Trang chủ Tài liệu Điểm sách Stephen Hawking: Thượng Đế không sáng tạo ra vũ trụ

Stephen Hawking: Thượng Đế không sáng tạo ra vũ trụ

Đã đọc: 21160           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Stephen Hawking

Stephen Hawking - lý thuyết gia lừng danh về vật lý của Anh đã tuyên bố trong cuốn sách mới của ông là Thượng Đế không sáng tạo ra vũ trụ mà “Sự Nổ Lớn” (Big Bang) là hậu quả tất yếu của định luật vật lý.

Theo tuần báo Times xuất bản vào đúng Thứ Năm, trong cuốn sách nhan đề “Sự Thiết Kế Vĩ Đại” (The Grand Design) viết chung với nhà vật lý Hoa Kỳ - Leonard Mlodinow – Hawking nói rằng một lọat những lý thuyết mới (về vật lý) khiến cho việc nói rằng có một vị sáng tạo ra vũ trụ là thừa.

“Bởi vì có một định luật chẳng hạn như sức hút khiến vũ trụ có thể và sẽ tự sáng tạo từ chân không (nothing). Ông đã viết trong cuốn sách như sau “Sự sáng tạo do bởi chính nó đã là lý do tại sao có nhiều thứ chứ không phải chỉ có một thứ, tại sao vũ trụ hiện hữu và tại sao chúng ta có mặt,” Và ông viết tiếp, “Không nhất thiết phải van nài Thượng Để làm chuyện kinh khủng như thế (Big Bang) để cho vũ trụ chuyển động.”

  Nhà vật lý Hawking năm nay 68 tuổi, đã được cả thế giới công nhận năm 1988 với cuốn sách nhan đề “Lịch Sử Vắn Tắt về Thời Gian” (A Brief History of Time) trong đó giải thích những cội nguồn của vũ trụ khiến ông nổi tiếng vì những nghiên cứu của ông về những lỗ đen (black holes), vũ trụ học và lượng tử (cosmology and quantum).

Từ năm 1974, các nhà khoa học đã nỗ lực kết hợp hai nền tảng về vật lý hiện đại - Lý Thuyết Tương Đối của Albert Enstein liên quan đến trọng lực và hiện tượng lớn- với lý thuyết về lượng tử bao gồm những hạt hạ nguyên tử (subatomic paricles)

 Nhận định mới nhất của Hawking cho thấy ông đã giã từ quan điểm trước đây của ông khi phát biểu về tôn giáo. Trước đây ông cho rằng sự khám phá ra những định luật về vật lý không có nghĩa là không tin rằng Thượng Đế đã can dự vào “Sự Nổ Lớn” (Big Bang). Ông đã viết trong cuốn  “A Brief History of Time” rằng “ Nếu chúng ta khám phá ra một lý thuyết đầy đủ, đó là sự chiến thắng tối hậu của lý trí con người, mà qua đó chúng ta phải thấy đó là ý của Thượng Đế.”

 Trong cuốn sách mới nhất ông nói rằng sự khám phá năm 1992 về một hành tinh quay chung quanh một ngôi sao khác không phải Mặt Trời giúp phá vỡ quan điểm của người cha ngành vật lý là Isaac Newton cho rằng vũ trụ đã không xuất hiện từ sự hỗn loạn mà từ sự sáng tạo của Thượng Đế. Ông viết “Do sự trùng hợp ngẫu nhiên về những điều kiện của hành tinh - chỉ có một Mặt Trời, sự phối hợp may mắn về khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời, trọng khối của Mặt Trời, hầu như không gây chú ý và rất ít bằng chứng thuyết phục chứng tỏ rằng Trái Đất đã được cẩn thận sáng tạo cho hợp với con người.”

Nhà vật lý Hawking chỉ có thể nói được qua hệ thống âm thanh tổng hợp từ một máy điện tử vì ông bị rối lọan cơ thần kinh não bộ, dù sau vài năm có tiến triển nhưng thân bị bại liệt hòan tòan. Ông bị chứng bại liệt này ở đầu những năm 20 nhưng ông tiếp tục phấn đấu để trở thành một trong những người có thẩm quyền về khoa học của thế giới và cũng đã xuất hiện trong phim “Star Trek” và những phin họat họa như “Futurama” và “The Simpsons.”

 Năm ngoái ông tuyện bố xin thôi chức vụ Giáo Sư Toán Học Lucasian tại Viện Đại Học Cambrigde, một chức vụ mà Newton đã có lần chấp chưởng, còn ông thì giữ chức vụ này từ năm 1979.

Cuốn sách “The Grand Design” sẽ được tung ra thị trường vào tuần tới.



(Bản tin do Steve Addision hiệu đinh)

Bản dịch của Đào Văn Bình

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (65 đã gửi)

avatar
Ở phương xa 03/09/2010 11:37:32
Thượng Đế, chỉ có sự tưởng tượng và mơ hồ của con người và trở thành quen rồi nghiền.
avatar
Quang Đạt 03/09/2010 15:22:47
Nghe Giáo sư Stephen Hawking ở Anh nói rằng: "Sự hình thành một cách tự nhiên chính là lý do khiến cho một thứ gì đó xuất hiện". ông lại kết luận rằng Vụ Nổ Big Bang là hệ quả tất yếu của các quy luật vật lý hình thành vũ trụ .
Nhà Bác học Isaac Newton cho rằng : “ Vũ trụ phải do Thượng Đế tạo dựng chứ không thể nào hiện ra từ chốn hỗn mang qua định luật vạn vật hấp dẫn ” .Việc các tinh tú , các hành tinh tương tác với một lực hấp dẫn mà khoa học không lý giải được , và Thượng Đế là ở chỗ đó . Nếu không có lực tương tác hấp dẫn di chuyển các hành tinh , vạn vật , ngân hà , thiên hà theo một quỹ đạo trật tự lạ lùng trong vũ trụ thì trái đất tức khắc chấm dứt sự sống tồn tại.

Một điều hết sức ngộ nghĩnh kỳ cục là vị Giáo sư Stephen Hawking ở Anh này cho rằng vũ trụ hình thành một cách tự nhiên ???!!! vậy thử hỏi các định luật tự nhiên đó do đâu mà có , vì sao các hình tinh , các vì tinh tú , các ngôi sao , ngân hà , thiên hà di chuyển tuân theo một quy luật rất trật tự ?
Theo giáo lý đạo Phật thì tất cả mọi sự vật , hiện tượng tương tác nhau theo nhân duyên mà hình thành chứ không có gì là tự nhiên mà có cả ? nhân duyên chín muồi thì hình thành , hết duyên thì tan rả từ nhỏ như hạt bụi cho đến lớn như đại địa , sông núi , trời đất , vũ trụ đều như vậy cả .

Dù rằng đạo Phật không lý giải được nguồn gốc vũ trụ . Khi các vị tỳ kheo hỏi về sự hình thành vũ trụ thì Đức Phật im lặng. Ngài chỉ nói vắn tắt là sự lý giải này không giúp ích cho tiến trình giải thoát . Trong đạo Phật cũng có cõi Trời Phạm Thiên , cõi Đế Thiên Đế Thích cai quản dương gian vì vậy nếu cho rằng Thượng Đế chỉ có trong tưởng tượng và mơ hồ là nhận định sai lầm nông cạn thiển cận . Tất cả các tôn giáo khác đều có nói về Thượng Đế cả .

Rõ ràng là Giáo sư Stephen Hawking là kẻ hậu bối không đủ sức thuyết phục phản bác được Định luật vạn vật hấp dẫn bất hủ có giá trị qua mọi thời đại của nhà Bác học Newton . Trong bàn luận án nói về Luật vạn vật hấp dẫn , ở câu kết luận về lực nào gây ra tương tác thì nhà Bác học Newton ghi rằng 2 chữ : THƯỢNG ĐẾ .
Ông giáo sư này thật là mâu thuẩn hết công nhận Thượng Đế rồi lại viết sách phản bác Thượng Đế ? sao kỳ lạ vậy . Tiền hậu bất nhất thì sao thuyết phục giới khoa học được .
Reply Tán thành Không tán thành
-9
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Lua viet 07/09/2010 00:50:57
Quang Dat can duoc giao duc lai de bit the nao la ton trong Su That
de minh bay cho mot cach nha: vao tang blog Senviet17. doc cho that ky co the ban se bo duoc lop Cuu cuon tinh ma thanh duoc Cuu Thanh that
avatar
Lua viet 07/09/2010 00:06:51
sao lan nay Quang Dat yeu qua vay. nhung bai truoc Quang Dat solo khi the lam ma.
da la Cuu thi hay cu la Cuu dung la Cuu la di doi lop thay Tu. met lam!
song phai bit thanh that voi minh va nguoi khac. bit khong CuuQuangdat!
avatar
Phàm Phu 04/09/2010 07:23:34
Trên diễn đàn này Quang Đạt thường giảng Phật pháp , phật tử thuần thành phải thế này thế kia. Nay lòi mặt...chiên sửng cồ với Hawking để cứu chúa.

Phẫn nộ làm chi Quang Đạt ơi ! Hawking chỉ mới vừa nói ra sự thật , chứ còn Albert Einstein đã nói từ lâu rồi :

The idea of a personal God is an anthropological concept which I am unable to take seriously. (Albert Einstein, Letter to Hoffman and Dukas, 1946)
I do not believe in a personal God and I have never denied this but have expressed it clearly. (Albert Einstein, 1954)
I cannot imagine a God who rewards and punishes the objects of his creation, whose purposes are modeled after our own -- a God, in short, who is but a reflection of human frailty. (Albert Einstein, Obituary in New York Times, 19 April 1955)
Và v.v...
( http://www.spaceandmotion.com/albert-einstein-god-religion-theology.htm )

Còn nhiều danh nhân, bác học khác cũng phát biểu tương tự như Einstein. Có điều lũ người một khi đã đắm đuối thì luôn luôn dị ứng , sợ hãi , phẫn nộ với sự thật.

Isaac Newton khám phá ra luật vạn vật hấp dẫn , dù Ngài không giải thích được ( hậu thế đã làm được ) , Ngài vẫn mãi mãi được nhân loại tôn vinh là bác học vĩ đại . Từ đầu thế kỷ 20 ,vô số khám phá mới về không gian , thời gian , về bản thể của vật chất và năng lượng ...thuyết tương đối, thuyết trường tương tác , thuyết dung thông , vật lý hạ nguyên tử ... đã biến “ Vật lý Newton ” trở thành “ Vật lý cổ điển ” ( chi tiết xin đọc quyển Đạo Của Vật Lý , tác giả Fritjof Capra ). Tuy nhiên hoàn toàn không có ai , kể cả Hawking ( không như Quang Đạt vu oan ) có ý định bài bác luật vạn vật hấp dẫn của Newton bởi hiển nhiên nó đã là bệ phóng của vật lý hiện đại. Khám phá ra mặt hạn chế của luật vạn vật hấp dẫn ( không tuyệt đối đúng ở tất cả trường hợp ) không đồng nghĩa là bài bác nó mà chỉ là bổ sung cho nó.

Còn về quan điểm của Newton “ Do Thượng Đế ” thì đâu phải là lý giải khoa học , mà chỉ là quan điểm tâm linh, không chứng minh, không thực nghiệm gì cả . Ai tán đồng thì cứ tin , ngu ráng chịu , nhưng không tin theo cũng đâu phải là sai , mà là tỉnh táo thôi.

Khoa học là như vậy , tiến lên chứ không bao giờ dừng lại ở cái ách “ Bởi Ý Chúa ” : cái gì không biết , chưa giải thích được thì đổ thừa cho chúa , thế là xong , cấm cải. Làm bậy cũng đổ thừa cho chúa, danh thủ Maradona dùng tay ghi bàn vào lưới đội Anh WC 1984 cũng biện hộ “ Đó là bàn tay của chúa ” thật quá khôn . Do vậy khoa học cần phải tiến lên , khoa học tiến đến đâu thì bọn truyền bá mê tín , lường gạt , dối trá , hù dọa phải lùi đến đó.

Nhưng tại sao mà Quang Đạt lại kéo Phật vào đây ? Phật đâu có chịu đứng chung với lũ lừa gạt nhân loại? Phật không muốn đệ tử cải vã nhau về chuyện con gà và trứng gà , cái nào có trước chứ không phải Phật không giải thích nguồn gốc vũ trụ . Vũ trụ vô thuỷ vô chung , không ai sanh và diệt được nó , ấy là Phật pháp. Mọi khi Quang Đạt giỏi trích dẫn Phật pháp lắm mà , sao nay lại dở hơi đến thế !

Đạo Phật thừa nhận có các cõi phạm thiên , nơi sinh sống của các loại chúng sinh khác loài người ( bây giờ có thể gọi họ là người ngoài hành tinh ) . Còn Quang Đạt viết “ cõi Đế Thiên Đế Thích cai quản dương gian ” thì là nói bậy , đuối lý nói càn.
Reply Tán thành Không tán thành
18
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Dân Việt 03/09/2010 23:23:38
Suy nghĩ có thể sai
Thượng đế cũng có thể bị phế.
Cái quang trọng là có dám thừa nhận sai và có dám phế hay không.
avatar
Đỗ Trọng Phú 04/09/2010 09:39:23
Người có nickname Quang Đạt này xem ra hơi...lì !Chẵng còn biết giữ liêm sỉ tối thiểu,lợi dụng diễn đàn này để "rao giảng tin mừng"(sic) lạc hậu của chúa anh ta.
Vấn đề chính yếu nêu ra ở đây,trong bài viết này là nhằm giới thiệu một cuốn sách mang tính đột phá quan trọng của khám phá khoa học bởi một nhân vật nỗi tiếng chuyên ngành.
Quang Đạt hết tả xung hữu đột,vùng vẫy bênh vực cho cái lý thuyết muỗng rục mà chúa anh ta đã sọ không dám thực hiện lời hứa phục sinh hầu biểu diễn cho đám chiên cuồng tín lé mắt mà chúi đầu TIN-SỢ ! Tốt nhất Quang Đạt nên tập trung trí não và vận dụng khả năng hiểu biết của một con người chính thống(chớ hỏng phải chiên)mà chuẩn bị phản bác lại những khám phá khopa học của Stephen Hawking,mới là ngon lành,đáng mặt anh hào,chứ những ý kiến trên diễn đàn này của những người chỉ vì muốn tham gia chia sẻ mà thôi,sao Quang Đạt lại luôn tỏ ra "kỳ quái" thế ?
Chiên Quang Đạt đi lạc gồi đó!
Reply Tán thành Không tán thành
12
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
05/09/2010 20:17:12
<tuoitre.vn> Thứ Bảy, 04/09/2010, 06:48 (GMT+7)

“Thượng đế không tạo ra vũ trụ”

TT - Đó là kết luận của giáo sư vật lý nổi tiếng Stephen Hawking trong cuốn sách mới nhất của ông mang tên The grand design (Thiết kế vĩ đại).


Theo một trích dẫn từ cuốn sách, vừa được đăng tải trên báo The Times of London, giáo sư Stephen Hawking cho rằng với sự tồn tại của trọng lực thì “vũ trụ có khả năng và sẽ tự hình thành từ hư vô - Hawking viết - Sự hình thành ngẫu nhiên là lý do tạo ra một thứ gì đó thay vì hư vô, là lý do tại sao vũ trụ hiện hữu, tại sao chúng ta tồn tại. Không cần thiết phải gọi đến Thượng đế để làm vũ trụ hoạt động”.

Mục đích của cuốn sách, theo giáo sư Hawking, là trả lời câu hỏi cơ bản về sự sống, vũ trụ và vạn vật. Đoạn trích dẫn cho biết câu trả lời nằm ở giả thuyết M (M-theory) nhưng không đi sâu giải thích giả thuyết này.

Với lập luận này, giáo sư Hawking đã phản bác lại quan điểm của của Newton, theo đó thế giới này được kiến tạo độc nhất cho sự sống của loài người, do đó phải được tạo ra bởi một thế lực thần thánh nào đó. Ông nói với số lượng hành tinh chưa thể tính toán như hiện nay, việc cho rằng chỉ có duy nhất một hành tinh phù hợp cho sự sống con người là không thuyết phục.

Hồi tháng 6 năm nay, trong một bài phát biểu, giáo sư Hawking đã nói ông tin rằng khoa học có thể giải thích được sự hình thành vũ trụ chứ không phải thượng đế. Đây là một sự khác biệt bởi trước đó vào năm 1988, trong cuốn sách nổi tiếng nhất của mình - cuốn Lược sử thời gian (A brief history of time), giáo sư Hawking đã không loại trừ khả năng thượng đế tạo ra vạn vật.

Trước sự chỉ trích cuốn sách của nhiều lãnh đạo tôn giáo, ông Denis Alexander - chủ tịch Viện Khoa học và tôn giáo Faraday - nói: “Khoa học kể cho chúng ta câu chuyện tuyệt vời về sự hình thành vạn vật, còn tôn giáo nói cho ta biết ý nghĩa của câu chuyện đó”.

Dự kiến cuốn sách ra mắt tại Mỹ vào ngày 7-9.

XUÂN TÙNG (Theo CNN, Telegraph)
avatar
06/09/2010 00:05:12
FRIEDRICH NIETZCHE (1844-1900), Triết gia Đức : Thần Ki-Tô đã chết ( God is dead.) Chúng ta không nên đi đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành (One should not go to church if one wants to breathe pure air.) Điều nào đúng: con người là một trong những sai lầm của God, hay God là một trong những sai lầm của con người. (Which is it: is man one of God’s blunders, or is God one of man’s blunders ? )

PIERRE LAPLACE (1749-1827), Khoa học gia Pháp : Kính thiên văn đã quét hết vòm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. (The telescope sweeps the skies without finding god.)

ISAAC ASIMOV (1920-1992), Khoa học gia Mỹ: Đối với tôi, Thiên Chúa có lẽ là một sản phẩm tùy tiện của tâm trí con người; Tôi chắc chắn không tin vào những huyền thoại, vào thiên đường và hỏa ngục, vào Thiên Chúa và Thiên Thần, Sa-Tăng và quỉ (It seems to me that God is a convenient invention of the human mind; I certainly don’t believe in the mythologies of our society, in heaven and hell, in God and angels, in Satan and demons..)

RICHARD FEYNMAN , Vật Lý Gia Mỹ, Giải Nobel: Thiên Chúa được phát minh ra để giải thích những điều khó hiểu.Thiên Chúa luôn luôn được phát minh ra để giải thích những điều chúng ta không hiểu. Nay, khi sau cùng chúng ta khám phá ra rằng một cái gì đó vận hành như thế nào, chúng ta có những định luật mà chúng ta tước khỏi từ Thiên Chúa, chúng ta không còn cần đến ông ta nữa.(God was invented to explain mystery.God is always invented to explain those things that you do not understand. Now, when you finally dicover how something works, you get some laws which you are taking away from God; you don’t need him anymore.)

JOHN BURROUGHS(1837-1921), Văn hào Mỹ: Nền văn minh của chúng ta không được xây dựng trên Ki Tô Giáo mà là trên lý trí và khoa học (Our civilization is not founded upon Christianity; it is founded upon reason and science.)

BERTRAND RUSSELL (1872-1970), Triết gia, Nhà Toán học Anh : Nếu tôi nhớ không lầm, không có một lời nào trong các Phúc Âm ca tụng sự thông minh (So far as I can remember, there is not one word in the gospels in praise of intelligence.) .

CHARLES DARWIN (1809-1882), Khoa học gia Anh, nhà lập thuyết Tiến Hóa : Khoa học và chúa KiTô chẳng có liên hệ gì với nhau. Tôi không tin đã có một sự mạc khải nào (Science and Christ have nothing to do with each other. I do not believe that any revelation has ever been made).

FREDERIK the GREAT (1712-1786), Vua nước Phổ : Mọi nhà thần học đều giống nhau.. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền trên tâm thức con người. Do đó họ khủng bố mọi người chúng ta dám táo bạo phanh phui sự thật (Theologians are all alike .. Their aim is always to wield despotic authority over men’s consciences. They therefore persecute all of us who have the temerity to unveil the truth.)

THOMAS HENGRY HUXLEY (1825-1895), Khoa học gia Anh: Hệ thống giáo sĩ là kẻ thù sống chết của khoa học. Thuyết tiến hóa loại bỏ thuyết sáng thế và mọi loại can thiệp của siêu nhiên (The ecclesiastical system is the deadly enemy of science. Evolution excludes creation and all other kinds of supernatural interventions.)

MIKHAIL A. BAKUNIN (1814-1876), Văn hào Nga: Ki Tô giáo là sự từ bỏ hoàn toàn lẽ thường và lý trí (Christianity is the complete negation of common sense and sound reason.) Thần học là khoa học về sự nói láo của thần thánh (Theology is the science of the divine lie.)

AUGUST BEBEL (1840-1913), Nhà xã hội Đức : Ki Tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh. Nó buộc nhân loại trong xiềng xích. (Christianity is the enemy of liberty and of civilization. It has kept mankind in chains.)

STEVE ALLEN (1921 - ), Mỹ, tác giả 43 cuốn sách đủ loại : Cuốn thánh kinh đã được dùng để khuyến khích niềm tin vào sự mê tín thô thiển nhất và làm ngăn cản sự dạy những chân lý khoa học (The Bible has been used to encourage belief in the grossest superstition and to discourage the free teaching of scientific truths); Chỉ sau khi tôi đọc cuốn thánh kinh từ đầu đến cuối tôi mới nhận ra rằng Thần Ki Tô trong đó thật sự là một bạo chúa thích trả thù, ác như quỷ, còn ác hơn sự khát máu điên rồ, sự dã man, sự tàn phá của những con người như Hitler, Stalin, Pol Pot, hoặc bất cứ kẻ sát nhân tập thể nào trong lịch sử cổ xưa hoặc hiện đại (It was only when I finally undertook to read the Bible through from beginning to end that I perceived that its depiction of the Lord God was actually that of a monstrous, vengeful tyrant, far exceeding in bloodthirstiness and insane savagery the depredations of Hitler, Stalin, Pol Pot, or any mass murderer of ancient or modern history.)
Reply Tán thành Không tán thành
11
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
06/09/2010 00:29:48
Stephen Hawking mưu sát Đức Chúa Trời. Dư luận đang xôn xao .
Các bạn hãy bình tỉnh một chút sẽ nhận ra đó hoàn toàn là tin vịt vì không có ai lại đi tìm diệt bất cứ cái giống gì mà nó chưa từng hiện hữu cả .
Reply Tán thành Không tán thành
16
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Quang Đạt 11/09/2010 18:08:23
Các bạn hãy bình tĩnh đi làm gì mà lời lẽ ồn ào xôn xao quá vậy , công luận đọc sẽ đánh giá đó . Điều trước hết tôi không phải con chiên đâu . Còn chuyện Đức Chúa Trời có hay không thì tôi không quan tâm làm gì bởi tôi đạo Phật .

Tôi chỉ thấy làm lạ ngạc nhiên là tác giả Stephen Hawking trong bài viết trước đây công nhận có Thượng Đế rồi sau đó tự mâu thuẩn bác bỏ Thượng Đế . Là một nhà khoa học nổi tiếng mà Tiền hậu bất nhất . Chuyện đơn giản vậy thôi .
Reply Tán thành Không tán thành
-8
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Trịnh Hoài Anh Tú 09/10/2010 04:34:48
Ông ấy mới đầu cũng cho là có Thượng Đế nhưng không hỉu sao quay trở lại bảo ko có THượng Đế ông này chắc khám lại bệnh kẻo bệnh tâm thần lại tái phái và tật thêm cái đâu nữa hehe
Reply Tán thành Không tán thành
-4
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
12/09/2010 07:37:10
Q Đ nên đọc lại những gì Q Đ đã bình luận ngày 4/9/2010 bên trên . Bạn sẽ thấy cái bình luận lần này của bạn hoàn toàn không đáng tin cậy .
avatar
luaviet 11/09/2010 22:07:33
"Tôi chỉ thấy làm lạ ngạc nhiên là tác giả Stephen Hawking trong bài viết trước đây công nhận có Thượng Đế rồi sau đó tự mâu thuẩn bác bỏ Thượng Đế . Là một nhà khoa học nổi tiếng mà Tiền hậu bất nhất"
Bat cu ai deu co sai lam nhung quang trong nhat khi bit minh sai thi phai sua sai.
Dan viet: "uy nghĩ có thể sai
Thượng đế cũng có thể bị phế.
Cái quang trọng là có dám thừa nhận sai và có dám phế hay không"
chi co con Chien(cuu) tu cao tu dai la khong muon thay minh da sai
ma cho du co bit minh da sai van kg Sua
avatar
Quang Đạt 12/09/2010 08:26:33
Diễn đàn là nơi thảo luận trao đổi tự do . Mỗi người có thể nên lên ý kiến của mình , có thể đúng hay sai là tùy sở học , hiểu biết , quan điểm tri thức của mỗi người . Có thể lập luận của tôi sai với người này nhưng đúng với người khác cũng là lẽ thường . Bạn luaviet nói Thượng Đế có thể bị phế là chuyện cá nhân của bạn . Như các tín đồ đạo Hồi chẳng hạn thì họ tin có Thượng Đế tức Thánh A La . Hay các tín đồ TC thì họ tin có Đức Chúa Trời .

Không thể căn cứ trên một số người dù đó là các nhà khoa học rồi khái quát toàn thể . Hàng tỷ tín đồ Đạo Hồi tin có Thánh A La , hàng tỷ tín đồ đạo TC tin có Đức Chúa Trời , đó là chuyện tín ngưỡng của họ . Còn bạn luaviet có quyền không tin Thần quyền gì cả nhưng người có trí cần biết tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác .

Nếu bạn không tin Thần quyền , thì hàng tỷ tín đồ các tôn giáo khác cũng có quyền không tin có Đức Phật với sự giải thoát . Tôn giáo là vấn đề tâm linh , chứ không thuộc về lý luận , vấn đề bạn theo tôn giáo nào không quan trọng mà làm sao bạn sống tốt Đạo , đẹp đời , hữu ích cho cộng đồng xã hội .
Reply Tán thành Không tán thành
-6
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
kẻ ở miền xa 12/09/2010 09:49:27
1/"Tôn giáo là vấn đề tâm linh , chứ không thuộc về lý luận"---> Phật giáo dạy tín đồ hiểu để tin, Công giáo dạy tín đồ tin mà không cần hiểu. Bạn nói bạn là Phật tử mà sao lại không biết điều cơ bản này. Có lẽ bạn tin một cách mù quáng, tin mà không hiểu nên mới có người cho bạn là ...con chiên, vì chỉ có con chiên của Chúa mới không cần đến dầu óc làm gì, không cần đến trí khôn làm gì và luôn cho rằng "Tôn giáo là vấn đề tâm linh , chứ không thuộc về lý luận"
2/" vấn đề bạn theo tôn giáo nào không quan trọng mà làm sao bạn sống tốt Đạo , đẹp đời , hữu ích cho cộng đồng xã hội ". Bạn nói đúng quá, hoan hô bạn. Vậy những bài viết của Trần Chung Ngọc, Chalier Nguyễn, LM Trần Tam Tĩnh... đều viết rất chân thực, cụ thể về Kinh Thánh, về Chúa Trời, về đạo quân thứ 5 mang quốc tịch Vatican luôn tìm cách dâng đất nước này ...lên Đức Mẹ. THẾ SAO CÁC BẠN LẠI CHO RẰNG NHỮNG BÀI NÀY GÂY CHIA RẺ TÔN GIÁO, DÂN TỘC??? NHỮNG BÀI NÀY VIẾT RẤT ĐÚNG, BẰNG CHỨNG ĐƯA RA KHÔNG THỂ CHỐI CÃI. NHỮNG TÁC GIẢ NÀY ĐANG LÀM VIỆC RẤT TỐT CHỨ Ạ. DÙNG ÁNH SÁNG SỰ THẬT XUA TAN BÓNG TỐI CỦA QUỶ DỮ. Những người này, những độc giả là phật tử trên diễn đàn phải "xả thiền" để lên tiếng nói lên sự thật, xóa tan những lý lẽ xuyên tạc, tầm bậy này ...đang cống hiến những hiểu biết, trí tuệ của họ đưa người người mê tỉnh giấc, làm việc tốt cho đời ấy chứ. Chỉ tiếc là dân Chúa không chịu tỉnh ra, không dám nhìn nhận sự thật lịch sử thôi.
3/ XIN BBT HÃY ĐĂNG NHỮNG BÀI VIẾT VỀ ĐẠO CHÚA CỦA CỐ TÁC GIẢ CHALIER NGUYỄN (BÙI VĂN CHẤN- MỘT CON CHIÊN ĐẠO DÒNG GỐC) LÊN DIỄN ĐÀN NÀY ĐỂ KHÔNG AI CÓ THỂ NÓI LÀ DIỄN ĐÀN NÀY KHÔNG TỰ DO, CHỈ CÓ PHẬT TỬ TỰ CA NGỢI NHAU.
avatar
Quang Đạt 14/09/2010 15:10:47
Về tâm linh: "Nếu chưa biết, xin đừng phủ nhận"
13/09/2010 07:06:33
- Một chiếc lá cây khi sống tạo ra một trường sinh học quanh nó, khi mất đi trường sinh học đó vẫn được bảo tồn. Với con người, điều đó có tồn tại không? Nếu có, đằng sau sự sống sẽ không còn là cái chết nữa. Những câu hỏi và logic vấn đề đã đưa GS.TS Đoàn Xuân Mượu, nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Sau hơn 30 năm thai nghén, ông vừa cho ra đời 3 tập sách mang tên: Con người và khoa học về tâm linh.

