Lưỡng nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay
Trang chủ Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay Bài viết chọn lọc Thành Vương Xá (Rajagaha) khởi đầu con đường truyền giáo

Thành Vương Xá (Rajagaha) khởi đầu con đường truyền giáo

Đã đọc: 1           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ...

1. Giới thiệu khái quát về cổ thành Vương Xá (Rājagaha)

Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi non bao quanh, do vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) trị vì vào thời đức Phật còn tại thế. Nhờ nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những rặng núi chạy dài nên thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên khoáng sản quặng sắt cũng như mỏ đồng làm cho đất nước Ma Kiệt Đà càng thêm cường thịnh. Các nguồn văn hóa lớn được xuất xứ từ Ma Kiệt Đà, như ngôn ngữ Magadhi và lịch số... 

Ngày nay kinh thành này chỉ là một thị trấn nhỏ với tên gọi là Rajgir, cách thủ phủ Patna 70 km về phía Tây Nam. Xung quanh vùng có một vài bức tường thành bao bọc ở các rặng núi chính là những phế tích còn sót lại của một kinh thành cổ. Đời sống người dân nơi đây còn nhiều lạc hậu, phố xá nhà cửa đơn giản, lưa thưa, kinh tế không mấy gì khả quan so với nhiều vùng khác. Hơn 2500 năm về trước, tại nơi đây nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu dấu vết cho đến ngày nay. Chính tại kinh thành này, trên đường tầm đạo đã xảy ra cuộc gặp gỡ giữa thái tử Sĩ Đạt Ta và đại vương Tần Bà Sa La. Được biết tâm nguyện cao cả của vị thái tử bộ tộc Thích Ca (Sakyā) thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), nhà vua vô cùng thán phục, xin nhường lại nửa giang san cho Sĩ Đạt Ta cai trị nhưng thái tử đã một mực từ chối. Trước khi chia tay, nhà vua cầu chúc cho thái tử Sĩ Đạt Ta sớm thành tựu đạo quả và trở về thành Vương Xá để độ ông. Do đó, kinh đô Vương Xá trở thành một trong những trung tâm truyền bá Phật giáo đầu tiên có sức ảnh hưởng rất lớn vào thời đức Phật. Những thánh tích trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu tiếng tăm cho đến ngày nay như: tinh xá Trúc Lâm, động Saptaparni (nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất), núi Linh Thứu (nơi Phật diễn pháp Hội tam thừa quy nhất).... Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu một số dấu tích còn sót lại liên hệ đến các danh xưng lịch sử này.

2. Vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) và tinh xá Trúc Lâm (Veluvana Vihara)

Có thể nói vai trò của vua Tần Bà Sa La rất lớn đối với việc truyền bá chánh pháp, là chỗ dựa vững chắc để làm nền tảng phát triển Phật giáo, khi một đạo Phật còn quá non trẻ so với những tôn giáo truyền thống đương thời của Ấn độ. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó để có thể đứng vững và làm cho mọi người tin tưởng hướng về, đó là điều trăn trở mà một vị giáo chủ vừa mới ra đời như đức Phật phải suy nghĩ và lo ngại!? Vì thế đức Phật không vội đi truyền bá chánh pháp ngay sau khi giác ngộ mà Ngài đã lưu lại tư duy quán sát bảy tuần lễ xung quanh cội Bồ Đề. Mặc dù đức Phật không thể hiện rõ về đường lối hay phương hướng truyền giáo của mình như một chiến lược, nhưng mọi biểu hiện của Ngài đều được cân nhắc kỹ càng có tính logic hợp lý trong mọi tình huống và trong mọi nơi khi Ngài dừng chân. Vì lẽ đó, mặc dù nhớ rất rõ lời hẹn ước với vua Tần Bà Sa La nhưng đức Phật không vội trở về thành Vương Xá để độ Ông bởi vì Ngài thừa hiểu tâm lý của những người đương quyền không dễ gì bị thuyết phục bởi những lời nói suông mà không có một cái gì để minh chứng. Do đó việc quyết lòng hóa độ ba anh em Ca Diếp (Kassapa) đạo thờ lửa xứ Ưu Lầu Tần Loa (Uruvela) là một suy nghĩ đúng đắn nhất, có cơ sở tin cậy nhất đối với việc tiếp kiến đại vương nước Ma Kiệt Đà, một cường quốc nhất nhì thời bấy giờ. Bởi vì ba anh Ca Diếp là những người có uy tín lớn, có ảnh hưởng quần chúng rộng rãi trong thành, mà cả vua Tần Ba Sa La cũng để lòng kính nể đến các vị này. Tất cả điều kiện trên đã hội đủ nên cuộc gặp gỡ theo lời hẹn ước đã đem lại lòng tin sâu sắc và sự kính trọng tột độ của nhà vua dành cho đức Thế Tôn. Một nhà khổ hạnh hôm nào, nay trở thành một vị Phật, đầy đủ uy nghiêm cốt cách của bậc thầy trời người, lại thêm tiếp độ một ngàn môn đệ bao gồm ba anh em Ca Diếp chỉ trong thời gian ngắn ngủi thì việc đó ngoài sức tưởng tượng của nhà vua. Sau khi thân hành ra tận ngọ môn tiếp đón, vấn an đức Phật và chúng tăng, vua Tần Bà Sa La thỉnh Phật ngày hôm sau vào hoàng cung thọ trai và chính ông đã phục vụ cho Phật và chúng tăng, một vinh dự mà nhà vua chỉ dành cho đức Phật. Ngay bữa ngọ trai hôm đó, vua tuyên bố cúng dường ngự hoa viên Trúc Lâm (Veluvana), một khu rừng trúc xinh đẹp thoáng mát cho đức Phật làm nơi lưu trú tu hành. Tại khu rừng trúc này, một ngôi tinh xá được xây dựng, và nó cũng là ngôi tinh xá đầu tiên khởi nguồn cho lịch sử tự viện Phật giáo phát triển mãi đến sau này. Được sử ghi chép rằng, ngôi tinh xá rất là khang trang, rộng lớn, trong đó bao gồm nhiều phòng ốc, giảng đường và các tiện nghi sinh hoạt khác khảm đủ cả chục ngàn người. Tại ngôi tinh xá này, đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ hai và nhiều mùa an cư khác nữa, và Ngài đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng được ghi lại trong Trung Bộ kinh như: Kinh Vương Tử, Đại Kinh Vacchagotta, Kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di ...

