Lưỡng nguyệt san Đạo Phật Ngày Nay

Hương vị ngày tết bánh tét

Đã đọc: 2296           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Gia đình chị lúc bấy giờ, như nhiều nhà khác trong làng, thuộc diện khó khăn, nhưng ngày tết cũng cố dành dụm nấu cho được một nồi bánh tét. Khi nồi bánh đã chín cũng là lúc chị quá mệt mỏi nên vào nhà chợp mắt một chút, dự định đến sáng ra sẽ vớt bánh. Không ngờ khi thức dậy, những đòn bánh tét trong nồi đã không cánh mà bay. Chị vừa buồn vừa giận. Có người chỉ cho biết kẻ trộm. Vậy là chị bươn bã đến ngay nhà ấy để đòi lại...

Món ăn đậm đà hương vị dân tộc không thể thiếu trong những ngày tết: miền Bắc có bánh chưng, miền Trung và miền Nam có bánh tét.

Tôi không hiểu tại sao gọi là bánh tét. Có lẽ do từ việc mỗi lần ăn người ta đã dùng sợi dây nhỏ để tét (cắt) bánh ra từng khoanh mỏng chăng?

Bánh tét không chỉ được ưa chuộng vào những ngày tết, mà còn cả trong những dịp giỗ chạp hoặc cúng tế thường năm. Ngày nay lúc nào bánh tét cũng thấy bày bán khắp nơi, không như hồi trước. Bây giờ muốn có bánh tét người ta chỉ cần đặt hàng cho thợ bánh, hoặc ra chợ mua là xong. Nhưng hồi trước – nhất là ở thôn quê – phải tự tay nấu lấy mới thấy có ý nghĩa.

Những vật liệu dùng cho việc gói, nấu bánh tét đều phải chuẩn bị trước. Lá chuối được cắt từ những cây chuối trong vườn, chọn những tàu lá thật xanh tốt, rọc ra rồi đem phơi nắng cho dịu lại. Thường lá chuối được dùng để gói bánh là chuối hột. Nếu không thì cũng là chuối mốc. Các loại khác lá giòn khó gói, lại màu bánh không hấp dẫn. Lạt cột bánh lấy từ mò o hoặc tre vừa đủ lá đem chẻ ra. Đương nhiên là phải chọn cho được loại nếp thơm, dẻo. Trước khi gói vuốt (vo) nếp cho sạch. Nhiều nhà còn ngâm cách đêm, hoặc ít lắm cũng vài ba tiếng đồng hồ. Vớt lên cho vào thúng để ráo nước. Nhân dùng bên trong có thể là đậu xanh, đậu đen, đậu phọng hoặc thịt heo tùy theo nấu bánh chay hay bánh mặn. Nhưng thường thì nấu bánh để cúng quê tôi vẫn dùng nhân chay. Nhân nhiều hay ít cũng còn tùy theo khả năng có được của mỗi nhà.

Bánh gói lỏng tay thì dễ bị nhão, chặt tay quá thì dễ bị nín (nếp nở không được, để lâu hạt nếp “hồi” lại giống như sống). Vì vậy người gói bánh phải cho thật khéo tay.

Hồi còn sanh tiền ba tôi tuy là đàn ông nhưng lại gói bánh khéo tay nhất nhà. Những đòn bánh của ông gói ra mười đòn như một, đều đặn từ đầu đến cuối. Các góc ở hai đầu bẻ thật sắc gọn, bắt mắt. Vì thế, mỗi lần nhà có gói bánh nhất định phải là ba tôi.

Vào dịp tết việc nấu bánh thường vào đêm cuối năm. Bánh cho vào thùng lớn bắt trên ba hòn đá đặt phía ngoài hông nhà. Củi được chọn từ những khúc cây khô lớn để cho được nhiều than và đỡ tốn công chụm lửa thường xuyên.