Hiểu sự huyền bí sẽ không còn mê tín dị đoan

Là giáo sư đầu ngành về vi trùng, virus, tại sao ông lại chuyển sang viết sách nghiên cứu "tâm linh"? Ông không sợ người ta cho rằng thế là mê tín dị đoan?

Virus nhỏ lắm. Nó còn nhỏ dưới mức vi khuẩn, mắt không nhìn thấy được. Trong thế giới tự nhiên đã có lúc ta ghi nhận những thứ không nhìn thấy được là vô hình. Trong quá trình nghiên cứu, tôi thấy thế giới vô hình rất sống động, từ đó tôi liên tưởng đến đời sống con người ở những điều ta không nhìn thấy.
Cùng với quá trình nghiên cứu y học tôi cũng bắt tay nghiên cứu những điều về con người mà xưa vẫn cho là "bí ẩn", là mê tín dị đoan... Dưới ánh sáng khoa học, những "bí ẩn" đó không còn chỗ nương thân cho những gì gọi là mê tín, kỳ quặc.

Nói như thế theo tôi hiểu ông công nhận thế giới tâm linh là có thật?

Tôi không dám làm trọng tài trong tất cả những vấn đề mà thế giới đang tranh luận, chưa ngã ngũ. Tôi chỉ là người đọc nhiều, tâm huyết đến lĩnh vực "đời người" và cố gắng đưa những gì chưa biết ra ánh sáng.

Ông có thể nói rõ hơn?

3.000 năm qua, chúng ta tìm hiểu vũ trụ nhiều hơn tìm hiểu chính mình. Do đó, vốn hiểu biết về thế giới tự nhiên lớn hơn hiểu biết chính bản thân, kể cả nguồn gốc chính mình và những khả năng đặc biệt của con người.
Trước đây, khoa học chính thống theo mô thức thực chứng duy lý, dựa trên nền tảng vật lý cổ điển của Newton không giải thích được các hiện tượng đặc biệt này. Nó không công nhận thế giới siêu hình và cho rằng nguyên tử là nguyên tố bé nhất.
Đến đầu thế kỷ XX xuất hiện mầm mống thuyết tương đối của Enstein thuyết này nói rằng, ngoài nguyên tử là phần tử nhỏ nhất còn có sóng và hạt. Thuyết lượng tử từ đó cũng lên ngôi.
Vì vậy, về phương diện xã hội nếu quảng đại quần chúng hiểu biết cơ sở khoa học của sự huyền bí thì sẽ không còn chỗ nương thân cho mê tín dị đoan đang lan tràn rộng rãi như hiện nay. Huyền bí không mâu thuẫn với tự nhiên, chỉ mâu thuẫn với sự hiểu biết của con người về quy luật tự nhiên.
Tôi cho rằng thế kỷ XXI có nhiều vấn đề tâm linh khiến nhiều người quan tâm. Bộ sách 3 cuốn về con người và thế giới tâm linh của tôi ra đời từ đó, ở đó tôi nhìn nhận con người dưới góc độ khác.

Nguồn gốc loài người bắt nguồn từ năng lượng

Với cách nhìn nhận của ông, thủy tổ của loài người không phải là khỉ?


Dựa vào các thuyết về nguồn gốc con người: thuyết tiến hóa của Darwin, thuyết Mundasep và nhiều học thuyết khác thì thấy, con người không phải từ linh trưởng mà phát triển lên. Con người cũng như động vật, thực vật muôn loài đều do tạo hóa sinh ra, từ cái gọi là chân không vật lý mà theo Phật học thì gọi là "sắc sắc không không".
Mọi sinh vật được tạo hoá sinh ra không phải một cách tình cờ, mà đều có ý định, có mục đích do "Ý thức vũ trụ". Ý thức có trước, kế hoạch sáng thế có sau, tất cả đều bắt nguồn từ năng lượng. Con người phải do năng lượng sinh ra, bắt đầu từ năng lượng lỏng, năng lượng đặc và thành hình hài con người ngày nay.
Thực tế, bằng phương pháp phóng xạ xương người ở Nam Mỹ cách đây hơn 3 triệu năm, phóng xạ xương của loài linh trưởng sau khi tìm kiếm đều không chứng minh được nguồn gốc con người từ linh trưởng. Từ xa xưa xương bàn tay con người đã có hoạt động khôn khéo rồi. Thế giới nhiều nơi đã công nhận con người là sinh vật do vũ trụ sinh ra, con người là hình chiếu của vũ trụ.

Theo logic của ông, con người sẽ được cấu tạo thế nào?

Con người gồm 7 phần gồm thể xác, năng lượng, cảm xúc và 4 cơ thể tâm thần, trong đó chỉ có thể xác là hữu hình, được y học chính thống giảng dạy (đây là năng lượng đặc), 6 phần còn lại có độ đặc khác nhau. Năng lượng càng loãng càng nghiêng dần về phía linh cảm (năng lượng chưa phải tế vi). Khi sống, phần năng lượng đặc vẫn còn nhưng khi mất đi thì phần năng lượng đặc mất, các phần năng lượng khác vẫn tồn tại.

Có phải nhờ những phần năng lượng không mất đi mà một số người có khả năng ngoại cảm không? Tuyến tùng ở những người đó phát triển cao hơn bình thường?

Người bình thường ai cũng có tuyến tùng như là dấu vết của con mắt thứ 3 ở giống người tiền sử (hay còn gọi là giác quan thứ 6). Khả năng ngoại cảm không phải do một mình tuyến tùng mà còn liên quan đến các thân thể tế vi.
Khả năng ngoại cảm do tạo hoá ban cho, không phải do luyện tập mà có, càng không phải do tuyến tùng phì đại. Khả năng chữa bệnh của một số nhà ngoại cảm, về nguyên tắc và lý thuyết, có thể có. Tuy nhiên không phải đã là nhà ngoại cảm thì đều có khả năng chữa bệnh.

Là bác sĩ Tây y sao ông lại tin tưởng vào cách chữa có vẻ phi khoa học của các nhà ngoại cảm?

Các nhà y học chính thống vốn chữa bệnh cho thân thể vật lý. Tuy nhiên, còn có những dạng bệnh do năng lượng sóng đứng gây nên, chúng đòi hỏi phải có cách tiếp cận khác gọi là y học đa chiều, trong chẩn đoán, tự chẩn đoán, điều trị, tự điều trị, khác với y học chính thống.

Trong thực tế chắc có những người mạo danh ngoại cảm cần phải ngăn cản. Bộ sách của tôi là sự cố gắng lý giải những điều chưa biết. Cái biết vốn dĩ hữu hạn, cái chưa biết là cái vô hạn. Tuy nhiên, không phải vì chưa biết mà phủ nhận tất cả một cách hồ đồ.

Xin cảm ơn ông!

GS.TS Đoàn Xuân Mượu là Đảng viên hơn 60 năm tuổi Đảng, cán bộ lão thành cách mạng, là một trong 50 đảng viên đầu tiên được Đảng và Chính phủ chọn cử đi học đại học tại Liên Xô năm 1953. Từ năm 1973 - 1994, ông đã kinh qua các chức vụ Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ, Viện trưởng Viện Pasteur Đà Lạt, Viện trưởng Viện Văcxin Quốc gia, đại diện y tế Việt Nam trong Ban Thư ký Hội đồng Tương trợ kinh tế các nước XHCN (SEV) tại Liên Xô, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Hà Mi (thực hiện)
Theo Bee.net.vn
Reply Tán thành Không tán thành
-2
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Phàm Phu 14/09/2010 23:17:33
Đôi điều cùng Quang Đạt :

1)- Nghiên cứu tâm linh ở VN ngày nay không còn giấu giếm hoặc hiếm hoi . Nhà Nước có hẳn cơ quan chính quy chuyên trách. Ngoài ra còn rất nhiều cá nhân hiệp hội cũng tham gia , GSTS Đoàn Xuân Mượu là một trong số đó . Tuy nhiên đến nay chưa có cơ quan , cá nhân nào chính thức đưa ra kết luận , GSTS Mượu cũng thế . Ai cũng mừng trước tình hình tiến bộ này và chúc cho các người tham gia dấn thân ấy sớm có thành quả như mong đợi .

2)- Các ý tưởng của GSTS Mượu , do Quang Đạt trích nhấn mạnh như “ tạo hóa sinh ra ” “ kế hoạch sáng thế ”... Về tâm linh: " Nếu chưa biết, xin đừng phủ nhận " ... không có liên quan gì đến Thượng Đế hoặc Chúa Trời gì cả . Quang Đạt chớ có nhập nhằng mà mang tội với GSTS Mượu .

SÁNG THẾ KÝ 1:27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài ; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời .

Vậy thì Chúa Trời là một “ nhân vật ” , nhân vật toàn năng vĩnh hằng , Quang Đạt tin là có một nhân vật như thế phải không ? Tôi thì không .

3)- Giửa 2 Nhóm người , một Nhóm tin có Chúa Trời , Nhóm kia không tin , theo Quang Đạt thì Nhóm nào phải chứng minh sự hiện hữu của Chúa Trời ?

Nhóm tin nói rằng “ Vì chúng tôi không hiểu không biết chắc , chưa bao giờ thấy , chưa bao giờ nghe ... vì nhiều người đã tin và họ bảo chúng tôi phải tin ...nên kết luận Đức Chúa Trời hiện hữu là chân lý , ai không tin theo là có tội sẽ bị Chúa trừng phạt ” . Và họ làm thật , không chờ Chúa Trời , họ nhân danh Chúa Trời , lôi những người không tin lên dàn hỏa thiêu để lập công với Chúa .

Nhóm không tin nói rằng “ Vì chúng tôi đã quán sát , đã suy tư , đã kiễm nghiệm việc ấy không có thật , việc ấy không mang lại an lạc , việc ấy chỉ mang lại sự mê mờ sợ hãi ...nên chúng tôi không tin . Tuy nhiên ai tin thì cứ tin , chúng tôi không bao giờ làm tổn hại họ cả ” .

Quang Đạt thuộc Nhóm người nào ? Tôi thì dứt khoát theo Nhóm người không tin .

4)- Thuyết tiến hoá của Darwin và đạo Phật chưa bao giờ đồng hành . Chỉ có một chút xíu gặp nhau ở một điễm là cùng bác bỏ thuyết sáng thế của một đấng nào đó.

Là Phật tử không ai chấp nhận “ Loài vượn hoặc loài vượn người tiến hóa thành loài người ” . Phật đã dạy “ Chúng sanh 3 cỏi 6 đường ” trong đó Người và Súc Sanh , sắc tướng tâm thức khác nhau , không thể lẫn lộn . Phật cũng dạy không có thượng đế nào kiến tạo vũ trụ , không có thần thánh nào chưỡng quản hay ban phước giáng họa cho loài người cả .

Phật tử nào không nghe theo lời Phật dạy thì chỉ là Phật tử cửa miệng , mạo nhận , là Phật tử dõm .
Reply Tán thành Không tán thành
14
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Hoa Hồng 15/09/2010 19:27:55
Chào các bạn ,

Hoa Hồng là Kito giáo xin phép có đôi lời nè .

2000 năm nay hàng triệu nỗ lực đưa Kinh Thánh vào Viện Bảo tàng nhưng đâu có thành công. Chỉ thấy trong cuộc sống mọi người copy Kinh Thánh nghiên cứu học hỏi quá nhiều đi. Đạo là rất thật, cảm nhận từ tâm linh không phải ảo giác. Thiên Chúa tạo ra loài người là giống hình ảnh Ngài, chỉ có kính sợ TC nên giáo dân Kitô làm từ thiện là number one. Không phải tự dưng các Đại gia Tỷ phú như Buffet, Bill gate và các nhà Tỷ phú Mỹ khác làm việc thiện nguyện mà do được hít thở không khí bác ái Thiên Chúa từ bé mới làm từ thiện cho người nghèo khổ , bệnh tật , họ đã cho đến 90% tài sản khổng lồ như thế. Các trường đại học hàng đầu của Mỹ giờ chóng quên không hiểu rằng Rockerfle vì tôn kính Thiên Chúa nên đã thành lập ra họ. Giờ Việt Nam các sinh viên , các ông du học, mấy ông trên khoe nhau học trường xịn ở Mỹ , học hỏi tiếp thu tinh hoa văn minh của thế giới , các thành tựu khoa học kỷ thuật hiện đại . Xin lỗi, toàn là trường của Chúa hết. Nên có thái độ bíết ơn đúng đắn , còn hơn là vô ơn bạc bẽo.

Ông Estein về già bị lú lẫn. Ông Hawking này cũng thế. Trong khoa học nên có thái độ thận trọng, nếu không tin được 100% có Chúa thì cũng ít ra nói là chúng tôi,giới khoa học gia cũng không dám nghĩ chuyện không có Chúa 100% , hay là im lặng chứ không phản bác vô cớ. Vì một khi anh đã tuyên bố chắc chắn không có Chúa thì anh phải đi chứng minh, chưa chứng minh được bằng cơ sở khoa học mà đã phát biểu hóa ra là phát biểu tùy tiện theo cảm tính cá nhân . Khoa học, thực ra, cũng chưa phải là những chân lý bất biến, nhiều khi cũng phải đặt trên những "giả thiết" và thay đổi theo thời gian.
Chỉ thấy được một điều là dân VN cực kỳ dễ bị lừa nhất là từ mấy nhà khoa học.

Chúa cho loài người được tự do suy nghĩ, chọn lựa. Trong Kinh Thánh Chúa còn nói cứ thử các tà thần khác để so sánh.
Kinh thánh mặc dù chứa một số điều sai trái nhưng đó là văn bản gây ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử xã hội loài người, do đó đương nhiên có nhiều người nghiên cứu nó và tìm đọc để tin và cầu nguyện.

Người ta theo một tôn giáo không phải vì tôn giáo này nói đúng về "khoa học" mà vì tôn giáo giúp người ta có niềm tin để sống một cách tốt đẹp, có đạo đức nhân bản hơn . Tôn giáo là lãnh vực Tâm linh. Logic của Tôn giáo không phải là logic của khoa học. Dùng logic khoa học để đo lường chối bỏ Tôn giáo thì thật là khiên cưỡng , giống như lấy râu ông này cắm càm bà kia vậy . Một người Thiên Chúa giáo vẫn tin đạo, vẫn đọc Kinh Thánh hằng ngày mà vẫn có thể là một nhà nghiên cứu khoa học, vật lý thiên văn.
Kinh Tân ước (Phúc Âm) mới là trung tâm của Kitô giáo. Nếu bạn đọc Kinh Thánh thì nên chú trọng nghiên cứu về Tân ước .

Các nhà khoa học, trong khi nghiên cứu thế giới vật chất, cũng nhận chân ra những điều kỳ diệu mà họ không thể nào giải thích được, chẳng hạn mức độ chính xác tuyệt đối nơi các chuyển động của các hành tinh trong vũ trụ. Người có niềm tin tôn giáo thì tin rằng đó là do quyền năng của Đấng Tạo Hóa, người không có tín ngưỡng thì cho đó là sự tự nhiên như thế!

Dù gì thì Kinh Thánh lưu truyền hàng nghìn năm không biết qua bao nhiêu lần sao chép lại mà không sai sót thì mới lạ. Có 2 hình mẫu chủ yếu về Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước: trong Cựu Ước, đó là sự đấu tranh giữa Thượng Đế với sự ác Tàn Bạo (giết trẻ con, giết cả thành, giết gần hết loài người...) và Thượng Đế Nhân Từ với sự chuyển giao là lời hứa của Thiên Chúa sau trận lụt Noel. Trong Tân Ước, tư tưởng chủ yếu là Thượng Đế Nhân Từ.
Con người đa phần đều có thể mắc nhiều sai lầm định kiến . Thế mà lại lấy trí khôn dễ mắc sai lầm của con người để phán xét Kinh Thánh ? Không riêng trong các nhà thờ có gắn rất nhiều biển Tạ ơn. Nước Mỹ còn có cả một ngày lễ Thansk Giving Day để tạ ơn Thiên Chúa nữa cơ mà ?

Các nhà khoa học dò tìm trong khoa học để làm cái gì ? Khoa học chẳng qua là phương tiện của Chúa giúp con người tìm ra một số phuơng thức hữu hiệu để cải thiện cuộc sống vật chất . Cuộc sống tinh thần chỉ có Chúa mới giải quyết được.
Không nên nói “không thấy tức là không có”. Không thấy có thể là có, cũng có thể là không.
Các nhà khoa học kiệt xuất rất tin tưởng Kinh Thánh , tin có Chúa Trời rất đông đảo như : Richard Feynman, Alan Turing, Paul Dirac, Bertrand Russell, Subrahmanyan Chandresekhar, Steven Weinberg, Carl Sagan, Richard Dawkins v.v…

Albert Einstein đã nói: "Tôn giáo mà không có khoa học là mù quáng, khoa học không tôn giáo là khập khiễng."
Thế giới này có thể không có khoa học, nhưng từ khai thiên lập địa đến nay loài người chưa bao giờ không có tôn giáo cả. Cái tính tự kiêu tự mãn của các nhà khoa học như chế tạo được dăm ba cái tàu vũ trụ là đã tự phỉnh mình là nhất rồi tự cho là không có Chúa Trời trong thế giới tự nhiên vũ trụ này . Tương tự xin mạo phạm nói về đạo Phật một chút như người ta vì không nhìn thấy Đức Phật vì Ngài đã nhập diệt hơn 2500 năm nay rồi kết luận là không có Đức Phật trong thế gian này chăng ? hoặc các nhà khoa học không “ sờ mó ” được luật nhân quả rồi kết luận là không có luật nhân quả trong thế giới này ? trong khi luật nhân quả là nền tảng của đạo Phật không những chi phối Phật tử mà còn chi phối tất cả các tôn giáo khác , chi phối toàn thể nhân loại một cách công bằng tuyệt đối . Hoặc có những người không tin cõi thiên giới nơi mà Chư thiên tử Phạm Thiên , Đế Thích ở trên các cõi trời . Cõi trời Đâu Suất nơi có Bồ Tát Di Lạc , chẳng lẽ không nhìn thấy bằng mắt thường nên không tin sao ??!!!!!!!
Như vậy những gì không nhìn thấy không phải là không có mà tùy thuộc vào nhân sinh quan , thế giới quan , vũ trụ quan , phụ thuộc vào tâm linh có linh mẫn khai mở hay không nữa .
Vài dòng thảo luận cho vui vậy thôi hén .

Hoa Hồng
Reply Tán thành Không tán thành
-12
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
15/10/2010 21:49:39
Hoa Hồng viết : “Các nhà khoa học kiệt xuất rất tin tưởng Kinh Thánh , tin có Chúa Trời rất đông đảo như : Richard Feynman, Alan Turing, Paul Dirac, Bertrand Russell, Subrahmanyan Chandresekhar, Steven Weinberg, Carl Sagan, Richard Dawkins v.v…”

Trong danh sách rất đông đảo rất tin tưởng kinh thánh này , ít nhất Hoa Hồng đã nhầm 4 người :

BERTRAND RUSSELL (1872-1970), Triết gia, Nhà Toán học Anh : “Nếu tôi nhớ không lầm, không có một lời nào trong các Phúc Âm ca tụng sự thông minh” (So far as I can remember, there is not one word in the gospels in praise of intelligence.) .

RICHARD DARKINS : xin xem http://www.youtube.com/watch?v=q_0kFU7IfPM , Ông này đang vận động đưa ra tòa xét xử Đức Giáo Hoàng Benedict XVI vì đã phạm tội bao che cho các linh mục hiếp dâm con nít.

CARL SAGAN, Khoa học gia Mỹ: “Nếu các bạn muốn cứu con mình khỏi bị bệnh bại liệt, bạn có thể cầu nguyện ( chúa ) hoặc mang nó đi chích ngừa... Hãy chọn khoa học” (If you want to save your child from polio, you can pray or you can inoculate.. Choose science)

RICHARD FEYNMAN , Vật Lý Gia Mỹ, Giải Nobel: “ Thiên Chúa được phát minh ra để giải thích những điều khó hiểu.Thiên Chúa luôn luôn được phát minh ra để giải thích những điều chúng ta không hiểu. Nay, khi sau cùng chúng ta khám phá ra rằng một cái gì đó vận hành như thế nào, chúng ta có những định luật mà chúng ta tước khỏi từ Thiên Chúa, chúng ta không còn cần đến ông ta nữa.” (God was invented to explain mystery.God is always invented to explain those things that you do not understand. Now, when you finally dicover how something works, you get some laws which you are taking away from God; you don’t need him anymore.)

Hoa Hồng thiếu thận trọng, thiếu hiểu biết hay cố ý đổi trắng thay đen ?
Reply Tán thành Không tán thành
15
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Dân Việt 18/09/2010 23:25:36
Chào bạn Hoa Hồng,
Albert Einstein đã nói: "Tôn giáo mà không có khoa học là mù quáng, khoa học không tôn giáo là khập khiễng."
Tôi nghỉ bạn cần phân tích lại câu này.
avatar
kẻ ở miền xa 16/09/2010 10:58:23
Vài dòng gửi HOA HỒNG.
Cảm ơn bạn đã cho tôi một bài viết hay, rất hay, đúng là "sản phẩm trí tuệ" đặc trưng của dân Chúa. Tôi xin nhận xét vài đoạn của bạn:
1/ "Đạo là rất thật, cảm nhận từ tâm linh không phải ảo giác. Thiên Chúa tạo ra loài người là giống hình ảnh Ngài". Câu thứ 1, đúng là lời lẽ của dân Chúa, tin mà không cần hiểu. Phật giáo dạy tín đồ hiểu để tin, Công giáo dạy tín đồ tin mà không cần hiểu. Chỉ có con chiên của Chúa mới không cần đến đầu óc làm gì, không cần đến trí khôn làm gì và luôn cho rằng " Đạo là rất thật, cảm nhận từ tâm linh không phải ảo giác", "Tôn giáo là lãnh vực Tâm linh". Còn câu thứ hai thì tôi miễn bình luận, giờ này người ta ( ngay cả Giáo Hoàng) còn công nhận Thuyết Tiến Hóa của Đác Uyn, mà bạn còn mang đầu óc của một con chiên thời trung cổ thì thật tội cho bạn quá, biết nói gì bây giờ nữa. Xin bó tay.
2/ "...Xin lỗi, toàn là trường của Chúa hết. Nên có thái độ bíết ơn đúng đắn , còn hơn là vô ơn bạc bẽo.
. Chúa đã phán THẾ GIAN NÀY KHÔNG PHẢI CỦA TA, CHÚA KHÔNG NGỰ Ở TRÊN THẾ GIAN thì trường nào, đất nước nào, tài sản nào của Chúa? Làm sao thiên hạ phải biết ơn Chúa TRONG KHI CHÚA CHỈ CÓ MỖI MỘT TẤM KHỐ ( Do người đời sau mặc vào) và không thể cứu rỗi cho chính bản thân mình. CHÚNG TÔI BIẾT ƠN LÀ BIẾT ƠN TỔ TIÊN, ÔNG BÀ CHA MẸ, NHỮNG NGƯỜI ĐÃ HY SINH XƯƠNG MÁU DO DẢI ĐẤT CHỮ S NÀY, CHO TÔI CÓ MẶT TRÊN ĐỜI NÀY CHỨ KHÔNG RỔI HƠI BIẾT ƠN CHÚA TRÊN THIÊN ĐÀNG. Vậy tôi và bạn ai nên có thái độ bíết ơn đúng đắn , còn ai là vô ơn bạc bẽo???
3/ "Dùng logic khoa học để đo lường chối bỏ Tôn giáo thì thật là khiên cưỡng , giống như lấy râu ông này cắm càm bà kia vậy" "Chỉ thấy được một điều là dân VN cực kỳ dễ bị lừa nhất là từ mấy nhà khoa học." và "Thế mà lại lấy trí khôn dễ mắc sai lầm của con người để phán xét Kinh Thánh ". Thật là hết biết, đúng là dân Chúa có khác, luôn sợ sự thật, luôn sợ lịch sử và luôn tìn cách chối bỏ, không chấp nhận sự thật, chân lý. Những câu này phản ánh rất trung thực " mẫu số chung của người CG" (tôi đã từng nói). KHÔNG DÙNG KHOA HỌC, DÙNG TRÍ KHÔN CỦA CON NGƯỜI ĐỂ PHÁN XÉT KINH THÁNH THÌ DÙNG CÁI GÌ HẢ BẠN HOA HỒNG? DÙNG ĐỨC TIN MÙ QUÁNG CỦA MÌNH SAO???
4/"Dù gì thì Kinh Thánh lưu truyền hàng nghìn năm không biết qua bao nhiêu lần sao chép lại mà không sai sót thì mới lạ" Đúng như vậy, nhưng tại sao đến bây giờ các LM vẫn luôn rao giảng là KT không thể sai lầm, là ánh sáng, là chân lý? Giáo dân thì vẫn tin là "Thiên Chúa tạo ra loài người là giống hình ảnh Ngài" mà bạn HOA HỒNG là một ví dụ cụ thể???
5/ "...chỉ có kính sợ TC nên giáo dân Kitô làm từ thiện là number one. Không phải tự dưng các Đại gia Tỷ phú như Buffet, Bill gate và các nhà Tỷ phú Mỹ khác làm việc thiện nguyện mà do được hít thở không khí bác ái Thiên Chúa từ bé mới làm từ thiện cho người nghèo khổ , bệnh tật , họ đã cho đến 90% tài sản khổng lồ như thế...". Bạn ơi, người ta làm từ thiện là do lòng nhân đạo, cảm thương người nghèo chứ không phải DO KÍNH SỢ TC. Người phật tử làm từ thiện là do họ KÍNH SỢ THIÊN CHÚA À? Công tâm mà nói, dân Chúa làm từ thiện không phải trên tinh thần nhân đạo, thi ân không cần báo đáp MÀ LÀ CÓ TOAN TÍNH, MỞ RỘNG NƯỚC CHÚA, DỤ NGƯỜI NGHÈO VÀO ĐẠO. Bạn có biết câu " THEO ĐẠO CÓ GẠO MÀ ĂN" ?
6/CÒN VỀ KINH THÁNH ( CỰU ƯỚC LẪN TẤN ƯỚC), CHÚA NHÂN TỪ, LÒNG LÀNH, ĐẠO TC VỚI KHOA HỌC... THÌ TRÊN ĐÂY MỌI NGƯỜI NÓI NHIỀU RỒI, TÔI XIN KHÔNG NÓI NỮA. Bạn nên tự tìm đọc những ý kiến về các vấn đề trên.
Ý kiến còn dài, nhưng tôi xin tạm dừng, để các bạn dọc khác nói tiếp.
Thân chào bạn.
Reply Tán thành Không tán thành
10
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Hoa Giả 16/09/2010 19:03:31
Ô ! Hoa Hồng ,thêm một con chiên đi lạc !

Nói khoa học,lịch sử,tôn giáo ...mà toàn là ngôn ngữ sặc mùi chiên .Đứng một góc phiến diện mà dẫm chân lên khối bê tông thiên kiến cũ rích .

Những ai có phát biểu biểu nghịch với "ý chúa",dù đó là những nhân vật tiếng tăm trong nhiều lãnh vực ,đều bị chiên cho rằng xằng bậy ,trong khi diễn giải,dẫn chứng ra toàn là những lời mê sảng lẽ ra chỉ là sản phẫm của chú trời từ thửo hồng hoang .

Chiên Hoa Hồng ơi ! Hảy gở tấm khố jesus xuống mặt mà nhìn ánh nắng thời đại và hãy tự trọng nhé !
avatar
Phàm Phu 16/09/2010 22:43:34
Chào Hoa Hồng , bạn là Kitô hữu tự trọng khác xa với nhiều con chiên khác úp mở thậm chí mạo nhận Phật tử. Tôi cũng giống như bạn , xin trao đổi góp vui vài dòng rồi...mạnh ai nấy về giữ đạo của mình :

1)- Về “chỉ có kính sợ TC nên giáo dân Kitô làm từ thiện là number one ” : Chuyện này thì ALBERT EINSTEIN đã nhận định rồi : “ Nếu con người làm việc tốt lành chỉ vì sợ bị trừng phạt, và hy vọng được khen thưởng thì thật đáng tiếc lắm thay ” ( If people are good only because they fear punishment, and hope for reward, then we are a sorry lot indeed ) .