Ngày nay, khi dừng chân nơi ấy, chúng ta không còn thấy khu vườn trúc sum suê và ngôi tinh xá đồ sộ thuở nào như kinh điển mô tả. Trước mắt chúng ta chỉ thấy cảnh vật hoang sơ, thầm lặng trong môt thị tứ bé nhỏ. Trước cổng ra vào có dựng một tấm bản xác định vị trí ngôi tinh xá năm xưa, xung quanh có rào chắn um tùm cây tạp và cỏ dại. Bên trong chỉ còn vài khóm trúc khá tốt và xinh đẹp nhưng chắc được người sau trồng lại để tưởng niệm một danh xưng thơ mộng và nổi tiếng bởi hai chữ Trúc Lâm (rừng trúc), nhưng không đủ sức để phản ánh hết uy thế của một ngôi tinh xá trang hoàng và khu thượng uyển thời vàng son Phật giáo. Đi hết khu vườn, ngoài những khóm hoa được trồng dọc theo lối đi chúng ta không còn thấy một vết tích nào, cho dù bờ tường đổ nát rêu phong để có thể hình dung được tí gì liên quan đến nó. Trong khuôn viên, cách cổng ra vào khoảng 100 mét chúng ta thấy có một cái hồ vuông, xung quanh cẩn gạch vén khéo, nước trong hồ trong vắt và sạch sẽ, mặt hồ phẳng lặng in bóng những hàng cây tàng rộng mọc xung quanh, vài đàn cá trê chập chờn bơi lội dưới nước, tìm ăn những miếng mồi ngon từ khách tham quan và cư dân dạo mát quanh vùng. Hồ này có tên là hồ Kalandaka, được tương truyền rằng, đức Phật và chúng tăng thường tắm trong hồ này khi lưu trú tại tinh xá Trúc Lâm. Bên bờ hồ có một tượng Phật Bổn Sư do người Nhật tôn trí trên một bệ thờ trong tư thế thiền định, Ngài đang ngồi lặng lẽ giữa tiếng bước chân qua lại chầm chậm lưa thưa, giữa bốn mùa yên ả trầm buồn, buồn cho số kiếp chúng sanh thời Mạt không đủ phước duyên để chứng kiến thời hoàng kim chánh pháp.

Sau khoảng thời gian khiêm tốn ghi một vài hình ảnh kỷ niệm trong buổi chiều tà xế bóng, một vài hạt mưa muộn màng còn nhỏ giọt trên lối đi, hoàng hôn cũng dần dần buông màn khép lại cho một ngày tiếp tục trôi qua, một thao tác vạn kỷ, đoàn chúng tôi rời khỏi tinh xá Trúc Lâm, nơi đầy kỉ niệm trong trí tưởng tượng để trở về khách sạn nghỉ ngơi với bao niềm xao xuyến miên man.

3. Ngục khám vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara)

Trên quãng đường đi đến Linh Thứu sơn khoảng 2 km từ tinh xá Trúc Lâm có một bờ tường đá dày 2m,  nằm bên trái cách con đường chính chừng 30 m, hình chữ nhật, dài khoảng 100m, rộng độ 70m,  đó là nhà tù giam vua Tần Bà Sa La thuở xưa. Từ vị trí này, chúng ta nhìn thấy xa xa thấp thoáng tháp Hòa Bình trên đỉnh Sonagiri và chóp núi Linh Thứu, cách chừng 5 km bằng đường chim bay, khoảng 7 km đi đường lộ nhựa.