Khoái nhất là đêm cuối năm ngồi quây quần chụm lửa bên nồi bánh tét. Lửa sưởi ấm giữa tiết trời lành lạnh. Nghe tiếng nước sôi sùng sục trong nồi, ngồi vui chuyện bên nhau đợi bánh chín còn gì thích thú cho bằng. Mỗi lần châm thêm nước nắp nồi được giở ra hơi bay lên mù mịt, mùi bánh tỏa ra thơm phức.

Trong xóm, nhà nào bận việc hay không đủ khả năng tự nấu có thể gói bánh rồi gởi nấu nhờ với hàng xóm. Tình tương thân tương ái ở làng quê lúc nào cũng thấy tràn đầy.

Nồi bánh tét từ lúc bắt đầu nấu cho đến lúc chín thời gian kéo dài phải từ 6 giờ trở lên mới hoàn tất.

Bánh vớt ra phải tháo lạt, mở hai đầu lá giủ cho sạch nước còn đọng lại để có thể để dành được lâu. Rồi còn phải “lăn” cho tròn trịa đòn bánh để khi tét ra những lát bánh được đều đặn.

Thời kỳ sau ngày giải phóng miền Nam khan hiếm đủ thứ. Củi cũng nằm trong số đủ thứ ấy. Tôi nghe có người bày cho cách nấu bánh tét tiết kiệm, vừa đỡ tốn củi lại vừa đỡ tốn công. Cho bánh tét vào nồi nấu sôi lên rồi tắt lửa nghỉ. Sáng hôm sau chụm lửa lại cho sôi lên, vậy là bánh đã chín. Tôi nghe theo và… thất bại. Bánh có chín thật nhưng nhão, mất mùi vị, lại không để được lâu.

Cũng trong thời gian này có nạn… ăn trộm bánh. Những kẻ xấu lợi dụng chủ nhà mỏi mệt ngủ quên lẻn đến vớt cả những đòn bánh trong nồi mang đi. Chị tôi đã có một lần gặp nhiều xúi quẩy như thế.

Gia đình chị lúc bấy giờ, như nhiều nhà khác trong làng, thuộc diện khó khăn, nhưng ngày tết cũng cố dành dụm nấu cho được một nồi bánh tét. Khi nồi bánh đã chín cũng là lúc chị quá mệt mỏi nên vào nhà chợp mắt một chút, dự định đến sáng ra sẽ vớt bánh. Không ngờ khi thức dậy, những đòn bánh tét trong nồi đã không cánh mà bay. Chị vừa buồn vừa giận. Có người chỉ cho biết kẻ trộm. Vậy là chị bươn bã đến ngay nhà ấy để đòi lại. Cãi qua cãi lại, chị ngồi luôn ở nhà ấy không chịu về. Sáng mùng một đầu năm tôi đến chúc tết mới biết được chuyện. Tôi khuyên chị thôi bỏ đi. Không bắt được tận tay, có biết rõ mười mươi kẻ trộm cũng đành phải chịu.

Trên bàn cúng, ngoài những thức ăn, phẩm vật thường lệ, còn có những lát bánh tét thơm ngon tròn trịa đặt vào những chiếc dĩa nho nhỏ xinh xinh càng thêm đậm đà ý nghĩa quê hương. Đặc biệt, từng lát bánh được chiên dòn vàng rượm ăn đến cành hông mà miệng vẫn còn thấy thèm. Ăn một miếng ngon không thể không nghĩ đến công lao của người làm ra.

Ngày nay món ăn đầy hương vị dân tộc ấy vẫn không bao giờ thấy thiếu. Nhưng cảm giác được ngồi chụm lửa bên nồi bánh tét của đêm giao thừa nơi quê nhà đối với tôi chỉ còn có trong dĩ vãng. Xa quê đã bao nhiêu năm rồi. Bây giờ nào gas, nào điện đã thay thế cho lửa cho củi. Và thành phố không phải là nơi để nhà nào cũng có chỗ để đêm giao thừa ngồi nấu bánh tét như ở làng quê.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)