Con người làm lành , làm thiện chỉ vì sợ chúa trừng phạt thì có khác chi các con thú trong rạp xiếc miễn cưởng làm trò vì sợ roi giọt của người điều khiển .

Hoa Hồng ngưỡng mộ các con chiên tỷ phú làm từ thiện vì họ giàu có và nổi tiếng thì không có gì sai , nhưng bạn đừng quên ngưỡng mộ hàng triệu đồng bào của bạn vẫn âm thầm “ lá rách đùm lá rách nát ” mà chẳng hề vì kính sợ bất cứ thần thánh nào cả , cũng chẳng cần “ number one nor number two ”.

2)- Về Thanksgiving Day : Ngày này có gốc tích không phải tôn giáo . Khởi thuỷ nó là đại tiệc của một đám di dân khoản đải người dân bản địa ( da đỏ ) để “ Say thanh you ” , bạn hãy đọc :

Tại Hoa Kỳ, người ta thường tưởng nhớ đến một bửa ăn tổ chức trong năm 1621 giữa người da đỏ Wampanoag và nhóm Pilgrim đã di cư tại New Plymuoth , Massachusetts ...Khi một nhóm người di dân Pilgrims từ Âu châu sang Hoa kỳ bằng tàu Mayflower. Họ gồm102 thực dân người Anh trong số đó có một người đàn bà có mang, một số thủy thủ khoảng 25-30 người và 35 người rất sùng đạo Tin lành đã bị vua Jacques đệ nhất đuổi ra khỏi xứ . Họ đặt tên là nhóm Các Cha hành hương Pilgrim (Pilgrim Fathers hay Pères Pèlerins) . Trong 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, cùng với bệnh dịch đã làm cho 46 người trong số 102 người tới nơi chết trước mùa Xuân, trong đó có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người) . Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp. May mắn thay mùa gặt năm 1621 thành công , nên họ quyết định làm lễ Tạ Ơn Trời. William Bradford đã tổ chức lễ Thansgiving đấu tiên, tháng 11 năm 1621. Họ mời 91 người Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ) đã giúp họ sống còn cho năm đầu tiên của họ trên đất Mỹ vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.

Sau đó qua nhiều thời kỳ , các hội thánh ăn ké vào dần dần biến ngày hội thành ngày lễ “ tạ ơn chúa đã ban thức ăn ” và oái oăm thay họ đã quên mất ý nghĩa tạ ơn người da đỏ . Đạo lý Kitô có dạy vô ơn bạc nghĩa như vậy hay không ?

3)- Về Cựu ước và Tân ước : Đúng như Hoa Hồng khuyến cáo , không nên đọc Cựu ước vì đó là sách hoang đường , đầy rẫy dâm dật loạn luân , giết chóc man rợ hàng loạt . Tiếng là ƯỚC tức giao ước cam kết nhưng chính chúa nhân từ cứ quên lời hứa , thí dụ :

Sau vụ Đại hồng thuỷ , chúa nhân từ ăn năn vì sát sanh quá nhiều nên chúa hứa làm lành : STK 9:11 “ Vậy, ta lập giao-ước cùng các ngươi, và các loài xác-thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt huỷ-diệt, và chẳng có nước lụt để huỷ-hoại đất nữa ” . Để khỏi quên giao ước , chúa nhân từ bèn đặt cái mống ( cầu vòng , rainbow ) lên mây để nhắc nhớ ( STK 9: 12-17 ) . Cái mống vẫn thường thấy nhưng bão lụt sóng thần vẫn xãy ra giết hại tàn phá khôn cùng , bất kể là con chiên hay không . Thật là sách Cựu ước không đáng đọc nhưng sao giáo hội , hội thánh cứ in phổ biến hoài !

Còn Tân ước ít dữ dằn hơn nhưng cũng đầy rẫy hù dọa , bất hiếu bất nhân nhất là kỳ thị cục bộ cực kỳ . Rõ ràng kinh thánh Kitô do người Do Thái viết để cho người Do Thái đọc , thế sao người Việt da vàng như Hoa Hồng cứ nhào vô ăn ké ? Phải chăng Hoa Hồng cùng bao Kitô hữu khác “BỊ” theo đạo khi còn đỏ hỏn chứ có được phép dùng trí khôn để chọn lựa tôn giáo bao giờ đâu !

4)- Về tôn giáo và khoa học : Einstein không lú lẫn đâu ! Bằng cớ là chính Hoa Hồng cũng dẫn lời của Einstein . Khoa học đâu có mục đích chống tôn giáo nhưng chính khoa học đã mở mắt dần dần cho Kitô giáo. Giáo Hoàng phải minh oan cho Gallileo , phải thôi chống thuyết Darwin , phải thừa nhận thuyết Big Bang , phải xưng thú 7 núi tội lỗi của công giáo ...Nếu khoa học cứ dậm chân như thời Moi-sê viết Sáng Thế Ký thì làm gì có những chuyện đó.

Hoa Hồng viết : “ mức độ chính xác tuyệt đối nơi các chuyển động của các hành tinh trong vũ trụ ” để ca ngợi sự huyền diệu khéo tay của chúa trời , sự thật không phải như vậy , bằng cớ :

- Moi-sê chưa có khái niệm vũ trụ là gì nên mới viết STK 1:17 “ Đức chúa Trời đặt các vì (sao) đó trong khoảng không trên trời , đặng soi sáng đất ” . Moi-sê không biết sự hiện hữu của tỷ tỷ thiên thể khác , mắt thuờng không thấy được , huống chi “ đặng soi sáng đất ”. Không biết chúa tạo ra tỷ tỷ thiên thể đó để làm gì hay là chính chúa, vì chưa có khoa học , nên cũng chẳng biết gì đến chúng ?

- Mỗi ngày có hàng ngàn thiên thạch đi lạc vào trái đất ( sao băng ) , kính thiên văn hiện đại đã thấy các vụ va chạm thôn tính giữa các thiên thể ( sớm muộn gì cũng sẽ đến phiên trái đất ) . Vậy cái trật tự chính xác của chúa không hề có , chuyện chúa sáng thế chỉ là chuyện bịa.

Mà thôi , đã nói cựu ước không đáng đọc rồi mà !
Reply Tán thành Không tán thành
22
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
17/09/2010 08:46:49
Trong buổi bình minh của nhân loại, đứng trước các hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, bão, thuỷ triều...con người thời đó không hiểu các hiện tượng đó từ đâu tới, và họ đã đặt ra câu hỏi: Ai đã làm ra mưa, ai đã tạo ra gió, ai đã tạo ra ánh sáng mặt trời?...Và để giải đáp các thắc mắc đó...các vị Thần đã ra đời, gió thì do thần gió tạo, mưa thì do thần mưa làm ra, ánh sáng thì do thần mặt trời tạo...Từ đó các bộ tộc trên khắp trái đất thờ phụng các vị thần đó, thường xuyên tổ chức các buổi tế lễ để xưng tụng các thần..
Còn ngày nay trước những hiện tượng thiên nhiên : mưa, gió, sấm, ánh sáng, thuỷ triều...khoa học đã giải thích được căn nguyên được các hiện tượng đó. Mưa là do nước bốc hơi gặp lạnh ngưng tụ thành mây-Anh sáng mặt trời là do phản ứng nhiệt hạch của nguyên tử Hêli-Thuỷ triều là do sức hút của mặt trăng...Và một vài hiện tượng con người có thể tạo ra được. Như vậy các hiện tượng đó là chẳng có vị thần nào tạo ra, mà các hiện tượng đó tự làm nhân, trợ duyên cho nhau mà phát sinh.
Từ những hiện tượng tự nhiên như: mưa, gió, sấm, chớp, thuỷ triều mà khoa học đã tìm được căn nguyên của chúng là chúng tự làm nhân, trợ duyên cho nhau mà sinh khởi chứ không có vị thần nào tạo ra cả. Và như vậy ta có thể suy rộng ra cho toàn Vũ Trụ là các hiện tượng phát sinh là do chúng tự làm nhân, trợ duyên cho nhau mà sinh khởi chứ chẳng có vị thần nào làm ra chúng cả. Sự suy luận đó có thể ví như phương pháp quy nạp trong toán học-nếu ta chứng minh được một chuỗi số, một tổ hợp đúng đến phần tử thứ K thì ta suy ra K+1, K+2, K=3....N. Nhưng có người thắc mắc là:" Nếu bảo là không có thần thì ông hãy chỉ cho tôi thấy ra trong Vũ Trụ này không có". Điều đó cũng chẳng khác nào bảo một người nào đó hãy làm một bài toán quy nạp (ở trên) khi cho N=số vô lượng. Như vậy người đặt ra câu hỏi tự mâu thuẫn, phi lôgic mà lại đi tìm đáp số.
Về Vũ Trụ: Trái đất của chúng ta nằm trong hệ mặt trời mà ta gọi là Thái Dương Hệ. Thái Dương Hệ lại nằm trong dải Thiên hà hình xoắn ốc mà ta gọi là dải Ngân Hà. Và khoa học ngày nay đã quan sát thấy: trong dải Ngân Hà có hàng tỷ ngôi sao giống như Mặt Trời (thậm chí còn lớn hơn). Chưa hết khoa học đã quan sát được trong Vũ Trụ còn có cả trăm triệu dải Thiên Hà. Đó mới là con số mà khoa học mới quan sát được và chắc rằng sẽ còn có hàng tỷ tỷ tỷ....dải thiên hà nữa . Bây giờ ta hãy tạm phân tích "nội hàm" từ "sáng tạo", giả sử có vị thần nào đó sáng tạo ra một trăm tỷ Thiên Hà, quý vị thấy uy lực của vị thần đó như thế nào? hẳn là quá khủng khiếp. Ví dụ thần đó muốn huỷ Trái Đất chắc chỉ cần "búng" một cái thì Trái đất vỡ ra như tương. Nhưng chưa hết trăm tỷ Thiên Hà có lẽ còn quá it, có thể còn vô lượng. Vậy "nội hàm "từ "sáng tạo" phải hiểu thế nào khi theo sau nó là "vô lượng"-"sáng tạo ra cái vô lượng"
Nhưng có người đặt ra vấn đề: Nếu không có một vị thần nào sắp xếp, tạo dựng thì tại sao môi trường sống của loài người lại "hợp lý" như vậy. Anh sáng Mặt Trời cho cây cối tổng hợp chất hữu cơ, tầng ôzôn chắn các tia tử ngoại, sao Mộc hút các thiên thạch không cho đâm vào Trái đất...Nhưng xét kỹ thì thấy hợp lý hay vô lý nó cũng chỉ có nghĩa với "nghiệp người", còn nếu xét rộng ra cho Vũ Trụ thì nó trống rỗng và vô nghĩa. Nhà Phật gọi đó là sai lầm của biệt nghiệp và sai lầm của cộng nghiệp. Ta thấy loài giun bò lên khỏi mặt đất gặp ánh nắng Mặt Trời, giả sử nhiệt độ ngoài trời lúc đó là 35 độ. Điều gì xảy ra với chúng? Một số lăn ra chết, một số tìm được khe nứt và chui được xuống đất. Từ đó loài của chúng truyền cho nhau thông tin:"Hãy tránh xa ngọn lửa khủng khiếp ấy ra! nếu bạn không muốn chết". Chúng không ngờ rằng trong cái "ngon lửa khủng khiếp đó" lại là môi trường sống khá lý tưởng của một loài "sinh vật" khác. Hay loái cá: nếu nhảy lên bờ vượt quá thời gian cho phép thì chết, vậy nước mới là hợp lý với chúng. Nếu xét rộng ra trong Vũ Trụ này biết đâu chẳng có hành tinh có dạng sống khác. Chẳng hạn như: hành tinh đó không có cây cối như Trái Đất, loài sống trên đó lấy cái ăn từ các mỏ (giống như một thứ đất có thể ăn được ở quả đât của chúng ta), và cũng chỉ có cơ quan tiêu hoá của họ mới tương thích được. Và như vậy với họ môi trường sống đó mới là "hợp lý", còn nếu ta đặt chân lên hành tinh của họ thì không thể tồn tại. ngựơc lại họ cũng không thể tiêu nổi ngũ cốc của chúng ta. Hay trường hợp nũa: ta lấy một nắm thóc tung ra địa hình-chỗ này là đất ẩm, chỗ kia là sân gạch, chỗ khác là hồ nước. Điều gì xảy ra? hạt nào rơi xuống nước thì chẳng thể nảy mầm, hạt nào rơi vào sân gạch cũng chẳng thể mọc mầm, hạt nào dính trên cành cây cũng chẳng thể mọc mầm. Chỉ có hạt nào rơi vào chỗ đất ẩm mới nảy mầm. Còn nếu ta lấy hạt của họ cây tầm gửi thì ngay cả rơi vào cành cây chúng vẫn có thể lên mầm. Do vậy, nếu như trên Trái Đất có hành triệu triệu sinh vật thì cũng có triệu triệu cách sống, dạng sống khác nhau, và môi trường sống hợp lý với loài này nhưng lại vô lý với loài khác. Và biết đâu trong hàng tỷ tỷ Thiên Hà trong Vũ Trụ cũng có hàng tỷ sinh vật với nhiều dạng sống khác nhau và cũng hợp lý với loài này nhưng lại vô lý với loài kia.
avatar
Quang Đạt 17/09/2010 15:00:42
Chào Phàm Phu ,

Qua văn phong của bạn Phàm Phu thì tôi nghĩ bạn không thuộc một tôn giáo tín ngưỡng nào . Cho dù có Thượng Đế hay không thì điều đó không thành vấn đề trong việc thảo luận ở chủ đề này . Tôi không cực đoan như bạn trong việc áp đặt tin hay không tin về Thượng Đế . Thật vô lý khi bạn cho rằng không ai tin Thượng Đế thì bị Ngài trừng phạt ??? cũng giống như ai theo Phật mà không tin Phật là phỉ báng Phật vậy ? Tôn giáo là sự tự nguyện , tự do của mỗi người trong đời sống tâm linh của mình .

Bạn Phàm Phu nói về giáo lý đạo Phật nhưng thật ra bạn không phải là Phật tử , nhất là khi bạn nói về Thuyết tiến hoá của Darwin và đạo Phật. Không thể lấy thuyết tiến hóa của khoa học duy vật mà so sánh với giáo lý đạo Phật về tâm linh được cho dù có đồng hành hay không . So sánh như vậy rất khập khểnh và ấu trĩ vể nhận thức . Các lập luận của bạn không logic thuyết phục .

Theo Đức Phật thì kiến thức thế gian không bao giờ giúp con người sống một đời đạo hạnh để đạt an lạc và giải thoát. Kiến thức thế gian chỉ hữu ích cho cứu cánh ngoài đời và không tiến gần đến việc giải quyết những vấn đề tinh thần , tâm linh . Đạo Phật vẫn đặt trọng tâm là làm sao đạt được sự giải thoát qua sự trau dồi trí tuệ và rèn luyện tinh thần.

Bạn Phàm Phu nói rằng : “Là Phật tử không ai chấp nhận “ Loài vượn hoặc loài vượn người tiến hóa thành loài người ” . Phật đã dạy “ Chúng sanh 3 cỏi 6 đường ” trong đó Người và Súc Sanh , sắc tướng tâm thức khác nhau , không thể lẫn lộn”.

_ Theo giáo lý đạo Phật không thừa nhận có một linh hồn vĩnh cửu, bất diệt. Vì lẽ, như giáo lý Vô ngã ( Kinh Vô Ngã Tướng ) đề cập, không hề có một bản ngã hay cái ngã linh hồn nào trường tồn bất diệt, mà chỉ có dòng nghiệp thức của các chúng hữu tình luôn trôi chảy, như sự trôi chảy của một dòng sông. Do không có một cái ngã linh hồn bất tử, nên con vật có thể sau khi phát triển thiện nghiệp qua nhiều đời chuyển sinh sang con người; hoặc là con người chuyển sinh thành một vị Bồ Tát hay một vị Phật. Dòng nghiệp thức chính là sự vận hành liên tục từ đời này qua đời khác trong cõi luân hồi mà nền tảng của sự vận hành này chính là do Tâm Thức của mỗi chúng sinh. Do đó, đạo Phật không thừa nhận có một linh hồn bất tử nhưng thừa chận có sự chuyển biến của tâm thức trong suốt hành trình sinh và tái sinh.
Như vậy sắc tướng , Tâm Thức chỉ là cái tạm thời giả tướng thay đổi theo nghiệp quả chứ không cố định như bạn Phàm Phu nói là không thể lẩn lộn.

Bạn Phàm Phu nói : « Phật cũng dạy không có thượng đế nào kiến tạo vũ trụ , không có thần thánh nào chưỡng quản hay ban phước giáng họa cho loài người cả .”

_ Điều này thì bất cứ Phật tử nào trên thế giới cũng biết cả bạn Phàm Phu không phải nói , vì nói ra chỉ cho thấy bạn không thuộc tín ngưỡng nào mà chỉ dụng ý là cá nhân bạn muốn đả phá Thần quyền mà thôi .

Trước hết cần thấy là Phật giáo và các tôn giáo khác giống nhau và khác nhau ở điểm nào?

Về giống nhau thì Phật giáo và các tôn giáo khác đều khuyến khích con người làm các việc thiện lành, tránh xa những điều xấu ác, xây dựng đời sống đạo đức, biết yêu thương và phát triển các giá trị nhân phẩm cho chính tự thân và tha nhân, cho gia đình và xã hội.
Phật giáo khác các tôn giáo khác nhau ở chỗ: Theo thế giới quan Phật giáo không thừa nhận có một Thượng Đế sáng tạo, ngự trị và chi phối đời sống của con người. Khổ đau hay hạnh phúc là do mỗi con người tự tác thành cộng với sự chi phối của dòng nghiệp lực cũng do chính mỗi con người tạo ra.

Đức Phật dạy: “Con người trở nên cao qúi hay đê hèn không phải do nguồn gốc sinh thành từ gia đình hay đẳng cấp xã hội mà trái lại do chính hành động của tự thân làm cho con người trở nên cao qúi hay đê hèn.”

Thêm vào đó, điểm khác biệt căn bản trong hệ thống triết lý của Phật giáo và các tôn giáo khác là: Phật giáo cho rằng tất cả Pháp (những gì có mặt trên cuộc đời, bao gồm cả tâm và vật) trên thế gian này đều là do duyên sinh, có điều kiện; và do đó, tất cả pháp là vô ngã, không hề có một thực thể nào bất biến, vĩnh hằng, cũng không có ai làm chủ đời sống của con người, ngoài trừ con người cá thể. Điều quan trọng nổi bật trong giáo lý của đạo Phật là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, và đều có khả năng thành Phật. Sự giác ngộ, giải thoát tối thượng là chân lý bình đẳng đối với tất cả chúng hữu tình mà không phải là một ân sủng đặc biệt dành cho riêng ai. Đây là quan điểm bình đẳng vĩ đại, khó có thể tìm thấy ở những tôn giáo Thần quyền khác.
QĐ xin chấm dứt thảo luận ở đây . Chúc các bạn hoan hỷ an lạc .

Quang Đạt
Reply Tán thành Không tán thành
-10
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Phàm Phu 18/09/2010 04:02:33
Quang Đạt nói trước quên sau , lý luận lùn cùn , lại cứ quen tật suy đoán quy chụp .

Phàm Phu tôi trên diễn đàn này chưa bao giờ thừa nhận là Phật tử . Điều đó không đáng cho ai quan tâm , cái quan trọng là những gì tôi post lên diễn đàn . Quang Đạt dù có “ bói qua văn phong ” tôi là Phật tử hay không là Phật tử , tôi không màng đến vì cái trò “ bói mò ” đó vô tích sự đối với tôi .

Quang Đạt đã từng viết trên diễn đàn này : “ tôi theo đạo Phật ” . Vậy Quang Đạt thừa nhận là Phật tử , nhưng tại sao Quang Đạt lại :
“ Lạy Chúa , con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao ”
( xin lỗi , tôi quên tên tác giả )

Mâu thuẫn quá , Quang Đạt có thấy chưa ? Phật tử gì mà không nghe theo lời Phật dạy như thế ? Vậy ắt hẳn là đã mạo nhận Phật tử rồi ! Quang Đạt nên nói lại cho rõ đi ! Có mắc cở gì đâu .

Tôi đã viết : - Nhóm tin nói rằng “...ai không tin theo là có tội sẽ bị Chúa trừng phạt .”. Vậy thì ai nói hở Quang Đạt ? Con nít lớp 2 cũng hiểu là không phải Phàm Phu nói , chỉ có Quang Đạt hiểu ngược lại . Vạn phục trí tuệ ! Giải thưởng “ vô lý ” đành trả lại cho Quang Đạt tự thọ nhận.

Quang Đạt đã viết ( hay trích dẫn ) thuyết tiến hoá Darwin và giáo lý đạo Phật , liền kề nhau , trong cùng paragraph , ( xin xem bình luận trước của Quang Đạt ) và lần này viết đến 5 paragraphes cùng chủ đề . Vậy mà nỡ lòng nào Quang Đạt phán “ So sánh như vậy rất khập khểnh và ấu trĩ vể nhận thức ” . Sao Quang Đạt tự phỉ báng tồi tệ như vậy ? Mà so sánh để làm sáng tỏ , có gì phải kiêng kỵ ?

Quang Đạt đọc mà không động não. Tôi đã viết : Phật đã dạy “ Chúng sanh 3 cỏi 6 đường ” trong đó Người và Súc Sanh , sắc tướng tâm thức khác nhau , không thể lẫn lộn . Quang Đạt hiểu Người , Súc Sanh ( viết hoa ) theo nghĩa gì vậy ? Nếu hiểu sai thì Quang Đạt nên tự chỉnh lại theo nghĩa đúng của ngữ cảnh là NHÂN ĐẠO và SÚC SANH ĐẠO ( 2 trong 6 đường ) . Hai cảnh giới này làm sao mà lẫn lộn cho được, nên thuyết Darwin nói một loài vật ( trong súc sanh đạo ) là tổ tiên của loài người ( nhân đạo ) là trái với Phật lý .

Quan điểm tôi muốn trình bày là như vậy . Ai đọc cũng sẽ hiểu , rất tiếc là trừ Quang Đạt . Còn Quang Đạt viết “ con vật có thể sau khi phát triển thiện nghiệp qua nhiều đời chuyển sinh sang con người ” là Quang Đạt nói gần đúng theo vấn đề Phật pháp khác : một chúng sanh ( cá thể ) ngụp lặn trong luân hồi thì thần thức của nó có thể tái sanh lên xuống vào một cảnh giới khác trong lục đạo . Việc này không đồng nghĩa đạo Phật công nhận thuyết một loài vật ( quần thể ) nào đó có thể tiến hoá lên ( tiến hóa tâm sinh lý theo Darwin , rồi đẻ ra con cháu ) thành loài người .

Quang Đạt viết “ Như vậy sắc tướng , Tâm Thức chỉ là cái tạm thời giả tướng thay đổi theo nghiệp quả chứ không cố định như bạn Phàm Phu nói là không thể lẩn lộn.” Tôi chưa từng nói sắc tướng tâm thức của chúng sanh cố định , tôi chỉ nói tuỳ theo cảnh giới mà chúng khác nhau , khác nhau nghĩa nôm na là “ bình mới rượu mới ” không lẫn lộn , không mang theo “ bình củ rượu củ ” được . Quang Đạt không phân biệt được giữa người và thú hay sao ? Sắc tướng và tâm thức khác nhau mà có thể lẫn lộn à ?

Quang Đạt viết “ cá nhân bạn muốn đả phá Thần quyền mà thôi ” . Tôi thừa nhận tôi đả phá thần quyền , thì sao nào ? Chẳng xấu chẳng thẹn gì cả ! Quang Đạt bảo vệ thần quyền thì cũng vậy thôi , chỉ có điều Quang Đạt chưa thừa nhận . Tôi dùng lời Phật dạy để củng cố quan điểm thì có gì sai đâu , Quang Đạt nếu có dùng lời chúa phán thì cũng vậy thôi .

Phần cuối của bình luận bên trên của Quang Đạt , không biết theo topic gì , ai biết chỉ giáo giùm .
Reply Tán thành Không tán thành
19
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Phương Nam 18/09/2010 10:40:14
Theo dõi Quang Đạt trên diễn đàn này trước giờ tôi có cảm giác anh ta rất cực nhọc lần mò vài ba tư tưởng Phật học chỉ để nhằm đối phó với các phản luận do chinh các con chiên nhào dô nói càn,trong đó có chính anh ta !
Bạn Phàm Phu còn mất công trã lời anh ta chứ phần lớn những bạn khác rất ngán ngẫm và dư biết cách nói năng,trã lời của một con chiên .Quang Đạt nên mừng vì còn có một Phàm Phu " đoái hoài".
Vì đọc Phật học chỉ để đối phó và "khè" những ai yếu bóng vía,nên những lối trình bày của anh ta chấp vá,râu ông nọ cắm cằm bà kia là chuyện đương nhiên.Làm sao mà mở thông trí tuệ cho đượcPhật pháp không phải dùng để làm những chuyện như vậy Quang Đạt ạ! Đó là lý do tại sao Quang Đạt bị Phàm Phu "dí" đến toát mồ hôi hột !
avatar
Quang Nha 21/09/2010 00:45:54
Không tao, hóa không trời, không phật...ma vẫn mải trường tồn, cai gi là đúng cái gi là sai... Không chổ để chấp... Kg có ta trên đời thì Ai đang nói. Thế nào là đúng thế nào la sai...Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Reply Tán thành Không tán thành
-6
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Thanh Huyen 21/09/2010 02:10:37
Tất cả chúng ta đang hiện hữu,vì là chưa giải thoát nên mọi việc vẫn cứ phải "chấp" vào một điểm tựa nào đó.Chỉ có điều cái điểm tựa đó nó dẫn chúng ta đi đâu,và vì sao phải chấp vào nó ,đó mới là tri kiến Phật.
Khi tham gia vào diễn đàn của người Phật tử chúng ta ,việc mổ xẻ nhiều khía cạnh là cần thiết,từ đó bổ sung cho tri kiến của mình thêm nhiều điều lợi lạc trên bước đường học Phật .
Còn như "giải thoát non" hay như tự mình thấy mình "trống không" như kiểu Quang Nha ở trên thì quả thật...đáng nể thật !

Còn biết "không có ta trên đời.."có nghĩa là còn cái chấp tổ bà chảng hơn ai hết .
Đáng nể thật đấy !
avatar
baos tam 02/10/2010 07:51:06
phật thuyết về vủ tru như sau
Thế giới sự vật không ngoài 4 đại gồm địa thủy hỏa phong. pháp giới duyên khởi có nhửng hiện tượng vô lượng vô biên nhưng nhận biết là phong là địa là hỏa là thủy đều do tâm thức
nhu7phong đại là gió tượng trưng cho sức lay động vô hình.vô hinh là hư không vốn không có tri giác;không hề biết thế nào là lay động;thế nào là không lay động; chỉ vì cái tâm phân biệt theo nghiệp đối đải với hiện tượng nào đóphát minh ra như thế là lay động nên mới có phong đại làm cái động lực nắm giử thế giới
Địa đại củng như thứ vô tri vô giac khong tự biết mình vô hình hay hửu hình; là lỏng hay là cứng; chỉ vì giác tính phân biệt theo nghiệp phát minh ra tính cừng lập ra ngăn ngại , nên mới có địa đại như đất đá cùng khắp thế giới.theo tứ đại chủng tính thì tính ngăn ngại choán một phần không gian gọi là chủng tính của địa đại ,như thế thi chẳng những đất là địa đại.,mà tất cả cái gì choán một phần không gian như các thứ cực vi trong nước trên hư không củng là địa đại
Phong đại lay động ,địa đại ngăn ngại , chà xát lẩn nhau, nên mới sinh ra hỏa đại, hỏa đại không phải chỉ là lửa, mà tất cả các sự nóng lạnh đều thuộc về hỏa đại. Đếnmột chừng mực nào ,hỏa đại có thể làm cho sự vật thay đổitừ hiện tượng nầy sang hiện tượng khác. do đónên chủng tính của hỏa đại là tính biến hóa
sức nóng lên cao những thứ trước kia là cứng lại chẩy ra nước, lưu hành từ chổ nầy sang chổ khác không ở yên một chổ , đó là thủy đại.Nhưng trái với cái tướng nước của thủy đại có chổ nhất định cái chủng tính của thủy đại là tính lưu hành nơi nào củng có do đó goi thủy đại cùng khắp pháp giới
Bon61mo1n đại ảnh hưởng lẫn nhau giữa hư không vô hình tạo thành hình tướng cửa thế giới . Lửa thì thường bốc lên , nước thì thường sa xuống , giữa hai bên giao tiếp với nhau , lập thành có chất cứng , tức la địa đại , tạo ra hình dáng của thế giới .
Chỗ sâu nước dồn xuống , thì gọi là bể ; nhưng nơi đất nổi lên, thì gọi là gò ; nhưng nơi bể lớn , hơi nóng vẫn thường bốc lên , trên gò nổi , sông ngòi vẫn thường chảy xuống . Chỗ nào thấ của hỏa đai bốc lên mạnh hơn thế của thủy đại , thì đất nổi lên thành núi cao , nhưng trong lúc ấy , lấy hai viên đá trên trên núi đập vào với nhau , thì vẫn phát ra tia lửa , còn nếu nấu các thứ đá kia , thì nó vẫn chả thành nước . Chỗ nào thế địa đại kém thế thủy đại ,đất hóa ra mềm , thì có cay mọc lên ; song các thứ cây khi bị đốt, thì thành ra đất, khi vắt ra , thì vẫn có nước .
Xét như vậy thì biết từ đại cùng khắp mọi nơi , tùy theo nhân duyên mà phát sinh hững hiện tượng khác nhau , nhưng đâu đâu cũng đều có chủng tính từ đại
avatar
Hoa Hồng 02/10/2010 08:48:13
Anh Phàm Phu ơi ,

Hoa Hồng là Kitô giáo nè , nói chuyện với anh Phàm Phu nhé.
Giê su ma Chúa tôi !