Sử chép rằng: vì còn quá trẻ, tính tình bồng bột nông nổi nên bị sự xúi giục sai trái của Đề Bà Đạt Đa, người dốc lòng hại Phật, thái tử A Xà Thế (Ajatasattu) dùng mọi thủ đoạn để hãm hại vua cha, tức vua Tần Bà Sa La, bằng cách bắt giam vào đại lao và dùng nhiều cực hình bức tử ngài. Những ngày cuối đời trong ngục thất, đức vua hướng về núi Linh Thứu cầu khẩn đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp tu tập để thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ này. Vì ham mê danh vọng, quyền thế hư ảo, vì chứa đầy tham sân si trong lòng mà con người  gian trá lọc lừa, tìm cách hãm hại nhau để vun bồi cho dục vọng và ngã chấp, ngay cả như cha với con cũng không từ nan. Trần gian là bể thành sầu khổ. Sự có mặt của mọi con người trên cuộc đời chỉ nhằm giải quyết “ân oán giang hồ”, cứ thế mà trả vay, vay trả đến kiếp nào cho xong! Vì vậy, khi được đức Thế Tôn từ trên đỉnh Linh Thứu sơn phóng quang, xoa đầu và hiển hiện kim thân thuyết pháp, ông liền đắc quả A Na Hàm, rũ sạch mọi đau buồn và an nhiên đi vào cõi chết. Hoàng hậu Vi Đề Hi, vợ vua Tần Bà Sa La, cũng bị giam lỏng trong ngục thất này, nên bà cầu xin đức Phật chỉ dạy phương pháp tu thoát khỏi cõi ta bà ô trược. Cảm được lời cầu xin của Bà, đức Phật hiện thân thuyết pháp an ủi, giới thiệu thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà và phương pháp tu vãng sanh về cõi ấy. Điều này đã được ghi chép đầy đủ trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong những bài kinh căn bản của hành giả Tịnh Độ Tông.

4. Hang Thất Diệp (Sattapanni), nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất

Để được tham quan hang Thất Diệp (Sattapanni), mọi người trong đoàn phải nghỉ ngơi qua đêm chờ sáng hôm sau đủ sức đi bộ lên hàng mấy ngàn bậc tam cấp mới đến được hang Thất Diệp, một động đá trên đỉnh núi dung chứa chỗ ngồi cho 500 trăm vị A La Hán.

Hang Thất Diệp hay còn gọi động Kỳ Xà Quật thuộc ngọn núi Vebhara hay Vaibhara, là nơi được chọn để tổ chức cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất. Hang Thất Diệp này thuộc thành Vương Xá, chỉ cách Linh Thứu sơn khoảng 10 km. Cuộc kết tập kinh điển này được diễn ra sau ba tháng đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Trưởng lão Đại Ca Diếp (MahaKassapa) được cử làm chủ tọa hội nghị gồm 500 vị đại A La Hán, nên còn gọi là Ngũ Bách Kết Tập. Nội dung của cuộc kết tập kinh điển lần này nhằm ôn lại lời dạy của đức Thế Tôn; ngài Ưu Ba Ly (Upāli) trùng tuyên luật tạng, ngài A Nan Đa trùng tuyên kinh tạng, chưa có đề cập đến tạng luận. Mọi chi phí trong suốt quá trình kết tập được sự bảo trợ trọn vẹn của vua A Xà Thế, đại vương nước Ma Kiệt Đà.

Tại hang Thất Diệp có khả năng chứa 500 vị thánh tăng hôm nào nay chỉ còn trong truyền thuyết, bởi vì qua thời gian hang động này đã bị lấp kín chỉ còn một lối đi vào sâu bên trong độ khoảng 10m. Bên ngoài hang động có khoảng không rộng rãi, thông gió, rất mát mẻ và thanh vắng. Từ nơi này, chúng ta có thể thấy vùng bình nguyên phía dưới cây cối bạt ngàn, nhà của phố xá và cả xe cộ qua lại trên con đường chính. Muốn vào bên trong chúng ta phải có đèn pin hoặc thắp nến mới có thể thấy đường lần theo lối mòn vì ngoài việc thiếu ánh sáng, lối đi rất là lởm chởm đá.

Cách hang động chính không xa khoảng 10m có một động đá không sâu nhưng khảm đủ làm nơi trú thân lý tưởng cho các vị tu hành. Hang động này được đánh dấu chỗ mà ngài A Nan hành thiền suốt đêm trước ngày diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần này. Sở dĩ A Nan không được vào bên trong vì Ngài chưa chứng đắc quả A La Hán, nên không đủ tư cách để tham dự hội nghị, cho dù được xem là vị đa văn đệ nhất, nhớ rõ toàn bộ lời dạy của đức Thế Tôn. Vì buồn cho mình mang tiếng đa văn nhưng lậu hoặc vẫn chưa dứt trừ, đồng thời không được có mặt trong kỳ kết tập này nếu chưa chứng quả A La Hán nên Ngài đã nổ lực tu tập suốt một đêm cuối cùng trước khi trời sáng hội nghị bắt đầu khai mạc. Đêm lịch sử này cũng là đêm quyết định, tôn giả A Nan đã chứng đắc thánh quả, dứt trừ lậu hoặc và nghiễm nhiên trở thành một thành viên hợp lệ trong hội nghị và được đề cử vai trò quan trọng là người trùng tuyên toàn bộ kinh tạng, tức năm bộ Nikāya.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)