Ðông.

(Vạn sự quy như-Muôn việc đều về cõi chân như)

Từ “không” hiện “có”, “có” “không” thông,

“Có” “có” “không” “không”, rốt cuộc chung.

Phiền não, Bồ đề nguyên chẳng khác,

Chân như, vọng niệm thảy đều không.

“Thân” như gương ảo, “nghiệp” như bóng,

“Tâm” tựa gió lành, “tính” tựa bồng.

Ðừng hỏi tử sinh, ma với Phật,

Muôn sao hướng Bắc, nước về Ðông.

“Ðừng hỏi tử sinh, ma với Phật.

Muôn sao hướng Bắc nước về Ðông”!

Chân lý tối hậu mà Trần Tung muốn đề cập sau khi đã mất công biện giải chỗ không sai biệt giữa “không” và “sắc”, giữa “hữu” và “vô” thì ra chính là ở đây. Ông nhắc người ta phải thuận theo quy luật chung nhất của tự nhiên trong tư duy cũng như hành động chứ không nên bám vào cái thấy cái biết cảm tính vốn là những hiện tượng bề nổi làm mình rối trí. Một chân lý có thể nói là muôn đời vẫn đúng.

Có lẽ cũng nhờ đã đạt đến chỗ thâm hậu của công lực thiền, lại biết tiếp thu nhiều trường phái tư tưởng khác và không chịu biến mình thành tên "hề đồng" của một hệ giáo lý cứng nhắc nào, hơn nữa nhờ trực tiếp dấn thân vào mọi biến cố thăng trầm của lịch sử trong thời đại mình sống, Trần Tung đã có được quan điểm rộng rãi và tinh thần nhuần nhị như vậy. Yếu tố biện chứng là điều dễ thấy ở ngòi bút của ông. Nếu vào thời cổ đại Hy Lạp, Héraclite từng có một mệnh đề lừng danh: “Không ai tắm hai lần trong một dòng sông”, thì vào thế kỷ XIII ở Việt Nam, trên mảnh đất phương Ðông ít truyền thống tư duy triết học nhưng lại rất giàu khả năng cảm nhận thực tiễn, Trần Tung cũng đã nói được một câu tương tự :

Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh,

Ðông lưu phó hải khởi hồi ba.

(Thế thái hư huyễn-Thói đời hư ảo)

Trăng lặn, bóng trăng khôn trở lại,

Sông trôi, sóng nước mãi trôi qua.

Nhìn một bông hoa nở, một mảnh trăng soi, một dòng nước chảy, Trần Tung chợt nghĩ đến sự vận động không ngừng của cái thế giới của muôn nghìn “sắc tướng”, bề ngoài có vẻ đứng im mà bên trong luôn luôn thay đổi, bề ngoài có vẻ khác nhau như nước với lửa mà bên trong thì lại có khuynh hướng tiến sát lại và đổi vị trí cho nhau. Trần Tung để tâm suy nghĩ về tất cả những hiện tượng kể trên rồi quy nạp chúng thành hình ảnh trừu tượng. Ông hiểu một cách thâm thúy tất cả những cái đó là thuộc về tự nhiên, là sự “an định của thời tiết” (an bài của thiên nhiên), con người không làm sao chống được. Cũng giống như một ánh trăng, một ngọn gió không phải là những cái thuộc con người chi phối, cũng không phải là những hoạt động có ý thức của một đấng “chủ tể” nào cả:

Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận,

Thiên phong xuy bất giản cao đê.

(Thị chúng-Gợi bảo mọi người)

Há quản gần xa trăng cứ dọi,

Lo gì cao thấp, gió đều xao.

Ở chỗ này vị Thượng sĩ họ Trần chắc có tiếp thu ít nhiều tinh hoa của Lão Tử. Chính ông đã sử dụng một mệnh đề biện chứng của Lão tử: “Dụy chi dữ a tương khứ kỷ hà” (Vâng - khẳng định - và hứ - phủ định - khác nhau là mấy) để làm cho học trò thông suốt về sự cần thiết phải xóa bỏ những mặt đối lập cực đoan và giả tạo trong tư tưởng mà ta vẫn gặp hàng ngày... Nhưng rồi ông không dừng lại ở Lão Tử mà còn đi xa hơn nhiều. Ông đi tới cái mà Thiền học gọi bằng “tiêu trừ nhị kiến”, một phương thức na ná tương đối luận không coi cái gì là thực sự khác biệt về chất nữa: phàm và thánh chẳng hơn gì nhau, chúng sinh với Phật là một, chân lý và sai lầm cũng đều thế cả... Và:

Vị giác ngộ trung chân giác ngộ,

Nan thương lương để diệu thương lương.

(Họa huyện lệnh-Hoạ thơ quan huyện)

Chưa giác ngộ là chân giác ngộ,

Khó suy lường ấy diệu suy lường.

Cái cảm quan tương đối này với hạt nhân hợp lý không thể chối cãi thấp thoáng ẩn hiện trong nhiều tác phẩm của Trần Tung, có lúc trở thành một thứ ám ảnh có khả năng đưa ông đến tận những bến bờ vi tế của tư duy, mở ra cho ông một chân trời vô hạn để sử dụng công cụ Thiền học như một nhà hùng biện bậc thầy, nói thế nào cũng có ma lực của nó. (Quả thật cuộc đời cũng còn ẩn chứa bao nhiêu dấu hỏi bất khả tri là nơi mà những chiêm nghiệm siêu nghiệm có thể tung hoành):

Tạc dạ nguyệt minh kim dạ nguyệt,

Tân niên hoa phát cố niên hoa.