Trước hết anh Phàm Phu cần phải là Phật tử chứ nếu chỉ có tín ngưỡng thờ cúng ông bà dân gian mà đả kích Thần quyền thì lời nói gió bay không thuyết phục đâu hén . Không ai có đầu óc siêu việt thế mấy mà có thể thảo luận với người mù tín ngưỡng được. Anh Phàm Phu nói là : Khoa học mở mắt cho tôn giáo , chuyện Chúa sáng thế chỉ là chuyện bịa đặt . Đó là anh dùng cái trí phàm phu của anh đó thôi.

Thật ra theo Ki tô giáo thì khoa học không bao giờ chạm tới được sự huyền diệu của Đức Chúa Trời được các tiên tri mặc khải qua Kinh Thánh .

Trước hết anh Phàm Phu cần biết Kinh thánh là cuốn sách có số lượng in nhiều nhất và bán chạy nhất từ trước tới nay. Theo ước tính đã có trên 3 tỷ cuốn Kinh thánh đã được in ra. Hiện nay, có khoảng 100 triệu cuốn Kinh thánh được bán ra mỗi năm, và con số này mỗi năm càng gia tăng.
Với số lượng in nhiều nhất như thế, số người đọc Kinh thánh cũng đứng hàng đầu. Nếu ước tính con số tối thiểu cứ mỗi cuốn sách được in ra có ít nhất 2 ngưới đọc, thì trên thế giới đã có trên 6 tỷ người đọc Kinh thánh. Kinh thánh còn là cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất trên thế giới.

Đây nè để HH nói vài nét về tôn giáo và khoa học là để các độc giả khắp nơi gần xa thấy sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời qua lời của Ngài . Chứ anh Phàm Phu thì vô phương mù tịt không hiểu nỗi .

KINH THÁNH VÀ KHOA HỌC
Người ta nói Kinh Thánh chỉ dành cho những người thiếu học thức, đầy dẫy bạo lực , dâm ô , phản khoa học v.v… nhưng ít người biết đến chuyện trên mỗi con tàu vũ trụ đều có một cuốn Kinh Thánh thu nhỏ trên phim tiểu li (micro film) cho các nhà du hành vũ trụ đọc say mê suy tư. Dòng đầu tiên của Kinh thánh có ghi: "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất". Rất nhiều nhà du hành vũ trụ trở nên tin Jesus sau chuyến bay ngắn ngủi bên ngoài bầu khí quyển của Trái Đất. John Glen là người có vinh dự ngồi trên con tàu vũ trụ hai lần, lần thứ nhất lúc 36 tuổi và lần thứ hai lúc 70 tuổi, tâm sự: "Tôi đã làm hòa với Đức Chúa Trời rồi". Khi ra ngoài vũ trụ rồi ông mới thấy sự hiểu biết khám phá của khoa học , kho tàng kiến thức nhân loại như hạt cát vậy.
Kinh Thánh là quyển bách khoa toàn thư chứa đựng tất cả kiến thức khoa học, lịch sử, văn chương, luật pháp, tín ngưỡng v.v.... Kinh Thánh là văn kiện của Đức Chúa Trời nói về nan đề lớn nhất của con người là tội lỗi và chương trình cứu chuộc con người qua sự giáng trần, hy sinh và sống lại của Chúa Jesus . Chúa Jesus mang lại cho con người mối hòa thuận và sự sống đời đời. Trước khi Chúa Jesus giáng trần, Đức Chúa Trời làm việc qua dân tộc Do Thái. Sau khi Chúa Jesus rời trần thế, Đức Chúa Trời tiếp tục công tác qua hội thánh. Tất cả các nhân vật, sự kiện lịch sử, tiên tri được ghi trong Kinh Thánh với chỉ một mục đích trình bày chân lý đó mà thôi. Hơn nữa, Kinh Thánh phải được viết một cách mà người thường có thể đọc và hiểu, dù họ sống cách đây 4000 năm hay sau này 40 thế kỷ. Vậy nếu muốn tìm kiếm, chứng minh một định luật khoa học, chắc Kinh Thánh phải là quyển đầu tiên để chúng ta nghiên cứu, tìm tòi.
Tuy nhiên, tất cả các khám phá của con người có được đều do lý trí, trí tuệ và sức sáng tạo mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người. Trong nhiều trường hợp, Ngài "mở óc", "làm sáng mắt" cho một số nhà khoa học để những phát minh của họ đem lại phước hạnh cho nhân loại. Ví dụ Newton khi quan sát trái táo rơi, đột nhiên phát hiện ra một trong những định luật quan trọng nhất của vũ trụ, đó là định luật vạn vật hấp dẫn.
Mặc dù không chứa đựng nhiều định luật khoa học, những điều được ghi lại giữa các trang của Kinh Thánh mà nhân loại mù tịt cho đến vài thế kỷ gần đây sẽ làm chúng ta hết sức ngạc nhiên. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu một vài thí dụ.
Hình học :
Khi muốn tính chu vi đường tròn, người ta làm cách nào? Trước hết phải đo đường kính rồi nhân nó với số Pi (3,14). Số Pi là một đại lượng mới được biết tới trong thế kỷ mười chín, hai mươi, thế mà Vua Sa-lô-môn (khoảng 900 năm trước Công Nguyên) đã biết cách đo chu vi một cách hết sức khoa học. Số Pi của ông được các nhà nghiên cứu Kinh Thánh tìm ra trong câu 23 chương 7 sách Các Vua thứ thất là 3,14150943 so với số Pi chúng ta sử dụng là 3.1415926 ( sự sai trật là 0.0000 832 hay 0.00026 %). Vua Sa-lô-môn được Kinh thánh cho biết là người thông minh nhất trên trần gian. Sự thông minh của ông là món quà mà Đức Chúa Trời ban cho khi ông cầu xin Ngài sự khôn ngoan để cai trị dân tộc mình đặng thái bình . .
Thiên văn học:
Về thiên văn học, cho đến khi ống kính viễn vọng ra đời, người ta chỉ biết được khoảng 1000 ngôi sao. Thế mà tiên tri Giê-rê-mi (khoảng 550 năm trước Công nguyên) viết trong Kinh Thánh rằng: "Người ta không thể đếm các cơ binh (vì sao) trên trời được" (sách Giê-rê-mi chương 33 câu 22). Ngày nay nhờ kính thiên văn viễn thông đặt ngoài bầu khí quyển người ta đã quan sát được 400 tỷ ngôi sao trong giải Ngân Hà và ngoài giải Ngân Hà của chúng ta ra còn có hàng trăm tỷ giải Ngân hà khác nữa. Mỗi một ngôi sao mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường có thể là một ngân hà xa xôi hàng tỷ năm ánh sáng. Đức Chúa Trời chẳng sáng tạo ra chúng một cách ào ào, vô tội vạ, nhưng Ngài còn "đếm số các vì sao và gọi từng tên hết thảy các vị ấy" (Sách Thi-thiên chương 147 câu 4). Điều ấy thật quả là khó tin cho trí óc con người , nhưng đã là Đức Chúa Trời, không có gì chi quá khó đối với Ngài.
Tiên tri A-mốt viết rằng: "Hãy tìm Đấng đã dựng nên Sao Rua và Sao Cày." Trong tiếng Do-thái là thứ tiếng được dùng để sao chép nguyên bản Kinh Thánh, câu này được đọc như sau: "Hãy tìm Đấng đã dựng nên Bảy Ngôi Sao và sao Cày". Bảy ngôi sao chính là chùm Sao Rua (Pleades). Bằng mắt thường người ta chỉ thấy được sáu ngôi sao. Chính vì vậy mà các nhà dịch Kinh Thánh cảm thấy rất khó dịch câu này. Mãi đến khi các nhà thiên văn có được kính viễn vọng tối tân, họ mới phát hiện ra ngôi sao thứ bảy. Vậy làm sao một người chăn cừu sống 25 thế kỷ trước đây có thể nói về Đấng làm ra bảy ngôi sao một cách mạnh bạo như vậy? Hay là Đức Chúa Trời đã mặc khải rồi được ông chép vào Kinh thánh.
Trong khi người đương thời tin rằng Trái Đất đứng trên lưng bốn con voi, bốn con voi ấy lại đứng trên lưng một con rùa. Họ còn tin rằng Trái Đất phẳng như cái đĩa và các thủy thủ chẳng dám đi xa vì sợ rơi ra khỏi mép đĩa. Vậy Kinh Thánh nói gì về vị trí và hình dạng của Trái Đất? Ông Gióp, một tôi tớ của Đức Chúa Trời sống cách đây 4000 năm đã tuyên bố: "Chúa treo Trái Đất trong khoảng không không." (sách Gióp, chương 26 câu 7). 700 năm trưóc CN tiên tri Ê-sai đã mô tả về Đức Chúa Trời: "Ấy là Ngài ngự trên vòng Trái đất này" (sách Ê-sai chương 40 câu 22) .Trong nguyên bản của tiếng Do-thái, chữ vòng (khug) không mang ý nghĩa vòng tròn nhưng mang ý nghiã quả cầu tròn. Kinh Thánh cho biết Trái Đất là một quả cầu tròn treo lơ lửng trong khoảng chân không trong vũ trụ bao la trước khi các nhà thiên văn Âu Châu biết được điều ấy.
Trong sách Thi-thiên, chương 19 câu 6 nói rằng: "Mặt Trời ra từ phương trời này chạy giáp vòng đến phương trời kia." Có người hỏi vặn: "Kinh Thánh nói sai rồi. Bây giờ trẻ con ai cũng biết Mặt Trời đứng yên, còn Trái Đất chuyển động vòng quanh mặt Trời". Vậy xin quan sát cuộc hội thoại giữa hai nhà khoa học trong giờ giải lao bên cạnh ly cà phê. Một người nói "Sáng nay, trên đường đến Viện nghiên cứu tôi thấy cảnh Mặt Trời mọc thật huyền diệu". Người kia hưởng ứng: "Tôi ra khỏi nhà hơi muộn nên không thấy Mặt Trời mọc, tuy nhiên chiều hôm qua tôi đi dạo chơi với vợ tôi và chứng kiến cảnh Mặt Trời lặn hết sức thơ mộng." Giả sử đứng bên cạnh họ, chắc gì tôi dám mở miệng phê bình: "Các ông nói sai rồi. Chính xác ra các ông phải nói là hôm nay khi Trái Đất quay vòng xung quanh Mặt Trời ở thời điểm 5 giờ 15 phút sáng, tôi thấy bầu khí quyển có nhiều màu sắc hồng hồng ...". Nói vậy có lý mà không có tình, người ta đang uống cà phê và nói chuyện đời sống chứ đâu phải đang bảo vệ luận án. Cũng vậy Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ mà người thường có thể hiểu được sự thật tâm linh chứ không phải để tranh luận khoa học.
Tuy nhiên, dù Kinh Thánh nói rằng Mặt Trời chuyển động cũng không sai bởi ngày nay khoa học hiện đại cho biết Mặt trời có chuyển động . Chẳng hạn khi Newton đứng trên Trái Đất ông nói rằng quả táo rơi xuống ông. Giả sử ông đứng trên quả táo, ông sẽ nói Trái Đất rơi xuống quả táo. Vận chuyển là khái niệm tương đối tùy theo người quan sát lấy gì làm cột mốc. Hơn nữa, những ai cứ khăng khăng bắt bẻ Kinh Thánh ở điểm này xin nhớ rằng dù Trái Đất xoay xung quanh Mặt Trời, Mặt Trời cũng không đứng yên mà di chuyển với một vận tốc một triệu cây số một giờ trong giải Ngân Hà và giải Ngân Hà cũng không đứng yên lặng trong vũ trụ bao la. Con người nhỏ bé không thể quan sát được điều đó nhưng Đấng Làm Ra Vũ Trụ chẳng nhầm lẫn ghi Ngài viết Kinh Thánh qua tay các tiên tri.
Lại có người hỏi: "Kinh Thánh cho biết ngày đầu tiên Đức Chúa Trời dựng nên trời, đất và ánh sáng; Ngày thứ hai Ngài chia nước ra trong thể lỏng và thể khí; Ngày thứ ba Ngài tạo ra thế giới thực vật. Mãi đến ngày thứ tư mới có Mặt Trời. Nếu vậy thì ánh sáng trong ngày đầu tiên đến từ đâu? Làm sao cây cỏ có thể quang hợp được khi chưa có Mặt Trời?". Về điều này Kinh Thánh cũng chẳng sai. Vì sao cây cỏ có trước Mặt Trời một ngày chẳng ai biết, nhưng chắc chắn rằng chúng có thể sống trong bóng tối và bóng tối một ngày mà không có gì nguy hại xảy ra. Thực tình, chúng chẳng sống trong bóng tối. Ngay trong ngày đầu tiên Đức Chúa Trời đã tạo ra ánh sáng và đặt ra quy luật luân hồi giữa ánh sáng và bóng tối để có ngày và đêm tuần hoàn. Ánh sáng không nhất thiết phải đến từ Mặt Trời. Ánh sáng là một hình thức của năng lượng. Trong những ngày đầu tiên, ánh sáng có thể được trực tiếp biến hóa từ nguồn năng lượng bao quanh Trái Đất... Trong màn đêm của bầu trời Bắc cực và Nam Cực, người ta quan sát thấy những giải ánh sáng nhiều màu sắc rất đẹp, nhảy múa như có một bàn tay vô hình cầm một giải lụa khổng lồ vẫy lên vẫy xuống. Ánh sáng ấy gọi là vầng cực quang. Chẳng ai biết vầng cực quang hình thành cách nào. Có lẽ bầu khí quyển được i-on hóa bởi từ trường. Người ta biết từ trường của Trái Đất đang giảm dần, vậy trong thời điểm đầu tiên, vầng cực quang có thể mạnh đến nỗi chiếu sáng đến tận miền nhiệt đới. Trong cuộc sống hàng ngày cũng có những ví dụ về ánh sáng không đến từ Mặt Trời, ví dụ ánh sáng trong đèn nê-ông, ánh sáng của con đom đóm hay ánh sáng của các đám mây chứa tĩnh điện.
"Ta là Đức Giê-hô-va (Đấng Tự Hữu Hằng Hữu), không có Đấng nào khác (ngoài Ta). Ấy chính Ta là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên ra sự tối tăm, làm ra sự bình an và gây nên tai vạ thiên nhiên. Chính Ta là Đức Giê-hô-va, đã làm nên những sự đó." (Sách Ê-sai chương 45 câu 7)
Khí tượng học :
Nói về Khí tượng học, chúng ta biết về vòng luân hồi của nước. Nước theo sông chảy ra biển, nước biển bốc hơi và được gió đưa về đất liền, biến thành mưa và rơi xuống. Đây là phát hiện của khoa học thế kỷ 20, thế mà khoảng 900 trước Công nguyên, Sa-lô-môn đã viết bài thơ: "Gió thổi về hướng nam kế sang hướng bắc. Nó xây đi vần lại không ngừng, rồi trở về vòng cũ của nó. Mọi sông đều đổ ra biển song không hề làm đầy biển, nơi mà sông suối ra đi, nơi đó nó lại chảy về lại... (Sách Truyền Đạo, chương 1 câu 6-8). Nếu đã ngạc nhiên về sự hiểu biết của Sa-lô-môn trước đây 30 thế kỷ, chúng ta sẽ càng kính nể hơn sự tỏ tường của Ê-li-hu là người sống cách đây bốn ngàn năm: "Đức Chúa Trời là cực đại, chúng ta không (thể) biết được Ngài. Số năm Ngài thọ không ai đếm được. Vì Ngài thâu hấp các giọt nước. Rồi từ sa mù mà giọt nước ấy biến ra mưa. Có ai hiểu được cách mây giăng ra và (hiểu được) tiếng (sấm sét) lôi đình của nhà trại Ngài... " và "Ngài ém nước trong các áng mây Ngài. Mà các áng mây không bị bứt ra vì nước ấy" (Sách Gióp chương 36 câu 26, 27, chương 26 câu 8),
Có một giáo sư tuyên bố trước sinh viên của mình: "Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay. Cầu nguyện thì đến bao giờ mới có mưa?" Mọi người nghe đều cảm thấy có lý. Tuy nhiên có một sinh viên mạng dạn giơ tay xin hỏi: "Vậy thưa giáo sư, giả sử Đức Chúa Trời không làm ra đám mây và đem đám mây ấy đến những nơi cần có mưa, các nhà khoa học lấy mây ở đâu , các điều kiện trong thiên nhiên để làm mưa nhân tạo?" Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia.
HẢI DƯƠNG HỌC :
Nói về Hải dương học, mãi đến năm 1786, các nhà khoa học mới phát hiện ra các dòng nước biển. Thế mà một ngàn năm trước công nguyên Vua Đa-vít đã viết trong Kinh Thánh: "Chim trời và cá biển cùng phàm vật gì lội đi các lối biển." (sách Thi thiên chương 8 câu 8.) Các lối biển có nghĩa là các đường đi trên biển hay dòng nước biển. Các con chim di dân dựa và dòng nước biển để bay xuống phương nam trú ngụ qua mùa đông. Các con cá hồi sinh ra ở trên núi, sống ở ngoài biển, cứ sau bốn năm nó lại theo dòng nước biển để tìm cửa sông rồi bơi ngược theo dòng sông về núi để đẻ trứng. Điều ấy quả thật là sự kỳ diệu. Ông Gióp, một người sống cách đây 4 ngàn năm còn viết về các nguồn suối nước phun lên từ đáy biển: "Chớ thì ngươi có thấu đến nguồn của biển sao? há ngươi có bước dưới đáy của vực sâu chăng." (Sách Gióp chương 38 câu 16.). Hải dương học thế kỷ hai mươi cũng đã xác nghiệm hiện tượng kỳ lạ này.
Cũng ông Gióp ấy, người chăn cừu tầm thường sống ở vùng Trung Cận Đông sa mạc nóng hừng hực quanh năm, làm sao ông có thể biết được việc có những nơi trên thế giới được băng đá bao phủ một cách vĩnh cửu. Nếu lượng nước đá ở Nam Cực, Bắc Cực và Băng đảo (Greenland) tan ra, mực nước biển trên thế giới sẽ được nâng lên vài chục mét. Ông viết: "Nước đá bởi lòng của ai (mà sinh ra), ai đẻ ra sương móc của trời? Nước đóng lại như đá và ẩn bí, mặt vực sâu trở nên thành cứng..." (sách Gióp chương 38 câu 29-30). Thật chẳng có cách gì giải thích được sự hiểu biết của Gióp ngoài việc Đức Chúa Trời "mở óc" cho ông.
Y học :
Nói về Y học, cho đến hai thế kỷ gần đây người ta không biết đến tầm quan trọng của việc vệ sinh dịch tễ. Khi đi tham quan các lâu đài lộng lẫy của vua chúa, chúng ta hãy để ý thấy xem có mấy buồng tắm? Ít lắm. Người ta không biết tầm quan trọng của việc làm sạch nơi ăn chốn ở, cách ly người bệnh, rửa tay sau khi động vô rác rưởi và xác chết. Người ta không biết đến sự nguy hại khi không uống nước nơi ú đọng hoặc ăn động vật đã chết. Người ta không biết cách trị bệnh phong, bệnh hủi , không biết cách kiêng cữ sinh lý khi phụ nữ có kinh hay sau khi sinh đẻ v.v... Vậy mà tất cả những thực hành trên đã được chép trong Kinh Thánh cách đây 3500 năm. Kinh Thánh chẳng nói gì về vi trùng, vi khuẩn, nhưng nếu ai đọc và làm theo Kinh thánh sẽ được đảm bảo sức khỏe một cách khoa học.
Vật lý :
Về vật lý, chúng ta biết về hai định luật căn bản về năng lượng. Định luật thứ nhất: "Năng lượng không tự nhiên sinh ra không tự nhiên mất đi nó chỉ biến từ dạng này sang dạng khác và tổng số năng lượng không biến đổi". Đây gọi là Định luật bảo toàn năng lượng .
Định luật thứ hai: "năng lượng chuyển từ dạng cấp cao sang dạng cấp thấp” . Định luật này ngày càng trở nên ít hữu dụng hơn.
Hai định luật này cho biết bốn sự thật về thế giới xung quanh chúng ta:
1. Tổng năng lượng đã có ngay từ ban đầu trong trạng thái cao cấp nhất. Từ đó đến nay chẳng có một nguồn năng lượng mới nào được tạo nên theo định luật bảo toàn năng lượng.
2, Thế giới vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy đang ở trong một quá trình thoái hóa dần già đi theo thời gian chứ không tiến hóa.
3. Sự thoái hóa chứng minh cho một sự bắt đầu hoàn hảo theo chu kỳ .
4. Vũ Trụ và Sinh vật đang tồn tại nhờ một nguồn năng lượng từ bên ngoài ( ánh sáng mặt trời , không khí v.v.. ) . Kinh Thánh khẳng định cả bốn sự thực ấy.
"Muôn vật bởi Ngài dựng nên, chẳng có chi đã làm nên mà không bởi Ngài" (Sách Giăng chương 1 câu 2). "Muôn vật được dựng nên trong Ngài, bất luận (tinh tú) trên trời hay (vật thể) dưới đất, vật thấy được (bằng mắt) hay không thấy được (như điện tử, hạt nhân... hoặc thế giới thần linh bí ẩn) đều bởi Ngài mà được dựng nên cả" (sách Cô-lô-sê chương 1 câu 16), Các câu Kinh Thánh trên khẳng định là Đức Chúa Trời đã kết thúc chương trình tạo hóa, kết thúc một cách trọn vẹn, toàn hảo. Từ thời điểm ấy đến nay chẳng dạng năng lượng và vật chất nào mới xuất hiện, hoặc thêm vô. Thỉnh thoảng các nhà khoa học tuyên bố mới phát hiện ra loài vật này hay ngôi sao kia , định luật phát minh này nọ chẳng qua là chúng đã vẫn tồn tại ngoài sự hiểu biết của con người. Không những Ngài dựng nên chúng nhưng còn khiến chúng tồn tại vận động một cách trật tự kỳ diệu : "... Ngài có trước muôn vật và muôn vật đứng vững trong Ngài." (sách Cô-lô-sê chương 1 câu 17).
Trong Kinh Thánh còn có câu khẳng định rằng tất cả các tạo vật sẽ trở nên già cỗi, kể cả vũ trụ: " Thuở xưa Chúa lập nền của Trái Đất, các tầng trời cũng là công việc của tay Chúa. Trời đất sẽ bị hư hại, song Chúa hằng còn. Trời, Đất sẽ cũ mòn như áo sống. Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo và nó sẽ bị biến thay. Song Chúa không hề biến cải, các năm của Chúa không hề cùng." (Sách Thi-thiên chương 102 câu 25-27).
Thế giới trở nên già cỗi, không những vì năng lượng trở nên vô dụng theo thời gian nhưng còn vì tội lỗi của con người. Kinh Thánh cho biết rằng muôn vật đang than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay, mong được giải cứu khỏi sự hư nát (Rô-ma 8:19:22). Tuy nhiên xin chúng ta đừng tuyệt vọng, khi Đức Chúa Trời hoàn tất chương trình cứu chuộc con người, Ngài cũng sẽ sáng tạo ra Trời mới và Đất mới cho chúng ta sinh sống phước hạnh. Chúng ta có thể hỏi, mọi sự sẽ trở nên già nua và mất dần năng lượng hữu dụng, vậy Đức Chúa Trời thì sao? Khi xem một bức tranh cổ của các họa sĩ tôn giáo Âu châu, chúng ta thường thấy Đức Chúa Trời trong hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ, áo dài bay phấp phới trong đám mây. Nhưng đó là sự minh họa giả tưởng . “Chúa chẳng hề biến cải các năm của Chúa không hề cùng...". Chúa là Đấng Tạo Hóa là nguồn năng lượng vô biên, các định luật tự nhiên do Ngài đặt ra cho tạo vật, còn bản thân Ngài là Đấng Sáng Tạo, chẳng có luật nào có thể hạn chế, đóng khung được Ngài. Ví dụ rất đơn giản Chúa Jesus đi bộ trên biển mà không chìm (sách Ma-thi-ơ chương 14 câu 25), quở mắng gió bão làm sóng yên biển lặng (sách Ma-thi-ơ chương 8). Chúa đặt tay trên người cùi hủi mà không bị lây (Sách Ma-thi-ơ chương 8 câu 3). Chúa đứng trong lò lửa nóng gấp bảy lần bình thường mà không cháy (sách Đa-ni-en chương 3 câu 25). Chúa làm cách nào chẳng ai biết, công việc của Chúa không phản khoa học nhưng vượt trên tri thức của loài người. Chúng ta nên nhớ rằng: Kinh Thánh không phải là tập san khoa học nhưng là văn tự ghi lại sự kiện lịch sử với chủ đề tâm linh: Tội lỗi con người và chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Trong dòng đầu tiên của Kinh Thánh có ghi: "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất.". Vậy Đức Chúa Trời lấy vật liệu từ đâu? Muốn chế tạo xe hơi phải có sắt thép, nhựa và cao su... Kinh Thánh chẳng dấu diếm hay nói quanh co việc này, nhưng khẳng định rằng Đức Chúa Trời sáng tạo từ chỗ chẳng có gì cả. Điều ấy thật vô lý, nếu như chúng ta không biết đến khả năng của Ngài. Chắc chúng ta còn nhớ vật chất có thể biến thành năng lượng ( phản ứng nhiệt hạch) và ngược lại năng lượng có thể biến thành vật chất (qua máy gia tốc cực mạnh gọi là cosmotron.Năng lượng là một sự vô hình, vô thể. Trong chân không cũng tồn tại năng lượng. Ban đầu năng lượng đến từ Đức Chúa Trời và nguồn năng lượng này là vô biên và vĩnh cửu. Đức Chúa Trời có thể khiến một phần năng lượng của Ngài trở nên vật chất (trời, đất , nước, ánh sáng). Dù một phần năng lượng đã biến thành vật chất và ánh sáng, Ngài chẳng vì thế mà yếu đi hoặc phải ăn uống tẩm bổ để lấy lại sức. Điều này tương tự như việc một con muỗi đang đậu trên một quả núi tự nhiên bay đi, quả núi ấy chẳng vì thế mà nhẹ đi mấy gam.
Trong thế kỷ hai mươi, người ta biết đến cấu tạo của vật chất, biết đến các phân tử, nguyên tử, điện tử, hạt nhân, hạt Gam-ma, hạt Bê -ta, hạt Phô-tôn là những thứ mắt thường không thể thấy. Có hạt nhỏ đến mức mà dụng cụ quang học điện tử cũng phải chịu bó tay. Người ta biết đến nhờ quan sát hiệu quả của nó trên các hạt khác. Thế mà cách đây hai nghìn năm, tác giả của sách Hê-bơ-rơ viết rằng, bởi đức tin chúng ta biết rằng "Thế gian đã được làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi các vật bày ra (sờ sờ trước mắt) đó đều chẳng phải từ các vật (có thể) thấy được mà đến." ( sách Hê-bơ-rơ chương 11 câu 3). Câu Kinh Thánh này cho biết hai điều. Thứ nhất khẳng định việc Đức Chúa Trời tạo ra trời đất và muôn vật từ chỗ chẳng có gì cả. Thứ hai khẳng định rằng thế giới vật chất hữu hình được tạo nên bởi các hạt vô hình, quá nhỏ cho mắt thường quan sát được. Đây phải chăng là kiến thức vật lý nguyên tử hiện đại hay sự "mở óc" cho tôi tớ Chúa cách đây gần hai nghìn năm.
Chương trình của Thiên Chúa quả là kỳ diệu vĩ đại vượt quá mọi sự hiểu biết nhỏ bé của con người.
Reply Tán thành Không tán thành
-7
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
12/10/2010 01:30:13
Chào Hoa Hồng , hôm nay trở lại diễn đàn tôi mới biết Hoa Hồng đã gọi Anh Phàm Phu ơi . Nhiều bạn khác đã phản hồi rất xác đáng , tôi chỉ thêm vài ý kiến bổ sung :

1)- Tôi có “mù tín ngưỡng” hay không ? Xin mời Hoa Hồng đọc lại : “Chào Hoa Hồng , bạn là Kitô hữu tự trọng khác xa với nhiều con chiên khác úp mở thậm chí mạo nhận Phật tử. Tôi cũng giống như bạn , xin trao đổi góp vui vài dòng rồi...mạnh ai nấy về giữ đạo của mình :” . Chỉ cần một tí chất xám , bạn biết ngay tôi có “mù” hay không và tôi theo đạo nào ! Tuy nhiên , Phàm Phu trên diễn đàn này đích thị là một phàm phu , không cần chối cải , không cần ngụy xưng thánh trí thần lực , chỉ cần trí khôn bình thường của loài người đã đũ phân biệt đâu là bịa đâu là bịp.

2)- Về 3 tỷ quyển kinh thánh : Đúng là kinh thánh được in nhiều nhất , giáo hội in không tiếc tiền , nhưng không bao giờ là best seller , vì nó được cho , biếu không chứ chẳng mấy ai mua. Hoa Hồng có mua kinh thánh hay không ? giá bao nhiêu vậy ? Quyển kinh thánh tôi có là được tặng , không có ghi giá bán.

Giá trị của một quyển sách là ai tán thán sau khi đọc nó . Chắc là gần một tỷ con chiên tán thán kinh thánh ( dù hầu hết chưa bao giờ đọc hoặc đọc lõm bõm ) . Cũng dể hiểu thôi , vì cũng như Hoa Hồng và John Glen , họ “được” theo TCG ngay từ lúc sơ sinh đỏ hõn , “được” nhồi sọ kễ từ bé thơ , dể gì dám dùng trí khôn để nói khác với bố mẹ và cha xứ.

3)-Về lịch sử số Pi : Hoa Hồng dẫn kinh thánh I CÁC VUA 7:23 , thì nguyên văn của nó là : “ Người cũng làm biển đúc, hình tròn, cao năm thước; từ mép này đến mép kia có mười thước, một sợi dây ba mươi thước đo vòng tròn của nó.” Như vậy hình tròn này đích thực là méo , vì nếu tròn thì chu vi cùa nó phải là 10 thước x Pi = 31.416 thước chứ không phải 30 thước . Salomon ( 900 B.C. ) chưa biết số Pi , còn người viết sử chỉ mới biết là tròn 3 ( không phải 3,14150943 như Hoa Hồng nói xạo ) , rất lạc hậu so với văn minh thế giới như lịch sử ghi nhận về số Pi như sau :

( The World Book, FEEC Chicago )
–History : The ancient Chinese used 3 as the value of Pi. About 1650 B.C. , the Egytians improved on the approximation. The Greek mathematician Ptolemy calculated a value for Pi that was equivalent of 3.1416 . After decimals came into use in the 1600’s , men labored to find an exact value in decimals for Pi . Mathematicians now know that this is impossible.

( Wikipedia )
• 1700 BC – The Rhind papyrus( một văn kiện của Ai Cập cỗ ) gives a method to find the area of a circular field. The result corresponds to 256/81 (3.16049...) as an approximate value of π.
• 300 BC – Book 3 of Euclid's Elements deals with the properties of circles.
• 1880 – Lindemann proves that π is transcendental, effectively settling the millennia-old problem of squaring the circle.

Chẳng thấy ai nói đến dân Do Thái nào tìm ra số Pi cả . Vậy Hoa Hồng nói dóc hoặc là Hoa Hồng tin theo lời nói dóc vu vơ của tôi tớ chúa “mặc khải” nào đó. Bịa để tự sướng và để lường gạc là thói quen của đám tôi tớ chúa.


4)- “Kinh Thánh là quyển bách khoa toàn thư chứa đựng tất cả kiến thức khoa học, lịch sử, văn chương, luật pháp, tín ngưỡng v.v...” Nếu điều này Hoa Hồng đúng thì tất cả nhà bác học trên thế giới, kễ cả Newton , đều là hậu đậu cả , có sẳn trong kinh thánh mà không biết lật ra , lại cố công nghiên cứu tìm tòi chi cho uổng công. Hoa Hồng có mua sách giáo khoa để học hay không ? Hay là chỉ cần đọc “bách khoa toàn thư kinh thánh” ?

5)- “ tất cả các khám phá của con người có được đều do lý trí, trí tuệ và sức sáng tạo mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người.” Vậy thì Hoa Hồng có chịu khó đến trường học để trau dồi kiến thức hay không ? Nên cám ơn chúa đã ban cho hay nên cám ơn thầy cô đã trao truyền kiến thức ?

Thật là quái gỡ cho đức tin TCG , cái gì tốt đẹp do con người khó nhọc tạo ra đều bị Chúa cướp công. Các con chiên khi cầm bát cơm thì đọc kinh đội ơn chúa đã ban cho thức ăn , mà chẳng bao giờ đoái hoài đến giới nông phu chân lắm tay bùn , bán mặt cho đất , bán lưng cho trời mới làm ra hạt thóc .

6)- “ Người ta nói Kinh Thánh chỉ dành cho những người thiếu học thức, đầy dẫy bạo lực , dâm ô , phản khoa học v.v…” là người ta nói đúng đó và Hoa Hồng viết lại cũng đúng , chuyện này đã được rất nhiều bình luận đề cập , tôi khỏi lập lại .

7)- Về các pháp thuật của Jê-su :

- Jê-su đi bộ trên biển (?) : Nếu có thật thì chỉ đáng giá 2000đ vé đò qua sông đối với người bình thường, có gì hay ho.

- Jê-su chữa bệnh cùi cho vài người (!) : còn thua xa các bác sĩ ngày nay chặn đứng bệnh cùi cho hằng triệu người . Các bác sĩ ấy giỏi hơn Jê-su vạn lần. Jê-su không (thể) bị lây bệnh cùi ? Không thuyết phục vì Jê-su chết sớm, đâu có chứng minh điều nảy đúng hay sai được.

- Jê-su đuổi giông bão ? Tầm thường thôi , Khổng Minh người trần cũng làm được nhiều lần trong truyện Tam Quốc Chí.

Hoa Hồng mê thích pháp thuật thì nên đọc các truyện Tàu như Phong Thần, Xuân Thu Chiến Quốc, Tây Du Ký...vô số phép mầu đãm bảo còn siêu hơn Jê-su nhiều và cũng hoang đường không thua kém kinh thánh Kitô.

8)- Các giải thích khác về khoa học trong kinh thánh : - Các bạn khác đã nhận xét rồi , Hoa Hồng mê sảng !!! Riêng tôi chỉ có lời khuyên Hoa Hồng nên đem bài này cho các linh mục đọc như thay lời thú tội , chắc chắn Hoa Hồng sẽ được các cha khuyên dạy đến nơi đến chốn vì tội lỗi tự tiện giải thích kinh thánh .
Reply Tán thành Không tán thành
26
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Duc Chua Con VN 02/10/2010 10:31:22
Tội nghiệp Hoa Hồng ,vì muốn biến diễn đàn này thành bục giảng ruỗng mục nhà thờ thế kỷ +17,18 ở châu Âu nên mạnh dạng xác nhận mình là con chiên thứ thiệt ! Kề cũng can đảm đấy chứ .
Lại cũng những lời mê sảng,những cái bám víu cầu may ,càng làm lộ rõ tính vô chân lý của cái gọi là thánh kinh của chiên Hoa Hồng !
Việc thánh kinh đen theo con tàu vũ trụ.ai chủ trương ? Ai xác nhận đó là tính "thực tiễn " của khoa học vũ trụ "Cần và nhờ có nó" ?.Nó có liên quan gì đến công cuộc khám phá khoa học vũ trụ ngày nay ?

Hãy giải thích cặn kẻ Kinh Thánh của chiên Hoa hỒng chú đừng nên bám víu vào các sự kiện ,sự vật mà con chiên cho là phù hợp thánh kinh rồi phát ngôn ĐÓ LÀ CHÂN LÝ CỦA...THÁNH KINH !

Đừng "chạy theo " khoa học mà nhọc nhằn khổ sở ,níu kéo cho thánh kinh như thế .Nó chỉ có giá trị cho đám chiên khù khờ VN chứ không nàm hiếu ích gì cho tri thức nhân noại đêu chiên ạ.
avatar
GIA THỊNH 02/10/2010 12:23:15
Cảm ơn bài viết của Hoa Hồng, tôi có vài câu hỏi nhỏ về "LỜI CHÚA PHÁN", chính Chúa phán chứ không phải là những nhân vật khác như ông Gióp, vua Đa vít..
1/ Chúa tạo ra mọi loài, Chúa biết rất rõ cây sung khi nào đến mùa ra quả. Vậy thì sao CHÚA LẠI RỦA CÂY SUNG VÔ TÔI BÊN ĐƯỜNG KHÔ HÉO VÌ NÓ KHÔNG RA QUẢ TRÁI MÙA CHO NGÀI? Chúa có thể biến nước lã thành rượu thì sao lại không biến ra một thứ gì đó có thể ăn được mà lại trông chờ vào cây sung lúc trái mùa???
2/ Bạn cho rằng"Lại có người hỏi: "Kinh Thánh cho biết ngày đầu tiên Đức Chúa Trời dựng nên trời, đất và ánh sáng; Ngày thứ hai Ngài chia nước ra trong thể lỏng và thể khí; Ngày thứ ba Ngài tạo ra thế giới thực vật. Mãi đến ngày thứ tư mới có Mặt Trời. Nếu vậy thì ánh sáng trong ngày đầu tiên đến từ đâu? Làm sao cây cỏ có thể quang hợp được khi chưa có Mặt Trời?". Về điều này Kinh Thánh cũng chẳng sai. Vì sao cây cỏ có trước Mặt Trời một ngày chẳng ai biết, nhưng chắc chắn rằng chúng có thể sống trong bóng tối và bóng tối một ngày mà không có gì nguy hại xảy ra. Thực tình, chúng chẳng sống trong bóng tối. Ngay trong ngày đầu tiên Đức Chúa Trời đã tạo ra ánh sáng và đặt ra quy luật luân hồi giữa ánh sáng và bóng tối để có ngày và đêm tuần hoàn. Ánh sáng không nhất thiết phải đến từ Mặt Trời. Ánh sáng là một hình thức của năng lượng. Trong những ngày đầu tiên, ánh sáng có thể được trực tiếp biến hóa từ nguồn năng lượng bao quanh Trái Đất..." VẬY TẠI SAO KHI THUYẾT BIGBANG GIẢI THÍCH SỰ HÌNH THÀNH VŨ TRỤ PHẢI QUA HÀNG TỈ NĂM THÌ CÁC LINH MỤC LẠI CHỮA CHÁY LÀ: PHẢI HIỂU MỘT NGÀY TRONG KINH THÁNH RẤT DÀI, RẤT LÂU CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGÀY CÓ 24H. Đây có phải là cách giải thích mà ông bà ta thường nói " LƯỠI KHÔNG XƯƠNG, NHIỀU ĐƯỜNG LẮC LÉO" hay không hả bạn Hoa Hồng?
3/ Những khảo cứu của bạn có phần vơ vào, vơ cái tốt của thiên hạ vào của mình, CÒN NHỮNG CÁI XẤU XA CỦA MÌNH: GIẾT HẠI NGOẠI ĐẠO, CHÀ ĐẠP PHỤ NỮ, LOẠN LUÂN, GÂY THIÊN TAI DỊCH BỆNH THÌ LẠI CHỐI BAI BẢI, KHÔNG DÁM NHẬN.
Trước khi Albert Einstein đề cập đến thuyết tương đối thì trong dân gian Á Đông cũng cho là MỘT NGÀY TRÊN TRỜI BẰNG BA NĂM DƯỚI ĐẤT, chuyện Từ Thức lạc vào cõi tiên...VẬY CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI Á ĐÔNG MÀ PHƯƠNG TÂY CHO LÀ MAN RỢ CẦN KHAI HÓA LẠI ĐI TRƯỚC HỌ VÀI THẾ KỶ KHÔNG?
Trong kinh Phật có chi tiết là Phật chỉ vào bát nước và nói " trong bát nước này có hằng hà sa số sinh vật", nào là phân biệt xương nam nữ, đàn ông xương trắng, đàn bà xương đen. Trong kinh Phật cũng nói về hằng hà sa số thế giới, bất khả thuyết, vô lượng vô số...( TÔI XIN LỖI VÌ KHÔNG NHỚ CỤ THỂ NHỮNG ĐIỀU NÀY TRONG KINH NÀO, MONG CÁC THẦY VÀ PHẬT TỬ CHỈ RÕ...TÔI KHÔNG PHẢI LÀ PHẬT TỬ NÊN KHÔNG DÁM DẪN CHỨNG BẬY).
4/ NẾU KINH THÁNH VIẾT VỀ VŨ TRỤ QUÁ TUYỆT VỜI NHƯ BẠN TƯỞNG, ĐI TRƯỚC THỜI ĐẠI... THÌ TẠI SAO GALIE LẠI BỊ GIÁO HỘI ĐẠI DIỆN CHO CHÚA TRỪNG PHẠT, BRUNO, CÔ PÉC NIC CŨNG TƯƠNG TỰ???
TẠI SAO KINH THÁNH VIẾT ĐÚNG, TRÊN CẢ TUYỆT VỜI NHƯ BẠN NGHĨ MÀ GIÁO HOÀNG ĐẠI DIỆN CHO CHÚA LẠI CÔNG NHẬN THUYẾT TIẾN HÓA VÀ BIGBANG???
avatar
kẻ ở miền xa 03/10/2010 01:14:05
Chào bạn HOA HỒNG.
BẠN NÓI HAY QUÁ, THẬT LÀ CHÍ LÝ, CHÍ LÝ "...Tuy nhiên, tất cả các khám phá của con người có được đều do lý trí, trí tuệ và sức sáng tạo mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người. Trong nhiều trường hợp, Ngài "mở óc", "làm sáng mắt" cho một số nhà khoa học để những phát minh của họ đem lại phước hạnh cho nhân loại..."
Nếu nói như bạn, thì tôi và mọi người sẽ cho rằng CHÍNH THIÊN CHÚA ĐÃ MẠC KHẢI, ĐÃ SOI SÁNG, ĐÃ "MỞ ÓC" "LÀM SÁNG MẮT" CHO CÁC NHÀ KHOA HỌC NÓI VỀ NGÀI, NÓI VỀ KINH THÁNH VÀ ĐẠO CHÚA NHƯ SAU:
1/ "Bạn không cần Kinh Thánh để biện minh cho tình yêu, nhưng chưa có cái gì hơn nó để biện minh cho
sự thù hận" – Richard A. Weatherwax.
2/ Simonides (556-468 TTL = Trước Thường Lịch), Thi sĩ Hi Lạp: * Càng suy nghĩ về chủ đề Thiên Chúa, tôi càng thấy nó trở nên tối tăm. (The more I consider the subject of God, the more obscure it becomes.)
3/ Empedocles (495-435 TTL), Triết gia Hi Lạp: * Không có Thiên Chúa nào làm ra thế giới, cũng chẳng có người nào làm ra; thế giới từ xưa vẫn luôn luôn như vậy. (None of the gods has formed the world, nor has any man; it has always been.)
4/Aristotle (384-322 TTL), Triết Gia Hi Lạp: * Con người tạo ra Thiên Chúa theo hình ảnh của chính con người, không chỉ theo hình dạng của con người mà còn theo lối sống của con người. (Men creates gods after their own image, not only with regard to their form but with regard to their mode of life.)
5/ Ferdinand Magellan (1480-1521), Nhà hàng hải Bồ Đào Nha: * Giáo hội bảo rằng trái đất thì phẳng dẹt, nhưng tôi biết rằng nó hình cầu, vì tôi đã nhìn thấy bóng nó trên mặt trăng, và tôi tin vào một cái bóng hơn là tin vào giáo hội. (The church says the earth is flat, but I know that it is round, for I have seen the shadow on the moon, and I have more faith in a shadow than in the church)
6/Baron de Montesquieu (1689-1755), Viện sĩ Hàn Lâm Viện Pháp: * Không có vương quốc nào phải chịu đựng nhiều nội chiến như là vương quốc của Chúa Ki-Tô (No kingdom has ever suffered as many civil wars as the kingdom of Christ); * Nếu các hình tam giác mà tạo ra một Thiên Chúa thì chúng sẽ làm cho ông ta có ba cạnh (If triangles made a god, they would give him three sides); * Lịch sử có đầy những cuộc chiến tranh tôn giáo; nhưng, chúng ta phải nhận xét cẩn thận, không phải vì có nhiều tôn giáo mà có nhiều chiến tranh, mà vì tinh thần không khoan nhượng trong một tôn giáo (Công giáo) nghĩ rằng mình có quyền thống trị (History is full of religious wars; but, we must take care to observe, it was not the multiplicity of religions that produce these wars, it was the intolerating spirit which animated that one which thought she had the power of governing).
7/ Voltaire (1694-1778), Văn hào, Triết gia .. Pháp: * Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); * Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm; * Những tín đồ Ki-Tô là những người bất khoan dung nhất (Christians have been the most intolerant of all men); * Hãy nghiền nát cái đồ ô nhục- Ki Tô Giáo (Écrasez l’infâme! [crush the infamous thing - Christianity]; * Vô thần là thói xấu của một số nhỏ những người thông minh (Atheism is the vice of a few intelligent people); * Thần Ki-Tô luôn luôn ở phía những tiểu đoàn mạnh nhất (God is always on the side of the heaviest battalions); * Tai họa giáng vào thế giới qua tội lỗi của Adam. Nếu cái tên ngu đần ấy không phạm tội, chúng ta đã có thể không bị làm khổ bởi bệnh đậu mùa, bệnh ghẻ, hoặc môn thần học, hoặc đức tin duy nhất có thể cứu rỗi chúng ta (Evil came into the world through the sin of Adam. If that idiot had not sinned, we should not have been afflicted with the smallpox, nor the itch, nor theology, nor the faith which alone can save us.); * Lời của Thần Ki Tô là lời của các linh mục; sự vinh quang của Thần Ki Tô là sự hãnh diện của các linh mục; ý của Thần Ki Tô là ý của các linh mục; xúc phạm Thiên Chúa là xúc phạm các linh mục; tin vào Thiên Chúa là tin vào mọi điều linh mục nói (The word of God is the word of the priests; the glory of god is the pride of the priests; the will of god is the will of the priests; to offend god is to offend the priests; to believe in god is to believe in all that the priests tell us.)
8/ Hugo Grotius (1583-1645), Học giả Hòa Lan: * Người nào đọc lịch sử giới giáo sĩ không đọc gì khác ngoài sự gian xảo và điên rồ của các giám mục và linh mục. (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churhmen.)
9/ Claude Adrien Helvétius (1715-1771), Triết gia Pháp: * Một người tin rằng hắn ăn thịt Chúa của hắn, chúng ta không bảo là hắn điên; một người nói rằng hắn là Chúa Giê-su Ki Tô, chúng ta bảo rằng hắn điên,. (A man who believes that he eats his God we do not call mad; a man who says he is Jesus Christ, we call mad.)
10/ Baron d’Holbach (1723-1789), Triết gia Pháp: * Nếu sự không hiểu thiên nhiên đã sinh ra những thần, thì sự hiểu biết về thiên nhiên sẽ đi đến chỗ dẹp bỏ những thần này. (If the ignorance of nature gave birth to the gods, knowledge of nature is destined to destroy them.)
11/ Benjamin Franklin (1706-1790), Khoa học gia Mỹ: * Cách nhìn mọi sự việc bằng đức tin là nhắm con mắt của lý trí. (The way to see by faith is to shut the eye of reason).
....và còn rất nhiều, rất nhiều nữa.
TÔI RẤT TIN VÀO THƯỢNG ĐẾ, TÔI TIN CHẮC RẰNG CHÍNH THƯỢNG ĐẾ ĐÃ MẠC KHẢI CHO HỌ CHỐNG LẠI NGÀI.
VẬY BẠN HOA HỒNG CÓ TIN ĐIỀU NÀY KHÔNG HẢ BẠN HOA HỒNG???
Thân chào bạn,
avatar
Dân Việt 03/10/2010 06:30:28
Xin lỗi bạn HH nhé!
Tôi đang suy nghỉ, không biết những điều bạn viết có phải là của bạn không hay chỉ là nói theo người khác?
Nếu bạn hiểu hết những lĩnh vực mà bạn viết thì tôi nghỉ bạn không cần phải làm con chiên chi cho mệt (tôi nghỉ bạn quá toàn diện).
Mỗi lĩnh vực khoa học con người ta phải bỏ cả đời để nghiên cứu, còn bạn thì tỏ vẻ mình rất hiểu biết. Thật bái phục.
avatar
Trịnh Hoài Anh Tú 09/10/2010 03:35:45
Mình tin vào Newton thì đúng hơn!!!!Vì ông là một cha để cho cả nghành công nghiệp hiện đại thời nay trong một nghiên cứu khoa học ông đã phái hiện là có một chất khí có thể tạo ra nước khi cộng với khí oxi
Reply Tán thành Không tán thành
-5
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
09/10/2010 08:52:00
theo ban Newton và chú ai giỏi hơn?
avatar
09/10/2010 06:28:06
Tin có Chúa tại vì Newton tin Chúa ? Con chiên này quả thật là...con chiên 4 chân 100% !
avatar
Trịnh Hoài Anh Tú 09/10/2010 03:44:38
Mình là một Kito giáo.Có lần mình coi một đoạn phim của khoa học do các nhà khoa học Úc xuất hành như thế này:Vào thời điểm cách đây rất xa có một vụ nổ (BIGBANG) là do các hạt tạo ra!!!Trong các hạt phải có một dòng điện nào đó nối liền nếu hạt nhỏ thì không sao hạt lớn mới nói mà các hạt nhỏ không thể nổ lớn thể chỉ có thể nổ bằng một quả lựu đạn thôi họ bảo các hạt phải to bằng cả thiên hà nếu hạt đó bằng cả thiên hà thì ít ra chúng ta đã phát hiện ra từ lâu lắm rồi.Nếu vụ nổ có thật thì bây giờ phải theo chu kỳ sẽ tạo ra những vụ khác nữa nhưng không thấy
Và có một số nhà khoa học cũng nghi ngờ về thuyết này.Còn nếu không nhờ các hạt mà nổ đại thì Trái đất này chắc không còn vì có thể trong quỹ đạo Trái Đất cũng có thể bị nổ tung như thế nữa
Để bữa nào mình tìm lại rồi post lên cho các bạn xem
Mình tin là có Thượng Đế đó
1Con người không thể hiểu việc ngài làm và nếu tò mò như bà vợ của ông Lót khi khỏi thành Sodoma vì tò mò nên đã bị phạt
2Con người không thể lấy danh ngài mà cho là không có
Reply Tán thành Không tán thành
-9
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
09/10/2010 06:23:41
Vợ của Lót cải lời Chúa , ngoái nhìn lại thành Sô-Đom thân yêu đang bị Chúa phóng hỏa . Chỉ có thế mà bị Chúa hóa cho thành tượng muối. Ôi Chúa nhân từ !

Hai đứa con gái của Lót , tuân phục lời Chúa được sống sót và cũng tuân theo ý Chúa phục rượu Lót để luân phiên hiếp dâm cha ruột , rồi đẻ ra tổ tiên của đám con chiên trên thế giới hiện nay. Ôi Chúa đức hạnh !

May mà Chúa chỉ là nhân vật bịa của ông Moi-sê (dân Do Thái), chứ có thật thì đã bị lôi cỗ ra tòa quốc tế xét xử tội giết người hàng loạt , diệt chủng , tội chống lại loài người.
Reply Tán thành Không tán thành
14
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Trịnh Hoài Anh Tú 09/10/2010 04:43:16
Hoa Hồng và Quang Đạt tôi ủng hộ hai bạn đó
Reply Tán thành Không tán thành
-3
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
khach 21/10/2010 01:49:54
Tại sao lại ủng hộ Quang Đạt và Hoa Hồng trong khi cả hai đều nói xàm, viết bậy. Hay là "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", đúng không Anh Tú.
avatar
Hoa Binh 09/10/2010 09:09:16
Cau nguyen cho mien Trung di cac ban oi ,dung tranh cai nhau nua.
avatar
bạn là tôi 16/10/2010 10:48:13
có nhiều người đóng vai là Phật tử nhưng thật là thiên chúa gốc; muốn làm điều kiện là học Phật nhưng phản Phật;
Đạo Chúa phản khoa học và cản trở khoa học quá nhiều,nhưng khi nói ra thì cứ đem khoa học ra bình luận; đúng là một lũ con chiên mặt dạn mày dày;

khoa học khi xưa đã nói trái đất tròn thì bị sát hại bởi nhóm nô lệ con dân chúa

khoa học ngày nay muốn phát triển thì đám con dân chúa cản trở; khi cản trở không được thì nói theo với lý luận cái gì cũng chúa sinh ra; cái gì cũng chúa sanh sao không ở nhà ngũ đi; đi làm chi cho mệt ; ở nhà có chúa lo rồi; mọi thứ trên đời đều do ý chúa; như con chim trên không trung bay ngang qua nó ẹ trên đầu bạn cũng là ý chúa; sao nghe qua có nhiều cái con nít ghê hén;

khoa học muốn phát triển tạo tế bào gốc thì bọn con dân chúa sợ lấy bản quyền ; chuá đã tạo con nguời;
chúa đâu không thấy ; thấy toàn là thứ con dân sợ mất quyền lời; cố bám vào để dụ dổ người mê tín ; tin theo;
chúng ta muốn thấy con chiên làm sao thì hãy nhìn bọn công sản làm; vì cong sản ăn cắp bản quyền la mã để xây dựng hệ thông giữ chức vụ quyền lợi;


phúc cho ai không thấy mà tin đó là lời của chúa dạy; ráng tin đi con........

tin đi chúa sẽ cho phúc...................
avatar
tuhoc 13/05/2011 09:51:06
Đúng là tất cả là ý chúa. Không biết Chiến tranh TG 1 và 2 có phải ý chúa không nửa? Hay động đất ở Nhật mới đây chắc cũng là ý chúa? Người chết trong các thiên tai địch họa có không ít con chiên, nhất là WW1 và WW2, ngay cả con chiên da trắng của mình mà chúa cũng không, hay không muốn cứu nữa, chứ nói gì đến cái dân da vàng Việt Nam này.
Còn hiện đại hơn thì nhìn vào Mỹ và Châu Âu xem, là phương tây TC đấy, khủng hỏang tài chính triền miên, cầu cứu nợ nần khắp nơi, trong khi đó Châu Á lại đang dần nổi lên, TQ , Nhật Bản trở thành chủ nợ lớn của Mỹ. Vậy chắc cũng do ý chúa muốn các nước phương Tây bớt giàu đi chăng?
Tôi nhớ có MC nào bên Mỹ lên truyền hình nói động đất ở Nhật là do ý chúa trừng phạt, và sau đấy bị báo đài chửi cho tan nát, nhà đài còn đòi cắt hợp đồng nữa.
Các bạn Kito vào diễn đàn nhà Phật, âu cũng là cơ duyên, biết đâu có cơ hội để các bạn nghiên cứu Phật Pháp từ đó liễu ngộ, rất nhiều bạn CG vẫn giữ đạo mình, những vẫn học tập Phật Pháp đấy thôi. Như báo có đăng diễn viên Mỹ Jennifer Lopez là người CG nhưng vẫn tìm sự cân bằng trong Phật Pháp đấy thôi.
Tôi nhớ đọc đâu trong diễn đàn có 1 dịch giả vâng lệnh dịch Kinh Phật để tìm chổ hở mà làm suy yếu, nhưng cuối cùng dịch giả đấy liễu ngộ Phật Pháp và vào chánh đạo đó thôi.
avatar
PHƯƠNG XA 16/10/2010 15:53:01
Xin mời Qúy vị đọc dưới đây cho vui:

Mẹ Teresa

Ánh Sáng và Bóng Tối

http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1564&PHPSESSID=0277d7d6ff34b7d73b3a110ccf4592e8

Christopher Hitchens

Gửi bài này cho bạn bè đăng ngày 17 tháng 9, 2007


Nhà phê bình kịch liệt nhất về Mẹ Tê-rê-da cho rằng cuộc khủng hoảng niềm tin của bà - tiết lộ trong một cuốn sách sắp xuất bản (“Come Be My Light”) - đã bắt nguồn từ đặc tính vô lý một cách nghiệt ngã của đạo Ca-tô La-mã.

Bài đăng độc quyền ở tuần báo Newsweek – Ngày 29 tháng 8 năm 2007.



Christopher Hitchens Bình luận gia của báo Vanity Fair và là tác giả của nhiều tác phẩm,gồm có: “Vị thế Truyền giáo: Mẹ Tê-rê-da Trong Lý thuyết và Thực hành” và cuốn mới nhất: “Chúa Không Có Gì Vĩ Đại”đang nằm trên bảng 10 cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ của báo New York Times.