Tam sinh thúc hốt chân phong chúc

Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.

Hoặc vấn như hà vi cứu cánh?

Ma-ha bát-nhã tát-bà-ha.

(Ðốn tỉnh-Chợt tỉnh)

Trăng rọi tối nay: trăng tối trước,

Hoa cười năm mới: hoa năm qua.

Ba sinh gió thổi: đuốc lòe tắt,

Chín cõi cối vần: kiến nhẩn nha.

Muốn hỏi thế nào là cứu cánh?

Ma-ha bát-nhã tát-bà-ha.

Trong nghệ thuật thơ cổ Việt Nam, thủ pháp tượng trưng phi thời gian và trung hòa “hữu / vô”, “động / tĩnh” được thể hiện như trên đây tưởng cũng là tuyệt bút. Dù sao, một cái nhìn bất phân “ta” và “nó” nếu đã trở thành phương pháp luận của mọi suy nghĩ, trước sau thế nào cũng chứa đựng một ẩn số bất khả giải nó sẽ là sự thách thức đối với thiên bẩm trí tuệ sắc bén của vị Thượng sĩ họ Trần. Và từ cách nhìn “phi chân phi vọng” đến thái độ có chút hơi hướng hư vô trước thực tại tưởng cũng không còn xa cách bao nhiêu:

Ngã nhân tự lộ diệc tự sương,

Phàm thánh như lôi diệc như điện.

Công danh phú quý đẳng phù vân,

Thân thế quan âm nhược phi tiễn

(Phàm thánh bất dị-Phàm thánh không khác gì nhau)                                                            

Ta, người tựa móc cũng tựa sương,

Phàm, thánh như sấm cũng như điện.

Công danh phú quý: mây bồng bềnh,

Tia nắng đời người: tên bay biến...

May thay, nếu như một mặt, những quan điểm “bất nhị” muốn kéo Trần Tung ngày càng bước sâu vào thế giới không cùng của sự suy nguyên chưa biết đâu là điểm mút, thì hiện thực cuộc sống “vô thường” song muôn màu muôn vẻ mà ông từng trải và gắn bó vẫn có một sức mạnh nâng đỡ bước chân ông. Và cuộc đấu tranh giằng co giữa hai mặt đối lập trong tâm hồn nhà thi sĩ cứ diễn ra âm thầm mà dai dẳng. Bài thơ sau đây, theo chúng tôi, phản ánh cuộc vật lộn dài lâu thầm lặng đó. Tinh thần kiên định của tác giả lộ ra ở hai câu kết, cho phép ta dự đoán cái khả năng chấm dứt mọi ảo tưởng còn rơi rớt của họ Trần. Bài thơ mang phong cách của một lời tuyên ngôn, trong đó hình ảnh cây gậy - có người đoán là cây gậy Thiền - được mô tả như một sức mạnh, một người dẫn đường trung thành, giúp Trần Tung bước những bước vững vàng và đúng hướng, nhằm trở lại tắm mình vào thực tiễn:

Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung,

Hốt nhiên như hổ hựu như long.

Niêm lai khước khủng sơn hà toái?

Trác khởi hoàn phương nhật nguyệt lung.

Tam xích Song Lâm hà xứ hữu?

Lục hoàn Ðịa Tạng khoái nan phùng.

Túng nhiêu thế đạo kỳ khu thậm,

Bất nại tòng tiền bột tốt ông!

(Trụ trượng tử-Chiếc gậy)

Ngày lại ngày qua tay vững gậy

Thoắt nhanh như cọp, dẻo như rồng.

Vung lên, sông núi e tan nát,

Dựng dậy trời trăng sợ mịt mùng.

Ba thước Song Lâm tìm chẳng thấy,

Sáu vòng Ðịa Tạng kiếm hoài công.

Dẫu cho đường tục chông gai mấy,

Lão chẳng như xưa bước ngại ngùng!

*   *   *

Suốt cả cuộc đời tu hành, không phải không có những lúc, khi chưa đại ngộ, Trần Tung đã mải miết đi tìm những hình ảnh vốn chỉ là ảo ảnh: một vị thần Ðịa Tạng hay một mảnh đất Song Lâm, nơi từ đó Phật đi về cõi Niết bàn. Và ông đã không bao giờ tìm thấy. Ðiều đáng nói là tuy không tìm thấy, Tuệ Trung Thượng sĩ vẫn không thất vọng. Trong tình cảm của ông không hiểu có gì đổ vỡ hay không nhưng biểu hiện ra ở thơ văn thì lại là những nét khỏe nhất: một thái độ tỉnh táo, một ý thức về bản ngã, một sự lựa chọn dứt khoát chỗ đứng ở giữa cõi trần. Quả như Trần Nhân Tông ca ngợi, Trần Tung là con người biết hòa cái siêu phàm với cái thế tục, là người “hòa quang đồng trần” (dùng chữ Lão Tử). Phải chăng, đó chính là tư tưởng thâm thúy nhất mà cũng sắc sảo nhất của ông, là kết quả của một đầu óc chưa bao giờ thôi hoài nghi một cách bén nhạy? Và người đọc Trần Tung, phải chăng sau khi đã nghiền ngẫm tất cả những mệnh đề thâm diệu của Phật giáo, những lối nói, lối nghĩ mang hàm lượng triết lý sâu xa trong thơ ông, cũng cần tinh ý mà nhận cho ra cái kết luận âm thầm mà thiết thực ấy?

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)