Ngày 29 tháng 8 năm 2007 - Việc xuất bản cuốn nhật ký của Mẹ Tê-rê-da về cuộc khủng hoảng niềm tin của bà có thể được coi như một hành động rất lương thiện hoặc rất đáng nghi (hoặc có thể là cả hai). Những dòng chữ nguệch ngoạc trong các tài liệu này của cuốn sách đã được đưa ra trong tiến trình khảo sát xem bà có thể trở thành một bậc thánh hay không. Linh mục Brian Kolodiejchuk, một thầy tu Gia Nã Đại, là người điều khiển cuộc khảo sát này và cũng là người phụ trách xuất bản cuốn sách này. Những lá thư này đã được Cơ quan truyền thông Zenit xuất bản lần đầu tiên năm 2002. Cơ quan nầy là một cơ sở đặt tại Tòa thánh Vatican có liên hệ với một nhóm Công giáo thiên hữu quá khích tên là Quân đoàn của Ki-tô. Và đây thật là một chọn lựa lạ lùng: Hoặc là những con chiên phải can đảm đối diện với sự kiện là một nữ anh hùng của họ đã mất niềm tin hoặc là Giáo hội phải tuyên dương một biểu tượng mà Giáo hội biết rõ thực chất là một bà già lẫn lộn đã mất niềm tin vào Chúa Ki-tô?

Khủng hoảng niềm tin, hoặc như Thánh John the Cross đặt tên là “Đêm tối của linh hồn”, không phải là một điều mới lạ trong đạo Công giáo. Nữ thánh Thérèse de Lisieux, một nữ tu dòng Cát Minh của thế kỷ 19 ở Pháp mà Mẹ Tê-rê-da đã được mang cùng tên, hình như đã chết trong khi trãi qua một đêm tinh thần mà bà thấy như đi qua một cái hầm tối đen. Để cố gắng bào chữa, nhiều nhà thần học và cha giải tội đã biện luận là những khủng hoảng này thật sự là một phương cách để xác nhận hoặc chứng minh của niềm tin. Linh mục Joseph Neumer, một trong những thầy tu mà Mẹ Tê-rê-da đã tiết lộ nỗi khắc khoải của bà, đã ra lệnh cho bà phải tin rằng vấn đề của bà đã cho bà được dịp chia sẽ với Khổ hình của Chúa Ki-tô. Và sự vắng mặt của Chúa là một cách thức “thể hiện chắc chắn” của “sự có mặt dấu kín” của Chúa trong đời bà. Lời giải thích tuỳ tiện nầy hình như đã làm cho bà vui vẻ lên, dù là chỉ trong chốc lát. (Đây có lẻ là lúc để cho tôi được tuyên bố ý kiến và, qua lời mời của Vatican, xác nhận tôi chống lại chuyện phong á thánh và phong thánh cho Mẹ Tê-rê-da. Tôi cũng xin thú nhận niềm tin của tôi là khi không có bằng cớ tức là khi bằng cớ không có.)

Ngoài ra, đây không chỉ là một sự hoài nghi thoáng qua. Hãy đọc một vài điều bà đã nói với các vị cố vấn: “Đối với tôi, sự im lặng và sự trống không quá lớn đến nổi tôi nhìn mà không thấy gì, - lắng tai mà không nghe gì - lưỡi động đậy mà không nói được gì.” “Khát vọng sâu sắc của tôi đối với Chúa – và … bị từ chối - trống không – không niềm tin – không tình thương – không nhiệt tâm – [Sự cứu rỗi của] Linh hồn không có một hấp dẫn gì nữa – Thiên đường mất hết ý nghĩa”. ”Tôi hoạt động để làm gì? Nếu không có Chúa – thì cũng chẳng có linh hồn - nếu chẳng có Linh hồn thì Chúa Ki-tô hỡi – Ngài cũng chẳng có thật.” Tựa như những tín hiệu truyền tin Morse thời xưa, những chấm và gạch khó hiểu lại càng làm cho lời kêu cứu bi thảm và vang vọng nhiều hơn.

Đối với một người Công giáo, “sự vắng mặt của Chúa trong tim hay trong thánh thể” không thể là một chuyện nhỏ nhặt như Linh mục Kolodiejchuk đã trình bày. Bí tích của giáo dân không thể trải qua một suy tư sai lầm. Và đã có những chỉ dấu đây đó cho thấy Mẹ Tê-rê-da đã lo sợ là bà đang gây nguy khốn cho linh hồn của bà. Bà nghĩ là bà không nên suy nghĩ những điều như vầy: “Có quá nhiều câu hỏi trong tâm tư tôi mà tôi không dám đối diện – vì sợ phạm thượng - Nếu Chúa hiện hữu – xin Ngài hãy tha thứ cho con – Khi tôi cố gắng nâng tư tưởng lên đến Thiên đàng – thì có một sự rỗng không đầy cáo buộc đến nổi chính những tư tưởng ấy quay trở lại và đâm vào hồn tôi như một lưỡi dao nhọn - Người ta nói Chúa yêu tôi - vậy mà thực tế đen tối, lạnh lùng và rỗng không đã to lớn đến nổi không có gì chạm đến linh hồn tôi cả. Có phải tôi đã phạm một lầm lỗi khi nhắm mắt bước theo Tiếng gọi của Thánh Tâm?” Câu hỏi cuối cùng này thực là một câu hỏi cực kỳ khó khăn cho người Công giáo.

Với những sự kiện như vậy mà tôi nói không có gì đáng ngạc nhiên thì có vẻ dễ dàng.Tôi cũng muốn nói rằng đây là kết qủa hiễn nhiên của một giáo điều đã dạy người ta hãy tin vào những điều vô lý rồi lại làm cho họ cảm thấy phạm tội và khốn khổ khi khi lý trí bẩm sinh của họ vạch ra sự vô lý của giáo điều. Trường hợp của bà Mẹ Tê-rê-da không thể chấp nhận quyền năng lớn lao của “niềm tin” là trường hợp của một người đàn bà cố gắng để thành thật với chính mình trong khi – và đây là điểm quan trọng - nổ lực để làm gương cho mọi người.

Và tôi tin là tôi có thể giải thích cuộc khủng khoảng này. Giải thích này đến từ ý kiến của Lord Macaulay khi phê bình tác phẩm “Lịch sử các Giáo hoàng” của Leopold von Ranke. Ông viết: “Giáo hội Công giáo La Mã thông hiểu rất rõ hơn các giáo hội khác cách thức ứng sử với những người có nhiệt tình [tác giả Hitchens nhấn mạnh ]. Các vị Giám mục khôn ngoan đã biết từ lâu phải đối xử cẩn thận với những con chiên cuồng tín và quá tích cực. Sau khi bị Evelyn Waugh, một người cãi đạo tối bảo thủ, thuyết giảng về đạo giáo, Giáo hoàng đã phải kết luận bằng lời nói thầm: “Vâng thưa ông Waugh, tôi cũng theo đạo Công giáo”. Khi Mẹ Tê-rê-da nổi loạn lần đầu tiên để thoát khỏi cuộc đời trầm lặng của một nữ tu dòng Loreto Sisters năm 1946 bằng cách xin phép các Mẹ bề trên để lập một dòng mới - Truyền giáo Cứu Tế - , bà đã bị từ chối và được lệnh hãy ở yên trong nơi chốn nhỏ nhoi đã được chỉ định. Từ đó, vị Tổng giám mục địa phương Ferdinand Perier đã nhận ra ông có trong tay một con chiên thật sự: Một người đàn bà rất khiêm tốn đồng thời cũng vô cùng tự tôn. (Cuốn sách “Hãy Đến Soi Sáng Cho Tôi” của Mẹ Tê-rê-davới một tiểu tựa như muốn ám chỉ là Chúa xin bà hãy đến soi sáng cho Chúa chứ không phải ngược lại).Bà đã làm mệt giáo phận với đòi hỏi là tham vọng của bà phải được Vatican xét xử. Sau hai năm cầu khẩn và xin xỏ, ước mong của bà đã được chấp thuận. Và hai tháng sau khi bắt đầu chương trình từ thiện ở Calcutta năm 1948, ma quỷ đã đến với bà và hình như nó ở lại mãi với bà. Bà đã đạt được điều bà mong muốn nhưng điều này là một thất vọng não nề cho bà.

Vì vậy, hình như tất cả những gì làm cho Mẹ Tê-rêda nổi tiếng - những cực khổ triền miên, những khắc khổ cay đắng, những chính thống đậm đặc của tôn giáo – là một phần của sự phấn đấu của Mẹ Tê-rê-da để chiến thắng sự khổ sở ở trong lòng. Hãy nhìn đoạn đường mà Mẹ Tê-rê-da đã đi qua để thấy sự khổ sở của Mẹ Tê-rê-da là qủa thật như vậy.Sau 10 năm day dứt vì nghi hoặc, bà tìm được một thoáng tĩnh tâm với cái chết của Giáo hoàng Pius XII trong mùa Thu 1958. Trong khi cầu nguyện cho Giáo hoàng trong một buổi lễ cầu hồn, bà đã thấy tâm hồn vượt thoát khỏi “đêm dài đen tối …nổi khổ đau lạ lùng”. Tuy nhiên thoáng tĩnh tâm này chỉ kéo dài được 5 tuần lễ rồi bà lại rơi vào “căn hầm” cũ. Ngay sau đó là Công đồng Hai của Vatican với những đổi mới. Tại một đại hội Công giáo ở Bombay (Ấn độ), bà đã quyết liệt chống lại những đổi mới này. Theo bà, điều cần thiết là phải tăng gia hoạt động và niềm tin chứ không phải là những tư duy mới. Rõ ràng đây là một biểu hiệu cho thấy bà đang cần đánh tan nghi hoặc cho chính bà và cho những người Công giáo khác.

Vài năm sau, bà trở nên nổi tiếng khắp toàn cầu nhờ cuốn phim (và sách) về cuộc đời của bà: “Vài điều rất đẹp cho Chúa” do văn sĩ lập dị Malcolm Muggeridge thực hiện. Sau đó, tiếng tăm của bà đã vang lừng đến mức Giáo hội, quên luôn cả sự nhắc nhở của Lord Macaulay, đã phải bỏ qua chuyện trừng phạt cái nhiệt tình tôn giáo chính thống của bà. Nhà thơ kiêm triết gia (George) Santayana đã định nghĩa cuồng tín là “cố gắng gấp đôi sau khi đã quên mất mục tiêu”. Trong tinh thần đó, Mẹ Tê-rê-da đã sử dụng những tranh đấu chống ly-dị, chống phá thai, chống thuốc ngưà thai như những phương tiện hiện thực để xóa đi sự hoài nghi về Chúa của bà: Đây là một cố gắng mãnh liệt đến gần như là điên cuồng của bà để xoá tan đi nổi sợ hãi “vắng mặt Chúa” trong bà. Khác với số đông những nhân vật nổi tiếng Mẹ Tê-rê-da càng được ca ngợi thì bà lại càng đau khổ (Sau khi nhận được một trong những giải thưởng quốc tế, bà đã viết trong nhật ký: “Điều này không có giá trị gì với tôi cả vì tôi không có Chúa”.)

Tuy không muốn đẩy sự phân tích của tôi quá xa nhưng tâm trạng nghi hoặc Chúa của Mẹ Tê-rê-da cũng có thể giúp giải thích được lý do vì sao bà đã làm những chuyện mà ngay cả những người thán phục bà cũng ngỡ ngàng: nhận tiền ăn cắp của nhà độc tài Duvalier của Tahiti, những thỏa thuận với nhà độc tài Indira Gandhi, với gian thương Charles Keating (nổi tiếng trong vụ án quỹ tiết kiệm phá sản năm 1989). Lo gì chuyện đầu hàng những rác rưỡi của thế giới bẩn thĩu này, nếu ta biết sử dụng rác rưỡi để lấy hết sức xóa bỏ những lo âu, nghi ngại? Ta cũng không thắc mắc khi có được một niềm tin tuyệt đối vào chủ thuyết. Mỗi người theo đạo Công giáo đều phải coi chuyện phá thai là một sự ghê tởm (và tôi cũng vậy), nhưng không vì vậy mà phải quá khích đến như Mẹ Tê-rê-da là đã tuyên bố trong buổi lễ nhận giải Nobel rằng phá thai là sự đe dọa lớn nhất cho nền hoà bình của thế giới. Điều này chỉ có thể đến từ một tâm trạng bất an và cuồng tín hơn cả giáo điều của đạo Công giáo của Mẹ Tê-rê-da.

Vào cuối đời bà, Tổng Giám mục D’Souza ở Calcutta cho biết, những khắc khoải và những đêm thức trắng của Mẹ Tê-rê-da đã tạo nhiều lo âu đến nổi giáo hội phải làm lễ trừ quỷ ám cho bà. Cũng theo vị Tổng Giám mục này, phương pháp trừ quỷ ám của thời Trung cổ đã giúp cho bà có những đêm ngủ ngon giấc trước khi bà qua đời. Mọi người đều vui mừng là bà đã tìm được sự bình an cho tâm hồn. Nhưng từ đó, bà lại được gán cho khả năng “làm phép lạ” cứu người bị bệnh dù bà đã chết: Một loại chuyện mà không một bác sĩ nào trong vùng Bengal có thể (nói một cách nhẹ nhàng) xác nhận. Tôi xin nói điều này một cách tỉnh táo nhất: Giáo hội Công giáo hãy có một sự liêm sĩ căn bản để cho người đàn bà đau khổ và khốn nạn này được yên nghỉ và đừng dùng nổi khắc khoải triền miên của bà để truyền đạo cho những người nhẹ dạ đi tin một tín ngưỡng mà chính bà đã ngừng tin tưởng từ rất lâu.

Source: http://www.msnbc.msn.com/id/20497111/site/newsweek/



Teresa, Bright and Dark

The nun's leading critic argues that her crisis of faith—revealed in newly published letters—was brought on by the crushing unreasonableness of the Roman Catholic Church.

A Newsweek exclusive By Christopher Hitchens

Newsweek Updated: 10:46 a.m. PT Aug 29, 2007

Aug. 29, 2007 - … The publication of Mother Teresa’s letters, concerning her personal crisis of faith, can be seen either as an act of considerable honesty or of extraordinary cynicism (or perhaps both of the above). These scrawled, desperate documents came to light as part of the investigation into her suitability for sainthood; an investigation conducted by Father Brian Kolodiejchuk, the Canadian priest who is the editor of this volume. And they were actually first published in the fall of 2002, by the Zenit news agency—a Vatican-based outlet associated with a militant Catholic right-wing group known as the Legion of Christ. So, which is the more striking: that the faithful should bravely confront the fact that one of their heroines all but lost her own faith, or that the Church should have gone on deploying, as an icon of favorable publicity, a confused old lady who it knew had for all practical purposes ceased to believe?

Crises of faith, or “dark nights of the soul” as they were termed by St. John of the Cross, are not a new idea to Roman Catholics. St. Therese of Lisieux, the 19th-century French Carmelite who was the namesake of Mother Teresa, seems to have died while enduring an experience of spiritual night that she likened to a dark tunnel. Making the best of it, many confessors and theologians have even argued that such tests are actually a kind of confirmation or vindication. The Rev. Joseph Neuner, one of those to whom Mother Teresa turned in her own agony, enjoined her to believe that her ordeal gave her a share in the Passion of Christ, and that His absence was in a way a “sure sign” of his “hidden presence” in her life. This slightly convenient diagnosis seems to have cheered her up, if only temporarily. (Here might be the place to declare my interest, and to state that at the invitation of the Vatican, I testified against the beatification and canonization of Mother Teresa, as well as to confess that I tend to believe that the absence of evidence is the evidence of absence.)

Moreover, this was no mere temporary visitation of doubt. Here are some of the things that she told her various advisers. “For me, the silence and the emptiness is so great, that I look and do not see,—Listen and do not hear—the tongue moves but does not speak.” “Such deep longing for God—and … repulsed—empty—no faith—no love—no zeal.—[The saving of] Souls holds no attraction—Heaven means nothing.” “What do I labor for? If there be no God—there can be no soul—if there is no Soul then Jesus—You also are not true.” Like an old-fashioned Morse signal, the cryptic and dot-dash punctuation somehow serves to emphasize and amplify the distress.

It is no small thing for a Catholic to feel no “presence” whatever, “neither in her heart nor in the eucharist,” as Father Kolodiejchuk has phrased it. The sacrament of the mass is not to be undergone in a wrong frame of mind, and there are hints here and there that Mother Teresa was afraid she was endangering her soul. She felt that she should not even be thinking such things: “So many unanswered questions live within me afraid to uncover them—because of the blasphemy—If there be God—please forgive me—When I try to raise my thoughts to Heaven—there is such convicting emptiness that those very thoughts return like sharp knives and hurt my very soul.—I am told God loves me—and yet the reality of darkness and coldness and emptiness is so great that nothing touches my soul. Did I make a mistake in surrendering blindly to the Call of the Sacred Heart?” That last question in particular must have been an annihilating difficult one to face.

Now, it might seem glib of me to say that this is all rather unsurprising, and that it is the inevitable result of a dogma that asks people to believe impossible things and then makes them feel abject and guilty when their innate reason rebels. The case of Mother Teresa, who could not force herself into accepting the facile cure-all of “faith,” is that of a fairly simple woman struggling to be honest with herself, while also—this is important—striving to be an example to others. And I believe I have a possible explanation for the crisis. It derives from something that Lord Macaulay said, when reviewing Leopold von Ranke’s "History of the Popes." The Roman Catholic Church, he wrote, “thoroughly understands what no other Church has ever understood, how to deal with enthusiasts” [my italics]. Wise bishops have long known to beware of the fanatical and the overzealous. After being lectured on doctrinal matters by the ultraconservative convert Evelyn Waugh, the pope is said to have concluded the audience by murmuring, “Yes, Mr. Waugh. I am a Catholic, too.” When Mother Teresa first rebelled against the quiet life of the Loreto Sisters in 1946, and sought permission from her superiors to start a new order—The Missionaries of Charity—she was at first turned down and told to stay in her allotted place of humility. The local archbishop, a man named Ferdinand Perier, then found he had a true believer on his hands: a woman hungry for humility and yet fantastically immodest. (“Come Be My Light,” the slightly sickly subtitle of this book, is what Mother Teresa claims, not that she said to Jesus, but that He said to her.) Only after she had wearied the diocese with demands that her ambition be referred to the Vatican did she finally, after two years of pleading and cajoling, get her way. And then, two months after she started her own show in Calcutta in 1948, the demons checked in and, in effect, never quite checked out again. She got what she wanted, and found it a crushing disappointment.

It seems, therefore, that all the things that made Mother Teresa famous—the endless hard toil, the bitter austerity, the ostentatious religious orthodoxy—were only part of an effort to still the misery within. Again, the timeline would seem to support this interpretation. After 10 years of gnawing doubt, she reported a brief remission on the death of Pope Pius XII in the fall of 1958. Praying for him at a requiem mass, she found herself relieved of “the long darkness … that strange suffering.” The respite only lasted for five weeks and then she was back “in the tunnel” once more. Soon after came the reforms of the Second Vatican Council, which at a gathering of India’s Catholics in Bombay she violently opposed, saying that what was wanted was not new thinking but more work and more faith. What could be a clearer indication of a deep need to suppress all doubt, both in herself and others?

Not many years later, she became a world-class celebrity with the film (and book) about her: "Something Beautiful for God," authored by the worldly English eccentric Malcolm Muggeridge. After that, her star power was so intense that the Church forgot Macaulay’s wisdom and gave up any attempt to discipline her apparently enthusiastic fundamentalism. If Santayana was right to define fanaticism as “redoubling your efforts when you have forgotten your aim,” then Mother Teresa’s international crusade against divorce, abortion and contraception was the tribute that doubt paid to certainty: a strenuous and almost hysterical effort to drown out the awful fear of “absence.” One strongly suspects that, like not a few overpromoted figures, she suffered from more self-hatred the more she was overpraised. (After receiving one of many international prizes, she wrote: “This means nothing to me, because I don’t have Him.”)

Not perhaps to push my analysis too far, but it could also explain some of the things that alarmed even her defenders: the accepting of stolen money from the Duvalier dictatorship in Haiti, for example, or the compromises she made with the tyrannical Indira Gandhi or the shady Charles Keating of savings-and-loan notoriety. Who cares about ignoble surrenders to the things of this impure world if they will fuel the endless drive to abolish misgiving through overwork? The same goes for the alarming doctrinal excesses. Every Catholic is supposed to regard abortion as an abomination (and, if it matters, I concur). But surely it takes someone both insecure and fanatical to exceed the official teaching and to tell the Nobel Prize audience, as she did, that abortion is the greatest threat to world peace?

Toward the end of her days, we have been informed by Archbishop D’Souza of Calcutta, her troubled and sleepless condition gave rise to such concern that she was subjected to an exorcism. According to this same clerical authority, the medieval banishment of the demons allowed her a good night’s sleep before her death. One is glad to learn of it, and to know that she found a sort of peace. But since then, she has been posthumously exploited for having worked a medical “miracle” from beyond the grave: an episode which (to put it mildly) no respectable Bengali physician can confirm. I say it as calmly as I can—the Church should have had the elementary decency to let the earth lie lightly on this troubled and miserable lady, and not to invoke her long anguish to recruit the credulous to a blind faith in which she herself had long ceased to believe.

Christopher Hitchens is a columnist for Vanity Fair and the author of “The Missionary Position: Mother Teresa in Theory and Practice.” His most recent book is “God Is Not Great."

Trang Tôn Giáo
avatar
Rửa mặt 01/12/2010 02:47:28
Xin Chào bạn Hoa Hồng!
Muốn cùng bạn trao đổi một số vấn đề sau.
Bạn viết: "Trước hết anh Phàm Phu cần biết Kinh thánh là cuốn sách có số lượng in nhiều nhất và bán chạy nhất từ trước tới nay. Theo ước tính đã có trên 3 tỷ cuốn Kinh thánh đã được in ra. Hiện nay, có khoảng 100 triệu cuốn Kinh thánh được bán ra mỗi năm, và con số này mỗi năm càng gia tăng.
Với số lượng in nhiều nhất như thế, số người đọc Kinh thánh cũng đứng hàng đầu. Nếu ước tính con số tối thiểu cứ mỗi cuốn sách được in ra có ít nhất 2 ngưới đọc, thì trên thế giới đã có trên 6 tỷ người đọc Kinh thánh. Kinh thánh còn là cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất trên thế giới.". Theo tôi, những số dữ liệu, những con số như vậy nó không phản ánh lên điều gì cả, xin đưa ra một ví dụ minh chứng. Nếu như ta trở về được quá khứ vài trăm năm và tới đất nước Hy Lạp cổ đại, khi mà việc thờ phụng các vị thần đang sùng thịnh. Rồi ta đến với các tín đồ thờ một vị Thần nào đó (chẳng hạn vị Thần gây ra mưa gió, bão lụt), và bảo với họ rằng: bạn ơi, không có vị Thần đó đâu, chỉ là những hiện tượng tự nhiên thôi. Tuy ta đã nói bằng tất cả lòng chân thành như vậy, nhưng họ có tin ta không. Chắc là không, (tất nhiên có thể có một số ít) ,nhưng phần lớn là không, vì điều đó nó vượt ra ngoài nhận thức, hình dung của họ. Còn cũng là vì họ thấy hàng triệu người dân nước họ đang thờ Thần đó, không chỉ vậy, Đức vua tôn kính của họ cũng đang tôn thờ Thần đó, rồi nhà vua mới cho dát vàng ở đền thờ Thần. Thế đấy có quá nhiều bức tường khổng lồ ngăn che để họ đến với sự thật. Còn ngày nay thì sao, ai thờ Thần đó nữa, những ngôi Đền dát vàng ngọc ngày xưa hoặc đã trở thành tàn tích, có chăng cũng chỉ là địa điểm để khách du lịch thăm quan.
Qua những điều đó, có thể coi như là một sự so sánh hoặc tương quan với dẫn chứng mà bạn nêu trên không. Cũng vậy, theo tôi nghĩ, không phải cứ ông tổng thống Mỹ, Nga, thủ tướng, Nữ hoàng Anh quốc theo thế nào là ta phải theo y như thế không. Điều cũng rất dễ hiểu, ở những đất nước đó mà người dân theo một Tôn Giáo chiếm số đông, thì những vị trên theo Tôn Giáo khác-họ có lên được những chức vị trên không.
Rồi điều nữa, có bạn vẫn còn cho là: Kinh Thánh từ mấy nghìn năm nay không thêm bớt một chữ. Thật vậy không, nếu vậy bây giờ các bạn cho rằng có vòm Trời dát bằng đá sao, hay nước cũng do Chúa của các bạn phán ra sao, và còn nhiều chỗ khác nữa, Nếu buộc phải nhận thức khác điều đó vì thời đại ngày nay khoa học kỹ thuật có thể chỉ cho ta những điều mắt thấy, tai nghe, những chứng cứ không thể phủ nhận, thì đó không phải là sửa thì là gì. Hay là các bạn quan trọng nét chữ, ký hiệu hơn là nhưng tư tưởng, nội dung mà nó chuyển tải.
Và nữa, có bạn vẫn còn cho rằng: "Chúa đã tiên liệu rằng ngày sau sẽ có rất nhiều người nổi chống đối". và xét thấy ngày nay có vẻ đúng như vậy. Nên cho đó là "sự tiên liệu kỳ diệu". Trước hết, tôi cũng biết những điều như vậy nó khá tế nhị, nhưng có lẽ chân lý, sự thực quan trọng hơn (có thể chưa hẳn là hoàn toàn nhưng để hướng tới điều đó) . Điều này, theo tôi nghĩ, việc Chúa có nói ra như vậy không thì cũng quá khó kiểm chứng (ở đây được hiểu sự thật như đúng nghĩa của nó). Nhưng có điều đó hay không, theo tôi, cũng không phải là vấn đề cần xác chứng lắm. Có nghĩa là ta xác quyết điều đó là do Chúa của các bạn nói ra. Nhưng có phải là "sự tiên liệu kỳ diệu" như nhiều bạn tâm niệm, theo tôi là không quá khó hiểu. Bởi một tư tưởng, một vấn đề ai đó đưa ra thì khi đem ra thảo luận, bàn bạc có nhiều ý kiến khác nhau nó là đương nhiên. Cũng vậy, việc Chúa của các bạn nói lên điều đó, có người cho chỉ là sự "rào đón" thì sao, và điều này nó cũng có ngay trong đời thường. Xin đưa một ví dụ: Ngày xưa, khi tôi học cấp hai, có một học sinh trong lớp vẽ bậy lên bảng. Sau đó, cô giáo vào lớp và điều tra chuyện này, cô giáo nói: "Tôi biết ai làm việc này rồi, tôi cho tự giác nhận lỗi. Nếu không sẽ đưa lên ban giám hiệu nhà trường". Thấy có vẻ to chuyện, hs đó đã đứng lên nhận làm việc đó. Khi lớn lên một chút, nghĩ lại chuyện này mới hiểu ra vấn đề...Trở lại điều Chúa các bạn nói, xét ở góc độ khác theo tôi nghĩ, không phải cứ có ai có ý kiến, nhận định khác, hoặc nghi ngờ những điều trong Kinh Thánh là cho họ chống đối Chúa của các bạn được. Ở đây, tôi nghĩ phải phân biệt hai phạm trù "CHỐNG ĐỐI và KIỂM CHỨNG". Chống đối thường dùng cho hai phía đối nghịch nhiều khi dùng thủ đoạn hoặc bóp méo sự thật nhằm triệt hạ đối phương. Còn kiểm chứng là việc xem xét, kiểm nghiệm, đối chứng vế vấn đề đưa ra trước đó. Nên vậy, Kinh Thánh đưa ra nhiều vấn đề về nhận thức thế giới nhân sinh quan...nên việc người khác, trường phái khác xem xét những điều trong Kinh Thánh và đưa ra quan điểm của họ với mục đích hướng tới chân lý là đương nhiên. Do đó, không thể xem những phản biện là chống đối được. Ví dụ như nhà bác học NewTon đưa ra những định luật, lý thuyết về vật lý, toán học..thì việc các nhà khoa học khác kiểm chứng những điều như vậy, không thể gọi là chống Newton được.
Xin phép tạm dừng bài viết tại đây (vì lý do cá nhân), Tôi sẽ trở lại vào thời gian sau.
avatar
Rửa mặt 02/12/2010 15:15:44
Xin có thêm ý về bài viết trên của bạn Hoa Hồng.
Trước hết, theo tôi nghĩ: trong diễn đàn này, những vấn đề chúng ta đưa ra thảo luận, bàn bạc nhằm làm sáng tỏ, chỉ ra cái đúng, cái sai mới là mục đích chính. Chứ không phải để ca ngợi đến cái gì siêu tuyệt-vượt trên thời đại, vượt trên khoa học...để kéo cho nhiều người đồng quan điểm với mình, với cái mình ca ngợi. Và ngay cả với mục đích đó, thì tôi nghĩ ở đây cũng vô tác dụng.
Với bài viết của bạn Hoa Hồng ở trên, bạn đưa ra rất nhiều dẫn chứng mà chủ yếu nhằm nói lên cái mà bạn cho là: "Sự tương quan giữa Kinh Thánh và Khoa học"
Phần tôi, xin có vài nhận xét sau:
Trước hết, Chỉ xét về mặt logic, sự tương quan của các vấn đề, sự việc, chứng dẫn đưa ra (chưa cần xét nội dung về Kinh Thánh và Khoa học), đã thấy có nhiều chỗ phi logic, lạc lõng, bất hợp lý. Cụ thể là, ở phần Kinh Thánh và Khoa học, bạn đưa ra rất nhiều chứng dẫn nhằm nói tới việc Kinh Thánh đã giải thích rất nhiều hiện tượng, sự việc vượt trước Khoa học rất xa, thậm chí còn soi đường chỉ lối, "mở mắt" cho nền Khoa học. Nhưng trước đó Hoa Hồng lại đưa ra dẫn chứng nói về việc Kinh Thánh được in nhiều nhất và được nhiều người đọc nhất trên Thế Giới ( 3 tỷ cuốn Kinh Thánh được in, 100 triệu được bán/ 1 năm, 2 tỷ người đọc) . Kinh Thánh đã vượt xa Khoa học thì những số liệu này có quan trọng lắm không bạn Hoa Hồng, hay là cả hai đều quan trọng?
Điều nữa, bạn đưa ra dẫn chứng:"Có một giáo sư tuyên bố trước sinh viên của mình: "Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay. Cầu nguyện thì đến bao giờ mới có mưa?" Mọi người nghe đều cảm thấy có lý. Tuy nhiên có một sinh viên mạng dạn giơ tay xin hỏi: "Vậy thưa giáo sư, giả sử Đức Chúa Trời không làm ra đám mây và đem đám mây ấy đến những nơi cần có mưa, các nhà khoa học lấy mây ở đâu , các điều kiện trong thiên nhiên để làm mưa nhân tạo?" Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia". Phần trên, bạn đưa ra bao nhiêu là dẫn chứng Kinh Thánh và Khoa học nào là: hình học, vũ trụ, hải dương học...tưởng đó là một việc làm nghiêm túc, khách quan. Thì lại đưa ra một cuộc đối thoại giữa một ông giáo sư với nhóm sinh viên, một cậu sinh viên (mà người đọc chỉ có thể hiểu đó là câu chuyện tưởng tượng). Theo tôi, chưa cần biết đến cốt lõi của câu chuyện đó mà bạn Hoa Hồng đưa ra như thế nào, mà chỉ cần xét đến đạo đức, thái độ của người đưa chuyện:"Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia". Thế đây là bạn muốn làm sáng tỏ vấn đề "Kinh Thánh và Khoa học" hay là quan trọng chuyện thắng thua, vùi dập kẻ bại trận hơn, bạn Hoa Hồng?
Điều nữa, tôi cho là phi logic giữa dẫn chứng bạn Hoa Hồng đưa ra và Kinh Thánh. Đọc toàn bộ bài viết trên của bạn Hoa Hồng, thì ta thấy Kinh Thánh như bạn đưa ra đi trước Khoa học rất xa, lĩnh vực nào Kinh Thánh cũng giải thích và giải thích khớp y như Khoa học, về:Vũ Trụ học, Y học, Hải dương học, toán học, thậm chí lượng tử...Nếu như vậy,sao trong Kinh Thánh vẫn còn tồn tại những vấn đề như: vòm trời dát bằng đá, nước được chứa trên vòm trời đó, Chúa chia ra ngày và đêm, Chúa phán ra nước, mặt đất dẹt như cái bánh...
Sự phi logic thứ ba, theo tôi là: giữa dẫn chứng bạn Hoa Hồng đưa ra và sự kiện lịch sử liên quan đến GHCG với một số nhà bác học. Trích dẫn chứng bạn Hoa Hồng đưa ra:"Về thiên văn học, cho đến khi ống kính viễn vọng ra đời, người ta chỉ biết được khoảng 1000 ngôi sao. Thế mà tiên tri Giê-rê-mi (khoảng 550 năm trước Công nguyên) viết trong Kinh Thánh rằng: "Người ta không thể đếm các cơ binh (vì sao) trên trời được" (sách Giê-rê-mi chương 33 câu 22). Ngày nay nhờ kính thiên văn viễn thông đặt ngoài bầu khí quyển người ta đã quan sát được 400 tỷ ngôi sao trong giải Ngân Hà và ngoài giải Ngân Hà của chúng ta ra còn có hàng trăm tỷ giải Ngân hà khác nữa. Mỗi một ngôi sao mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường có thể là một ngân hà xa xôi hàng tỷ năm ánh sáng. Đức Chúa Trời chẳng sáng tạo ra chúng một cách ào ào, vô tội vạ, nhưng Ngài còn "đếm số các vì sao và gọi từng tên hết thảy các vị ấy" (Sách Thi-thiên chương 147 câu 4). Điều ấy thật quả là khó tin cho trí óc con người , nhưng đã là Đức Chúa Trời, không có gì chi quá khó đối với Ngài". Bạn Hoa Hồng ơi, với những điều trên, thì tòa án CG La Mã có nên thiêu nhà triết học BRUNO năm 1600 không? (Giordano Bruno (1548 tại Nola - 17 tháng 2 năm 1600 tại Roma) là một nhà triết học, một linh mục, nhà vũ trụ học và nhà huyền bí người Ý. Bruno được biết đến là người ủng hộ Thuyết nhật tâm của Nicolaus Copernicus và ông là một trong những nhân vật đầu tiên đưa ra ý tưởng về một Trái Đất vô tận và đồng nhất. Bruno cho rằng vũ trụ là bao la vô tận trong đó có các sinh vật, các hành tinh chưa được khám phá.

Bruno bị tòa án La Mã kết tội là một dị giáo và bị hỏa thiêu tại Roma năm 1600. Ông được coi là tấm gương đầu tiên hy sinh cho khoa học.). Rồi có nên cấm nhà Thiên văn học GLILEI trình bày "thuyết nhật tâm" và quản thúc Ông trong những năm cuối đời không? (Sự bênh vực của Galileo dành cho Chủ nghĩa Copernicus đã gây tranh cãi trong đời ông. Quan điểm địa tâm đã là thống trị từ thời Aristotle, và sự tranh cãi nảy sinh sau khi Galileo trình bày thuyết nhật tâm như một minh chứng khiến giáo hội Công giáo Rôma cấm tuyên truyền nó như một sự thực đã được chứng minh, vì nó chưa được chứng minh theo kinh nghiệm ở thời điểm ấy và trái ngược với ý nghĩa của Kinh thánh.[10] Galileo cuối cùng buộc phải từ bỏ thuyết nhật tâm của mình và sống những ngày cuối đời trong cảnh bị quản thúc tại gia theo lệnh của Toà án dị giáo La Mã.). Và chính Giáo hoàng Jonn Paul II đã thừa nhận điều đó ( Ngày 31 tháng 11 năm 1992, Giáo hoàng John Paul II đã thể hiện sự hối tiếc về cách vụ Galileo được phán xét, và chính thức công nhận rằng Trái đất không đứng yên, như kết quả của một cuộc nghiên cứu do Viện Văn hoá Giáo hoàng tiến hành.[113][114] Tháng 3 năm 2008, Vatican đề nghị hoàn thành việc phục hồi cho Galileo bằng cách dựng một bức tượng ông bên trong những bức tường thành Vatican.[115] Tháng 12 cùng năm, trong các sự kiện kỷ niệm lần thứ 400 những quan sát thiên văn bằng kính viễn vọng sớm nhất của Galileo, Giáo hoàng Benedict XVI đã ca ngợi những đóng góp của ông cho thiên văn học)
Về đoạn đối thoại giữa vị giáo sư và một cậu sinh viên mà bạn Hoa hồng đưa ra :"Có một giáo sư tuyên bố trước sinh viên của mình: "Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay. Cầu nguyện thì đến bao giờ mới có mưa?" Mọi người nghe đều cảm thấy có lý. Tuy nhiên có một sinh viên mạng dạn giơ tay xin hỏi: "Vậy thưa giáo sư, giả sử Đức Chúa Trời không làm ra đám mây và đem đám mây ấy đến những nơi cần có mưa, các nhà khoa học lấy mây ở đâu , các điều kiện trong thiên nhiên để làm mưa nhân tạo?" Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia.". Theo tôi, suy sâu sâu hơn một chút thì chẳng có vấn đề gì đặt ra ở đây: không có kịch bản, không có vị giáo sư nào "đáng thương" cả. Mà tôi lại cho rằng chính bạn Hoa Hồng và cậu sinh viên kia mới đáng thương. Bởi nếu tất cả đều do Chúa của các bạn tạo ra thì: chẳng cần câu chuyện gì về mây trời gì cho phức tạp, mà chỉ cần xét ở máy bay và hóa chất. Nhưng tôi lại e rằng, khi tôi nói vấn đề này ra thì chính bạn Hoa Hồng và cậu sinh viên kia phải xem lại mình hiểu biết về Kinh Thánh đến đâu, và đức tin vào Chúa còn quá mỏng. Tôi xin minh chứng vấn đề: giả sử có vị giáo sư kia nói như vậy:"Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay. Cầu nguyện thì đến bao giờ mới có mưa?". Thế đấy, vị giáo sư kia chỉ nói như vậy mà cậu sinh viên và bạn Hoa Hồng đã mất phương hướng rồi. Bằng chứng là cậu sinh viên kia và bạn Hoa Hồng phải cuốn theo vấn đề vị giáo sư kia đặt ra là"Mọi người nghe đều cảm thấy có lý. Tuy nhiên có một sinh viên mạng dạn giơ tay xin hỏi: "Vậy thưa giáo sư, giả sử Đức Chúa Trời không làm ra đám mây và đem đám mây ấy đến những nơi cần có mưa, các nhà khoa học lấy mây ở đâu , các điều kiện trong thiên nhiên để làm mưa nhân tạo?" Há miệng mắc quai, xin chúng ta hình dung ra nét mặt lúng túng của vị giáo sư đáng thương kia.". Nếu bạn Hoa Hồng và cậu sv kia hiểu sâu về Kinh Thánh và niềm tin sắt đá vào Chúa của bạn thì chẳng cần giải thích mưa nhân tạo, cũng chẳng cần trả đũa để ông giáo sư kia trở nên "đáng thương". Vấn đề chỉ nằm ở máy bay và hóa chất. Vì máy bay kia ai làm ra?-Con người. Để làm ra nó cần: sắt , thép, đồng, chì, điện, nhiệt, nước, khí....Nhưng theo Kinh Thánh, những thứ như vậy đều do Chúa trực tiếp làm ra hoặc gián tiếp. Vậy, hiển nhiên là:không Chúa thì không Máy bay. Hóa chất gây mưa ai làm ra?-Con người. Để làm được hóa chất cần nhiều yếu tố, chẳng hạn như: phải khai thác chất nguyên liệu từ mỏ nào đó hoặc chiết suất từ thảo dược..và có thể cũng cần: nước, khí , dây chuyền sản xuất , điện....Những thứ đó cũng đối chiếu vào Kinh Thành. suy ra "chân lý": không Chúa thì không hóa chất gây mưa. Rõ ràng con người không "vắt" được Máy bay và hóa chất gây mưa từ hư không. Mà những thứ đó là điều kiện thiết yếu để gây mưa nhân tạo .Tất cả những điều đó , tôi xin đưa ra một vài nhận định sau: về vị giáo sư kia, không biết về chức danh "giáo sư" đó thì nên do "tổ chức" nào phong thì hợp nhất (đúng là do ông ta nghi vấn:Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên ). Là vì ông ta đã đặt vấn đề liên quan đến"Đức Chúa Trời"- và rõ ràng là ông ta phải biết đến "Sáng thế ký". Thế mà vẫn đặt ra câu vấn đề"Bây giờ khoa học đã phát triển, kỹ nghệ trở nên vô cùng hữu dụng, nhân loại chẳng cần đến Đức Chúa Trời nữa. Nếu muốn có mưa, các nhà khoa học đem máy bay lên không trung, rải hóa chất xuống đám mây là có mưa ngay", mà không nghĩ đến "Máy bay và hóa chất xúc tác gây mưa nhân tạo" tương quan đến "Đức Chúa Trời " như thế nào. Còn nếu như ông giáo sư kia biết những điều như vậy, và đặt ra câu hỏi "mang kế khích tướng" để xem sinh viên của ông phản ứng thế nào (cũng như bạn Hoa hồng). Nếu thế thì chính cậu sinh viên kia và bạn Hoa Hồng mới có "vấn đề" về hiểu biết Kinh Thánh cũng như niềm tin vào Chúa của các bạn.Phần ông giáo sư kia hoàn toàn xứng đáng với chức danh đó do tổ chức khoa học uy tín phong cho.
avatar
Nguyen Tien 06/12/2010 16:19:55
Từ lâu tôi đã có ý định viết một bài essay về Thượng đế. Nay vấn đề này lại nổi lên như cồn, tôi đành lòng phải xen vào, những mong làm sáng tõ, thứ tỉnh những ai còn mông muội tin vào sự hiện hữu của Thượng đế, với những lập luận ngắn gọn nên có thể nói chưa hết ý như sau:
1) Nếu vũ trụ này giới hạn thì Thượng dế cũng phải giới hạn. Nhưng nếu Thượng đế giới hạn thì "Ông" không còn là Thượng đế nữa vì ý tưởng này đi ngược lại tình toàn năng vô hạn của "Ông"
2) .Nếu vũ trụ vô hạn mà Thượng đế cũng vô hạn. " Cái vô hạn sinh ra cái vô hạn" là một lối nói trùng phức (tautologie). Cả hai hạn từ( vô hạn) là một! Nói cách khác, Thượng đế đã hiện hữu, "nằm lọt"trong cái vô hạn đó rồi và Thượng đế bất động, chưa từng làm bất cứ một sáng tạo nào cả.
Còn nếu vũ trụ này vô hạn thì Thượng đế cũng vô hạn, tức cái vô hạn này sinh ra cái vô hạn khác. Cái sinh ra( Thượng đế) và cái được sinh ( vũ trụ) phải là 2 thực thể khác nhau. Như thế vũ trụ này có 2 cái vô hạn, nói như thế lại là một lối phản lý luân vì cái vô hạn thứ nhất vốn tự thân đã bao gồm cái vô hạn thứ hai. Đó là một lối nói quẩn.
3) Nếu vũ trụ này hữu hạn mà Thượng đế vô hạn thì Thượng đế là kẻ bất toàn, hơn nữa lại đi ngược lại tín ngưỡng đã có sẳn của bất cứ tôn giáo nào về tính toàn năng toàn lực của "Ông"
3) Nếu vũ trụ này được Thượng đế tạo ra thì trước đó chưa có gì cả. Một cái bánh thì phải có bột và đường và người nắn ra chưa kể muôn ngàn nhân duyên khác, chứ không chỉ có 3 yếu tố đơn giản như thế( xin đọc lý nhân duyên của nhà Phật!) Ý nói muốn có quả (vũ trụ) thì phải có nhân (tác nhân tạo ra). Vây Thượng đế lấy vật liệu gì để tạo ra vũ trụ, chưa kể đến yếu tố về một Thượng đế tự hữu: Thượng đế tự sinh ra, chẳng khác gì một đứa con ra đời mà không có một tác nhân là cha mẹ. Đây là một vòng lẩn quẩn, gà què đá quẩn cối xay( cercle vicieux) điên đảo, không lối thoát!
4) Vạn hữu này tuyệt đối quét sạch ý niệm về tính ngẫu nhiên:Thượng đế không thể tự hữu mà phải có mẹ, dĩ nhiên cũng phải có cha nữa; nếu người mẹ đó không chửa hoang mà dấu cho khỏi miệng đời dèm pha, bêu xấu. Như thế lại đi vào lối bí khác nếu không muốn nói là ăn bậy, nói càn!
Đây là những luận cứ mà tôi gọi, một cách chuyên môn triết học, " đao to búa lớn" là "luân cứ hữu thể học" đã gây thao thức biết bao năm khi còn học Triết ở cấp trung học ( ban B Toán). Rồi sau đó khi lên đại ọc tôi lại chuyển qua học Văn khoa Triết cho tới nơi về sư hiện hữu của Thương đế.Sau đó gặp duyên may gầ với đạo Phật, vấn đề trên lại càng được giáo lý nhà Phật gải thích rõ ràng thì tôi lại thư thái nhẹ nhàng vì tri thức tôi đả được Phật giải thích rõ ràng và mừng rỡ vì đã được bậc trí nhân dạy dỗ cho.
Nếu có thì giờ thì sẽ nói không cùng, nay xin góp mộ vài gióng với các bạn. Mong các bạn tha thứ nếu thấy chỗ nào bị đánh máy lộn. Xin chào
avatar
Zen Trader 21/02/2011 18:53:17
Xin đăng trích lại bài "Khoa Học Trong Kinh Thánh?" của Giáo sư Trần Chung Ngọc
---> http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-dan/doi-thoai/5305-Khoa-hoc-trong-kinh-Thanh.html
avatar
Rửa mặt 27/03/2011 23:53:14
Trong buổi bình minh của nhân loại, trước những hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, sấm, sét, lũ lụt,...con người thời đó không hiểu những hiện tượng đó do đâu mà ra. Đặt ra những câu hỏi đó, không phải chỉ để thỏa mãn cho sự khám phá, sự hiểu biết hay tò mò, mà còn bởi những hiện tượng như vậy nó tác động trực tiếp đến sự sinh tồn của loài người, nhiều khi còn gây ra bao thảm họa cho con người. Và rồi, các vị Thần ra đời: mưa, gió, sấm, sét, lũ lụt... đều do mỗi vị Thần tạo nên và gây ra. Chính vì vậy, ở khắp mọi nơi đều tôn xưng, thờ phụng các vị Thần tùy theo đặc thù, quan niệm của từng vùng, từng bộ tộc. Tôn xưng, thờ phụng, cầu khẩn Thần, với mục đích được thần bao bọc, chở che và xin Thần không giáng những tai họa đó cho con người.
Rồi, theo thời gian, nhân loại tiến hóa dần, nhận thức, hiểu biết của loài người tiến hóa dần. Và cho đến ngày nay, nhân loại đã có một nền khoa học phát triển rực rỡ. Dưới ánh sáng của khoa học, con người đã khám phá ra những nguyên do của những hiện tượng thiên nhiên đó. Chính vì vậy, có thể nói, ngày nay, 99/% các vị Thần ngày xưa đã vĩnh viễn bị loại bỏ trong nhận thức và hành động của loài người. Nhưng có lẽ không phải chờ đến ngày hôm nay mà cách đây hơn hai nghìn năm, đã có một tôn giáo đã loại bỏ các vị thần, và thần tạo những hiện tượng như vậy ngay từ khi xuất hiện. Đó chính là Phật Giáo. Với thuyết: Duyên sinh, Duyên khởi của tôn giáo này, thì đâu còn chỗ đứng cho bất kỳ một vị thần nào. Chỉ khác ngày nay về vấn đề này có một điều: với sự phát triển của khoa học, công nghệ, con người đã có những công cụ trực quan, những thí nghiệm trực quan, nên việc loại bỏ thần, thần tạo được sự công nhận mang tính toàn thể hơn.
Những bài học về thần, thần tạo, và việc loại bỏ thần, thần tạo như vậy, nó không chỉ có ý nghĩa giúp cho loài người bước ra khỏi bóng tối, quờ quạng trong vô minh ở mặt nhận thức, mà còn giúp cho con người thoát khỏi những hành động vô minh tự gây ra bao tai hại. Không chỉ vậy, nó còn là bài học cảnh tỉnh con người thoát khỏi những nhận thức và hành động vô minh trong những lĩnh vực khác. Ví dụ cụ thể: Một người dùng chiếc chậu nhôm làm món rau trộn, và vắt chanh vào đó, làm một vài lần; hoặc dùng chậu đó đem đựng dấm. Một thời gian ngắn sau, thấy chiếc chậu đó nhanh bị hỏng, hoặc dấm thì bị rò rỉ ra ngoài mà không biết nguyên do ra sao. Khoa học giải thích hiện tượng đó như sau: vì trong quả chanh hay dấm đều có những hợp chất axit, chất axit phản ứng hóa học với nhôm nên gây nên hiện tượng ăn mòn đó. Nên vậy, chính vì nhận thức nằm trong vô minh dẫn tới những hành động vô minh.
Tuy nhiên, không phải mọi lý thuyết khoa học đều chính xác ngay từ ban đầu. Mặc dù mọi lý thuyết khoa học đều được xây dựng bởi một quá trình tìm tòi, nghiên cứu, kiểm nghiệm, thực nghiệm khắt khe. Nhưng tinh thần khoa học thì luôn cầu thị chân lý, sự thực. Chính vì thế, khoa học luôn đón nhận mọi phản biện, mọi đóng góp để xây dựng những lý thuyết mới, và sẵn sàng loại bỏ những lý thuyết cũ không còn phù hợp hoặc không áp dụng được ở phạm vi phổ quát hơn. Về điểm này, ta cũng thấy trong nhiều Kinh điển của Nhà Phật như: Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bát Niết Bàn,...được xây dựng không chỉ bởi sự tuyên thuyết của Đức Phật, mà là sự đối đáp, phản biện giữa Đại đệ tử và Đức Phật. Và triết lý Phật Giáo luôn sẵn sàng đón nhận mọi phản biện, kiểm chứng từ nhiều phía. Nhưng sự khác biệt giữa triết lý Phật Giáo và lý thuyết khoa học theo tôi nghĩ là, cốt lõi triết lý Phật Giáo được xây dựng bởi tuyên bố từ sự chứng nghiệm chân lý của Đức Phật, cho nên nó là sự thống nhất xuyên suốt theo thời gian; còn hệ thống lý thuyết khoa học cũ có thể được thay thế bằng hệ thống lý thuyết mới. Vì vậy, nếu xảy ra sự phủ định, thì với triết lý của đạo Phật sẽ là sự phủ định toàn bộ; còn lý thuyết khoa học phủ định theo giai đoạn (đứng trên bình diện chân lý).
avatar
tuhoc 13/05/2011 01:58:52
Rất may trong diễn đàn còn có các vị tri thức am hiểu, thật là mình được khai thị thêm nhờ các bạn. Thú thật mình chỉ hiểu ít phần những gì các bạn đang tranh luận, nhưng cũng làm mình tăng thêm niềm tin vào Chánh Pháp. Cảm ơn các bạn.
Đúng là Đạo Phật rất cần những vị am hiểu lịch sử, triết học như vầy, để người con Phật vững tin vào Chánh Pháp, không bị dẫn dắt bởi các lý luận vô căn cứ, ngụy biện.
avatar
Rửa Mặt 05/07/2011 21:16:40
Gần đây, tôi có vào trang nhà ConggiaoVietNam.net, thấy đăng bài :"ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC", của Tác giả: Gm. Nguyễn Thái Hợp. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến con đường cứu rỗi (hay cứu độ?) của ĐỨC GIÊSU KITÔ trong Thiên Chúa Giáo và mối tương quan đến những con đường cứu độ của các tôn giáo khác. Đọc xong bài viết này, tôi thấy muốn nêu lên mấy ý kiến của mình, nhưng vì trong website đăng bài viết trên không có phần "comment", nên không thể thực hiện được điều đó. Qua trang nhà Đạo Phật Ngày Nay, tôi rất mong được nêu lên những ý kiến đó, nếu có thể được.
Sau đây, tôi xin có mấy ý kiến về bài :"ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC", của Tác giả: Gm. Nguyễn Thái Hợp. Và tôi cũng chỉ có ý kiến về chủ đề :":"ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ CỦA ĐẠO PHẬT", được suy ra từ bài viết đó, với vốn hiêủ biết về Đạo Phật của mình.Thứ hai là, vấn đề "Ông Trời" theo quan niệm dân gian Việt Nam, từ bài viết.
Trích một số đoạn từ bài của Tác giả, Gm. Nguyễn Thái Hợp :
.
Vai trò độc sáng của Đức Kitô

Truyền thống Kitô giáo luôn đề cao và xác quyết vai trò trung gian cứu độ của Đức Kitô. Nhưng từ sau Công đồng Vatican II, Giáo hội Công giáo cũng công nhận giá trị tích cực của các tôn giáo khác trong nhiệm cục cứu độ. Làm sao nối kết hai xác quyết có vẻ trái ngược đó? Phải chăng vấn đề căn bản ở đây là nên hiểu như thế nào “vai trò trung gian duy nhất” của Đức Kitô và đâu là mối tương quan giữa Ngài với những khuôn mặt cứu độ khác?

Trước hết cần xác định ý nghĩa của từ “trung gian”. Tân ước dùng hạn từ “trung gian” (mesitès) vừa nói về Đức Giêsu (1 Tm 2,5; Dt 8,6; 9,15; 12,24) vừa ám chỉ Maisen (Gal 3,19- 20). Tuy cùng dùng một chữ, nhưng hai trường hợp này có ý nghĩa khác nhau. Maisen được gọi làm “trung gian” giữa Thiên chúa và dân tộc của ông để thiết lập Giao ước theo sáng kiến của Thiên Chúa. Đức Kitô, trái lại, là Đấng “trung gian” giữa Thiên Chúa và nhân loại, vì nơi Ngài thiên tính và nhân tính đã kết hợp chặt chẽ: “qua biến cố nhập thể của Đức Kitô, trong một mức độ nào đó Con Thiên Chúa đã kết hợp với mọi người”.

Truyền thống cũng quan niệm sứ vụ “trung gian” của Đức Giêsu-Kitô mang tính độc đáo và duy nhất. Suốt dọc Tân ước, con người của Đức Kitô luôn được đặt nổi và được trình bày như nguồn hy vọng lớn lao cho lịch sử nhân loại. Tước hiệu vương giả bằng tiếng Arameo của Ngài là “Mar”, nghĩa là Vua, Đức Chúa. Theo truyền thống kỳ cựu nhất của Kitô giáo, có tương quan chặt chẽ giữa biến cố của lịch sứ của Đức Giêsu Nazareth với sự hiện diện của Nước Trời. Chính Ngài là vị “ngôn sứ chung kết” và là “Đức Chúa phải đến”. “Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến”, đó là một âm hưởng lời kinh Do thái–Arameo còn khá đậm nét nơi một số bản văn Tân ước.
...
Nhưng phải chăng chủ trương vai trò trung gian cứu độ của Đức Kitô đương nhiên bao hàm quan điểm loại trừ mọi hình thức trung gian khác? Nếu như vậy số phận những người ngoài Kitô giáo sẽ ra sao? Tất cả những người ăn ngay ở lành, nhưng vì một lý do nào đó chưa nghe biết Tin Mừng hay chưa gia nhập Đạo Chúa sẽ bị luận phạt hay sao? Không lẽ Thiên Chúa, Đấng giàu lòng từ bi nhân hậu và cũng là “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1Tm 2,4) lại đối sử với những người ngoài Kitô giáo như thế hay sao? Chúng ta phải hiểu và giải thích những bản văn này như thế nào trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo hôm nay?

Tất cả những khúc mắc của vấn đề có lẽ tùy thuộc cách hiểu và giải thích vai trò trung gian của Đức Kitô trong nhiệm cục cứu độ. Trước đây, người ta thường hiểu “vai trò trung gian” này theo nghĩa “duy nhất tính”, độc nhất, tuyệt đối khép kín và loại trừ. Với hướng đi của Vatican II, chúng ta có thể duy trì đồng thời vai trò trung gian của Đức Kitô với sự hiện diện của những con đường cứu độ khác.

Bản góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam gởi Thượng Hội đồng Giám mục Á châu cũng nhìn thấy điểm khó khăn nhất ở đây chính là vấn đề Kitô học: “Nếu trong bối cảnh đa diện của các tôn giáo và các nền văn hóa ta nhận ra hoạt động của Thần khí Chúa dẫn đưa các dân tộc Á châu tới Đức Kitô và Tin Mừng cứu rỗi của Ngài, thì một trong những vấn nạn lớn nhất được đặt ra cho công việc rao giảng Tin Mừng tại Châu Á là “làm cách nào Giáo hội tại châu Á có thể giải thích về Đức Giêsu-Kitô Cứu Chúa, Cứu Chúa duy nhất, Đấng Trung gian cứu độ duy nhất, khác biệt hẳn với các vị sáng lập các tôn giáo lớn tại Á châu?”(IL. 30).

Đồng thời Bản góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề nghị giải thích vai trò trung gian của Đức Kitô như sau: “Chúng tôi hiểu từ “duy nhất” (seul, unique) không theo nghĩa loại trừ (exclusive), nhưng trong tính ưu việt, tuyệt hảo (excellent) của nó . Như thế người Á Đông, trong vũ trụ quan và khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa vô song giữa Thiên-Địa-Nhân, tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định, ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước. Một Kitô học như thế, không những không thể phủ nhận vai trò Cứu Chúa duy nhất của Đức Kitô, mà còn có thể mở ra một ý niệm hiệp thông đầy sinh động.
Tôi không hiểu phần:"Như thế người Á Đông, trong vũ trụ quan và khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa vô song giữa Thiên-Địa-Nhân, tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định, ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước. Một Kitô học như thế, không những không thể phủ nhận vai trò Cứu Chúa duy nhất của Đức Kitô, mà còn có thể mở ra một ý niệm hiệp thông đầy sinh động”. Thiên-Địa-Nhân, đặt trong sự khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa, thế thì "Thiên" ở đây là thiên nhiên hay "Thiên Chúa- trong Thiên Chúa Giáo. Riêng tôi cho rằng, với người xưa, thì họ chỉ ước ao, cầu mong làm sao cho mưa thuận gió hòa để sản xuất, trồng cấy được thuận lợi; không xảy ra những tai họa: bão tố, lũ lụt...Và có thể nói đó là những khát vọng về sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Còn ngày nay, vấn đề tài nguyên, môi trường đang là vấn đề nóng bỏng đối với nhân loại; và cũng đã có nhiều cá nhân, tổ chức, chính phủ tìm kiếm những giải pháp để bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên.
Nhưng nhận định :"tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định". Nếu tác giả cho rằng 'Thiên Chúa là Đấng sáng tạo", còn lại tất cả là "loài thụ tạo, vật thụ tạo"; hay Đấng Kitô Giêsu là "trung gian duy nhất"...thì tất cả đó là việc của tác giả và Giáo hội Công Giáo. Nhưng tác giả hãy chỉ rõ cho biết đạo Phật "đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định", được biểu hiện như thế nào không ạ; những "thành quả nhất định" là những thành quả gì. Và có nghĩa là để có được "thành quả mỹ mãn" thì phải là "ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước". Theo tôi nghĩ, những tín đồ đạo Phật biết đến "Tin Mừng của Đức Kitô" và Kinh Thánh thì chắc có rất nhiều người biết, và biết đến từ lâu. Nhưng "Tìm thấy-thấy trong sự tìm, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước", thì không biết có tài liệu nào thống kê số người thỏa được "sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước".
Thứ hai là, quan niệm "Ông Trời" theo quan niệm của dân gian Việt Nam và Thiên Chúa, theo như bài viết:"Ở đây vốn đã sẵn có một vũ trụ quan, một nhân sinh quan và một quan niệm tôn giáo rất phong phú và còn khá vững chắc. Tại đây, phần lớn người ta không phải là không biết đến Thiên Chúa, trái lại, họ cũng đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Người một cách nào đó và gọi Người bằng những tên khác nhau như là Trời, là Thiên, là Brahman v.v... Do đó, “truyền giáo” không phải là giới thiệu một Thiên Chúa, một Đức Kitô hoàn toàn xa lạ, mà một cách nào đó, có thể nói là “làm sáng tỏ cái đức sáng” (minh minh đức) vốn đã hiện hữu tiềm tàng hay là giúp cho người ta “ngộ” được cái chân lý, mà theo Công đồng Vatican II, phần nào đã có trong các tôn giáo khác, đặc biệt là của Á châu”.
Trời và Đất là một trong những quan niệm phổ biến nhất, có thể là tất nhiên, của mọi dân tộc, mọi vùng trên trái đất từ xa xưa, nó giống như khái nệm: cao-thấp, xa- gần. Còn "Ông Trời" ,theo quan niệm của dân gian Việt nam là sự "đổ thừa",xuất phát từ đời sống, số phận của con người thời xa xưa: được-mất, lợi-hại, may-rủi...; hay những hiện tượng thiên nhiên như: nắng, mưa, sấm sét, bão lụt, và sự ảnh hưởng của những hiện tượng thiên nhiên đó đến sản xuất, trồng cấy...Ta thử liên hệ quan niệm "Ông Trời" với quan niệm dân gian khác như: "Chú Cuội ngồi gốc cây đa", "Ông Thiên lôi", "Gấu ăn Trăng", xem "ông Trời" có khác gì, hay vượt ra ngoài quan niệm của dân gian.
Nhưng một số những vùng, dân tộc khác thì họ lại "đổ thừa" cho "Thần linh" theo quan niệm của từng vùng, miền đó: chẳng hạn như vùng sơn cước, thì họ lại cho rằng Thần rừng, Thần núi chi phối, tác động đến đời sống, số phận của họ.
avatar
Quan 06/07/2011 22:52:25
Con người cần ăn trước đã ,sau đó mới có sức mà nghe các nhà khoa học nói thế này thế nọ .Vì ông bà ta hay nói :Có thực mới giựt được đạo mà .
Thế nhưng các tổ chức từ thiện không phải của các nhà khoa học mà là của các tôn giáo !hihi.
Và kết quả thống kê những người tin tôn giáo đặc biệt là tin Thượng Đế nhiều hơn tin các nhà khoa học ,hihi!
Reply Tán thành Không tán thành
-5
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Rửa Mặt 07/07/2011 14:47:05
Câu nói của người xưa, lưu truyền trong dân gian:"Có thực mới vực được đạo", theo tôi nghĩ là:
Từ "thực", trong câu nói đó, nên hiểu là "cái ăn- trước đã" hay nghĩa là "sự thực, sự thật, chân lý", để đúng với ý mà người xưa gửi gắm trong đó ? Nếu hiểu: phải có "tài vật" trước thì mới dựng (vực)được lên "Đạo", tức trọng tâm ở đây là "tài vật". Hoặc là, phải có cái ăn trước đã, thì họ mới đi nghe được "Đạo". Tuy xét trong thực tế, thì điều đó là đúng, nhưng "cái Đạo" đặt trong ngữ cảnh đó, mà hiểu như vậy, thì không có chút ý nghĩa, giá trị gì. Có thể ngầm hiểu là:" Đạo ra sao thì chưa biết, nhưng cứ phải có cái "thực" (xét như trên), thì mới vực lên, dựng thành, tiếp nhận được"
Riêng tôi thì cho rằng, từ"Thực",mà người xưa gửi gắm trong câu nói đó, là "cái sự thật, cái chân lý". Tức là cái Đạo chứa trong đó cái chân lý, thì nó vĩnh hằng như chính chân lý vậy. Hoặc còn có thể suy luận: Nếu cái Đạo ẩn chứa trong đó tính chân lý, trong lúc có suy về "hình thức Đạo" trong thời điểm nào đó, nhưng chắc chắn nó sẽ thịnh lên (vực dậy, vực lên). Bởi ngay từ đầu, "Nó" đã được xây dựng trên nền tảng "chân lý". Còn, nếu chỉ mang "hình thức Đạo", mà nền tảng, cốt lõi là sai lầm, thì trước sau gì cũng bị loại bỏ. Và có thể chuyển câu nói đó thành :"Không thực chẳng vực được đạo". Thế nên câu nói:"Có thực mới vực được đạo", nghĩa là: "Có là chân lý, sự thât thì mới vực lên được đạo lý"; Chứ không lẽ lại là: "Có cái ăn, tài vật, trước đã, thì mới vực lên được đạo lý".
avatar
Rửa Mặt 07/07/2011 20:54:05
Như chúng ta đã biết, con người gồm có hai mặt : Tinh thần và Thể xác. Tinh thần được biểu hiện qua: Tính tình, sở thích, nhận biết, tư duy trừu tượng, quan điểm, quan niệm. Do đó, mọi sinh hoạt đời sống xã hội của loài người đều từ Tinh thần mà ra, và tác động ngược qua lại. Mọi quan niệm, quan điểm, văn hóa, phong tục, tôn giáo; khoa học kỹ thuật, phát minh, tạo ra sản phẩm vật chất(-từ cái kim, cho đến con tàu vũ trụ...)... có thể nói, đều xuất phát từ tinh thần, biểu hiện của tinh thần.
Theo quan điểm của Thiên Chúa giáo:
Đức Chúa Trời là Đấng có trước (đặt trong mối tương quan đối với "vật thụ tạo, loài thụ tạo" ), hay chính là Đấng hằng hữu. Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo ra Trời và Đất, mọi vật trên mặt đất; và con người.
Về phần con người:
Theo sách "Sáng thế ký", trong Kinh Cựu ước, Đức Chúa Trời tạo ra con người từ đất sét, rồi thổi "Thần khí" vào lỗ mũi. Vậy, theo như trên, Tinh thần coi như (hoặc là) Thần khí; Thân xác coi như (hoặc là) Đất sét-đã được Chúa Trời tác động. Và Tinh thần, hay Thể xác, thì chắc là hành nghìn năm trước, con người cũng thấy như vậy, nó hiển nhiên như con người, nay và xưa, nhìn thấy: kia là cái cây, còn vật nọ là tảng đá.
Qua những điều trên,để tôi dùng làm dữ liệu cho mấy ý kiến của tôi về bài viết:"ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC ", của Tác giả: Gm. Nguyễn Thái Hợp.
Trong bài, tác giả viết:"Đóng góp đặc biệt nhất của giáo chủ Gioan Phaolô II cho nền “thần học về các tôn giáo” có lẽ là xác quyết sự hiện diện tích cực của Thánh linh trong đời sống tâm linh của tín đồ các tôn giáo khác. Ngay trong thông điệp đầu tiên “Đấng Cứu độ nhân loại”(1979), ngài tự vấn: “Phải chăng một vài lần niềm tin kiên cường của tín dồ các tôn giáo khác – mà thực sự niềm tin này cũng phát xuất từ Thánh Thần chân lý, Đấng tác động ngay cả bên ngoài ranh giới hữu hình của Nhiệm tích- làm cho người Kitô hữu phải hổ thẹn, bởi vì thường xuyên nghi ngờ chân lý do Thiên Chúa mạc khải và được Giáo hội loan truyền”[1].

Chấp nhận sự hiện diện của Thánh linh ở bên trong cũng như bên ngoài Giáo hội, đức Gioan Phaolô nhìn thấy nơi các tôn giáo khác “những phản ảnh của chân lý duy nhất, các hạt giống của Ngôi Lời” (RH.11) đang dẫn dắt nhân loại về một hướng duy nhất, bất chấp những con đường chọn lựa có khác biệt nhau đến đâu chăng nữa.
Đặc biệt trong “Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi”, sau khi chứng kiến sự kiện tất cả các tham dự viên cầu nguyện cho hòa bình theo căn tính tôn giáo riêng biệt, đức Gioan Phaolô càng xác tín hơn nơi sự hiện diện và sức tác động của Thánh linh: “Tất cả lời cầu nguyện đích thực đều do ảnh hưởng của Thánh linh, chính Ngài dạy chúng ta là những kẻ yếu hèn biết cách cầu nguyện, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải đạo, chính Ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can biết Thần khí muốn nói gì. Thật vậy, chúng ta cần ghi nhớ rằng tất cả lời cầu đích thực đều phát xuất từ Thánh linh, Đấng hiện diện một cách huyền nhiệm trong tâm hồn mọi người”.
Hoạt động của Thần khí trong lịch sử cứu độ được đặt nổi hơn nữa trong thông điệp về Chúa Thánh Thần (Dominum et vivificantem) (1986). Đức Gioan Phaolô II tái xác nhận hoạt động phổ quát của Thần khí từ trước biến cố cứu độ của Đức Giêsu Kitô và ngay ở bên ngoài phạm vi của Kitô giáo. “Không thể nào tự giới hạn nơi hai ngàn năm sau cùng, kể từ biến cố Giáng sinh của Đức Giêsu. Cần phải ngược dòng thời gian, ôm choàng tất cả hoạt động của Thánh linh từ trước biến cố Đức Kitô – ngay từ khởi thủy – trong toàn thế giới và đặc biệt trong lịch sử cứu độ của Cựu ước. Thực vậy tác động của Thánh linh được thể hiện ở mọi thời, mọi nơi và trong mọi người, theo chương trình cứu độ phổ quát, qua đó hoạt động của Thánh linh được nối kết chặt chẽ với mầu nhiệm nhập thể và cứu thế (...). Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn xa hơn và rộng hơn, khi biết rằng “gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3,8). Công đồng Vatican II, chú trọng đặc biệt ở đề tài Giáo hội, nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Thánh linh cũng hoạt động “ở bên ngoài” thân thể hữu hình của Giáo hội. Công đồng công nhận Thánh linh hoạt động nơi “tất cả tâm hồn thiện chí”(GS.22) chứ không chỉ nơi các Kitô hữu mà thôi” (số 53).

Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành ngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt rằng Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa: “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian(...). Thần khí là (...) căn nguyên của nỗi khắc khoải hiện sinh và tôn giáo của con người, nỗi khắc khoải phát xuất không những từ những điều kiện bất tất mà còn từ chính cơ cấu của hữu thể nhân loại. Sự hiện hữu và hoạt động của Thần khí không phải chỉ liên quan tới các cá nhân, mà còn liên quan đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các văn hóa và các tôn giáo” (số 28).
*Ta thấy, Con đường cứu độ, như đạo Phật, thì xuất phát từ đâu? Có phải là từ Giáo Chủ sáng lập không ạ? Mà Giáo Chủ cũng là Người, hay chí ít cũng mang hình con người. Mà đã là con người thì cũng gồm: Tinh thần và Thể xác. Vậy từ đâu con đường cứu độ được đưa ra? Có phải cũng là Tinh thần không ạ. Và có tự "ngấm" vào thể xác con người, biến những người đó thành tín đồ không.
Vậy, có cần Giáo hội phải xác quyết:"Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành ngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt rằng Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa: “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian(...). Thần khí là (...) căn nguyên của nỗi khắc khoải hiện sinh và tôn..." (?)
Nhưng, vấn đề là, Đạo Phật không cho rằng có một Đấng tạo ra tất cả, nên đương nhiên là, cái mặt Tinh thần kia không liên quan gì đến khái niệm "Thần khí" cả.
Xin có một vấn đề đặt ra ( được suy ra theo diễn tiến loogic, với điều kiện "Nếu điều đó" ):


Gỉa sử có một Phật tử, hay tín đồ tôn giáo khác, chấp nhận có "Thần khí Thiên Chúa", "Thánh linh", theo đúng như GH xác quyết (như trên). Thì theo tác giả, có thể xảy ra trường hợp :"Với hướng đi của Vatican II, chúng ta có thể duy trì đồng thời vai trò trung gian của Đức Kitô với sự hiện diện của những con đường cứu độ khác.
Từ đó sứ vụ rao giảng Tin Mừng không phải để phá đổ mà nhằm làm triển nở “tất cả những gì thiện hảo trong tâm hồn và tư tưởng con người hoặc trong các lễ nghi và văn hóa của họ” (Lumen Gentium, 17). Do đó, tất cả những gì thiện hảo, đã được gieo trong tâm hồn con người hay trong các tôn giáo và văn hóa của các dân tộc sẽ không bị hủy diệt, mà được thanh lọc, thăng tiến và hoàn thiện hóa (Ad Gentes, 9)."
Hay, ban đầu sẽ là, "da Hàng thịt, nhưng hồn là: Trương Ba", sau đó, "da Hàng thịt phải chuyển thành:da Trương Ba". Bởi trước :"nhưng trong tính ưu việt, tuyệt hảo", họ lại không nổi máu tham?
Còn điều:" Như thế người Á Đông, trong vũ trụ quan và khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa vô song giữa Thiên-Địa-Nhân, tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định, ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước. Một Kitô học như thế, không những không thể phủ nhận vai trò Cứu Chúa duy nhất của Đức Kitô, mà còn có thể mở ra một ý niệm hiệp thông đầy sinh động”.
Rất mong tác giả chỉ rõ, phân tích những cái "đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định", là như thế nào không ạ?
*Xin đưa ra một vài ví dụ:
Gỉa sử tôi hiểu trọn vẹn "Thuyết tương đối", của nhà bác học Einstein,(chẳng hạn, khi tôi trình bày trước một số nhà vật lý nổi tiếng của Việt Nam, hay thế giới, và họ cũng công nhận: "hiểu thế là đúng !" ). Rồi tôi tuyên bố: Thực ra, "thuyết đó", tôi đã biết trước khi Einstein công bố rất lâu. Có ai lại đi hỏi tôi:"Vậy anh, bạn...hãy nói xem nào?". Và khi tôi nói được (người ấy đưa cho nhà vật lý xem), và cũng công nhận tôi nói đúng, nên tin ngay vào lời tuyên bố của tôi. Tin như thế là có cơ sở không ạ? Rõ ràng là không, tất nhiên phải hỏi là :"Anh hãy trưng dẫn ra tài liệu mà anh đã ghi cái biết trước của anh. Để tôi đi xác định xem: loại giấy, loại mực đó được sản xuất vào năm, thời kỳ nào; vết mực thấm trên giấy mới hay cũ?"(giả sử đã có loại máy có khả năng xác định, phân tích được những điều đó). và khi qua máy móc phân tích, cho ra kết quả là: giấy, mực, vết mực đều là thời điểm trước năm nhà bác học Einstein công bố "công trình" đó của ông. Vậy thì, chí ít, nó còn là cơ sở để tin một phần nào đó vào lời tôi đã tuyên bố, phải không ạ? hay nó cũng là cơ sở để cần xác minh thêm.
Ví dụ khác:
Tôi đưa ra tuyên bố:"tôi hiểu hết được Vũ trụ, nguyên lý chuyển động của Trăng, Sao"
Rồi có người hỏi: Thế Trăng và Sao khác nhau như thế nào?
Tôi đáp:-Về kích thước: Trăng lớn hơn Sao 350 lần !
avatar
Nguyen 23/07/2011 08:17:09
Chào các bạn, Tôi không phải thành viên của diễn đàn. Cũng như nhiều người VN khác, tôi không theo 1 tôn giáo chính thống nào của thế giới cả.
May mắn nhờ cụ Google (cụ này người ta hay đem ra dùng chung nên còn gọi là “công cụ”), nên được biết diễn đàn, đọc qua tất cả các comment tôi thấy nhiều điều hay và cũng được mở rộng thêm chút kiến thức cho bản thân.
Thực ra, tôn giáo nào trên thế giới cũng có ý nghĩa tất yếu, sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng của nó.
Tại sao nó lại có tính tất yếu? chúng ta ai cũng biết và thừa nhận 2 phạm trù triết học là vật chất và ý thức. Trong đời sống xã hội loài người, con người ngoài phần cơ thể vật chất ra còn phần cơ thể ý thức nữa mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh hay hiểu rõ về cơ chế hoạt động cũng như nguồn gốc của chúng. Có một vài giả thiết cho rằng, còn người chúng ta chỉ hoàn toàn vật chất với nhiều mức năng lượng khác nhau (theo thuyết lưỡng tính sóng – hạt), phần hữu hình là dạng vật chất có tính hạt, tinh thần hay ý thức là phần vật chất ở mức năng lượng thể hiện dạng sóng. Tuy nhiên điều này cũng chỉ là giả thuyết chưa chứng minh được cũng như không đem nó để chứng minh được tất cả các hiện tượng về tinh thần.
Theo thuyết của nhà Phật, không chỉ con người, thế giới vô thủy vô lượng từ các thể vi tế đến vũ trụ bao la đều có hình và thức.
Vậy các bạn có đồng ý với tôi rằng, con người và cả xã hội loài người luôn tồn tại 2 thế giới vật chất và tình thần không. Vậy cớ gì cơ thể xã hội lại thiếu đi phần tinh thần, hay chính là tôn giáo?
Thế còn về sứ mệnh lịch sử thì sao? Chúng ta cần nghiên cứu các tôn giáo trong các hoàn cảnh lịch sử, đừng lấy điều kiện ở thế kỷ XXI để nghiên cứu về các tôn giáo, không có chúng ta lại mắc tội bắn vào lịch sử bằng súng lục mất.
Tại sao lại hình thành tôn giáo? Tôn giáo không phải được hình thành từ thời Thái tử Tất Đạt Đa hay chúa Giêsu sinh sống mà nó có từ thời con người được hình thành và phát triển ý thức, mặc dù rất thô sơ.
Tôn giáo có nhiều ý nghĩa trong quá trình phát triển xã hội loài người, trong đó theo tôi có 3 ý nghĩa lớn và quan trọng:
(1)là cứu cánh, niềm tin tinh thần cho con người tồn tại trong buối hồng hoang đầy sợ hãi, nguy nan. Thậm chí đến ngày nay con người vẫn còn phải dựa vào tôn giáo để giải quyết những mắc mớ về tinh thần mà không nhà khoa học, tâm lý học, thần kinh học... có thể giải quyết được.
(2)Tôn giáo đã, đang và sẽ là công cụ để nâng cao nhận thức và văn hóa của loài người. Tại sao vậy?
Từ thủa, mà thôi tôi nói gần gần đây như thời trung cổ thôi nhận thức và văn hóa của con người còn thấp lắm nếu không có những lời dăn thậm chí là dọa của Chúa, của Phật rằng phải thương yêu nhau, đoàn kết với nhau, không phá hoại môi sinh ...thì còn chém, còn giết, còn tranh giành nhau không khác gì những loài bàng sinh đâu.
Ở đây cũng xin nói thêm với các bạn, tại sao trong kinh pháp của các tôn giáo hay lồng vào sự trừng phạt, kể cả Thiên chúa và Phật ? (Nếu tôi nhớ không nhầm thì những ai hủy báng Phật pháp sau ngày die sẽ chịu luân hồi trong nhiều địa ngục – cái này tôi không dám; những ai giết mổ, ăn thịt súc sinh sẽ làm quỷ đói – Cái này khó), bởi vì để truyền bá được một tôn giáo không hề đơn giản chút nào, với nhận thức của con người khi đó, họ sợ trừng phạt hơn là lý trí. Hay đôi khi các bạn thấy sự vô lý nào đó trong kinh pháp? Thực ra các học thuyết tôn giáo không phải viết 1 lần mà thành, nó được hình thành bởi người khởi sướng, được những người thế tục gia sức nghiên cứu phát huy, chỉnh sửa nhiều lần mới xong cộng với kiến thức của những con người cách chúng ta hàng nghìn năm làm sao không có sơ suất
(3)Nhờ tôn giáo mà nhà nước, quốc gia mới được hình thành. Nếu người ta không tự tôn sưng là thiên tử là thần thánh, là thiên sứ là quân – sư – phụ... thì làm sao lôi kéo người khác mà hình thành bộ tộc, quốc gia hả các bạn? Lúc đấy các bạn có trang bị tận răng, quần đùi bọc thép, tay cầm súng la de thì chắc cũng chả ai nghe theo, :D.

Nói như vậy không có nghĩa là tôi cổ súy cho thần quyền. Đến một lúc nào đó, đạo TC, đạo Phật…có thể sẽ không còn tồn tại vì nó đã thực thi xong sứ mệnh lịch sử của mình, biết đâu lại chả hình thành một hình thức đạo khác. Mà dù, xã hội sau này có như trong các bộ phim khoa học viễn tưởng chúng ta từng xem thì cũng xin các bạn thôi không đả phá tôn giáo.
Reply Tán thành Không tán thành
-1
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
02/08/2011 22:33:08
Theo như bài viết:"ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ KHÁC", của Tác giả: Gm. Nguyễn Thái Hợp, op: "Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành ngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt rằng Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa: “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian(...). Thần khí là (...) căn nguyên của nỗi khắc khoải hiện sinh và tôn giáo của con người, nỗi khắc khoải phát xuất không những từ những điều kiện bất tất mà còn từ chính cơ cấu của hữu thể nhân loại. Sự hiện hữu và hoạt động của Thần khí không phải chỉ liên quan tới các cá nhân, mà còn liên quan đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các văn hóa và các tôn giáo” (số 28).
Đồng thời Bản góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề nghị giải thích vai trò trung gian của Đức Kitô như sau: “Chúng tôi hiểu từ “duy nhất” (seul, unique) không theo nghĩa loại trừ (exclusive), nhưng trong tính ưu việt, tuyệt hảo (excellent) của nó . Như thế người Á Đông, trong vũ trụ quan và khát vọng tìm kiếm một sự hài hòa vô song giữa Thiên-Địa-Nhân, tìm thấy ơn cứu độ duy nhất và tuyệt hảo nơi Đức Kitô, vì nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài họ nhận lại được sự giao hòa toàn diện với Thiên Chúa là Cha, với anh em đồng loại và với vũ trụ vạn vật. Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định, ước gì họ tìm thấy, qua việc trình bày Tin Mừng của Đức Kitô, sự giao hòa ưu việt mà họ hằng mong ước. Một Kitô học như thế, không những không thể phủ nhận vai trò Cứu Chúa duy nhất của Đức Kitô, mà còn có thể mở ra một ý niệm hiệp thông đầy sinh động”.
Tôi thì không hiểu điều :"Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội", thế thì, sự "biểu lộ đặc biệt" là biểu lộ như thế nào, và theo chiều hướng nào?
Thứ hai, là:"Tất cả các tôn giáo và các học thuyết lớn tại Châu Á đã nỗ lực đi tìm và vun đắp sự hài hòa này và đã đạt được một số thành quả nhất định". Tác giả, hoặc ai có thể chỉ giúp tôi: như Phật giáo, đã nỗ lực gì để đi tìm và vun đắp cho sự hài hòa này-Thiên-Địa-Nhân. Riêng tôi thì chỉ biết: Phật giáo chỉ vun đắp cho sự hài hòa: giữa Nhân-và Nhân (con người và con người); giữa Nhân-và Chúng sinh (con người với cả loài động vật khác); giữa Nhân-và Thiên nhiên. Chứ không thấy Phật giáo đi tìm kiếm một đối tượng nào khác, vì đối tượng nào khác. Chính vì thế, trong suốt quá trình tồn tại và truyền bá đạo lý, đạo pháp của mình, và cũng chỉ với mục đích vun đắp cho sự hài hòa trên (theo tôi nghĩ là như vậy), nên Phật giáo chưa gây đổ một giọt máu nào cho ai, chưa xâm phạm, cưỡng chiếm tài sản của ai, chưa xử oan, thiêu sống ai; và ngay cả trong tôn giáo của mình, mặc dù có nhiều tông phái khác nhau, cũng chưa từng xảy ra chuyện giết chóc...
Điều nữa, như trong bài viết:"Trước đây, người ta thường hiểu “vai trò trung gian” này theo nghĩa “duy nhất tính”, độc nhất, tuyệt đối khép kín và loại trừ. Với hướng đi của Vatican II, chúng ta có thể duy trì đồng thời vai trò trung gian của Đức Kitô với sự hiện diện của những con đường cứu độ khác."
Thế thì, trước đây, người ta chỉ có hiểu không thôi :[ “vai trò trung gian” này theo nghĩa “duy nhất tính”, độc nhất, tuyệt đối khép kín và loại trừ], hay đã biến "sự hiểu đó" thành hành động? Dĩ nhiên là, các con đường cứu độ kia nó còn được duy trì hay không là bởi nhân loại, nhiều người khác nữa, chứ đâu nó có phụ thuộc gì vào "chúng ta"đã hiểu hay chưa hiểu ra.
Reply Tán thành Không tán thành
-1
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
RM 26/08/2011 14:52:06
Xin hỏi quý độc giả:
Gỉa thử, quý vị viết ra một tác phẩm văn học, sáng tác ra một bản nhạc, hay phát minh, sáng chế ra một loại máy móc nào đó. Rõ ràng ai cũng biết, những thành quả ấy là sự kết tinh từ quá trình lao động trí óc: vận dụng những kiến thức, tri thức đã lĩnh hội trong tư duy sáng tạo, hay là lĩnh vực tinh thần, nói chung. Thế rồi, chẳng hạn, có người đến nói rằng:”Nhưng chính cái mặt tinh thần của bạn lại do một luồng linh khí tác động, soi dẫn, giúp nảy sinh cho sự sáng tạo”. Nếu vậy, quý vị có thể tin ngay vào những lời nói của người đó, nghĩa là, tin có một thứ linh khí-vô hình vô tướng-tác động, soi dẫn ?
Từ những điều trên, tôi xin liên hệ đến một vấn đề cũng tương tự như vậy ở trong bài “Đức Giêsu Kitô và các con đường cứu độ khác” của tác giả: Gm Nguyễn Thái Hợp, như tôi đã có mấy ý kiến ở trên.
Thật vậy, ở bài viết của của tác giả: Gm Nguyễn Thái Hợp, cũng từ quan niệm Chúa thánh thần, Thánh linh của riêng Kitô giáo, mà Công đồng Vatican II và Giáo hoàng Gioan Phaolô II xác quyết rằng:”Chúa thánh thần, Thánh linh tác động ngay cả đến những tôn giáo khác-đến cả những tôn giáo ngoài Kitô giáo”.
Và cũng vậy, Chúa thánh thần, Thánh linh, thì cũng không ai nhìn thấy cả, ít ra là đối với người ngoài Kitô giáo . Còn nếu như Cộng đồng Vatican II và Giáo hoàng, cũng như tín đồ Kitô giáo nói là thấy bằng cảm nghiệm, thì theo tôi nghĩ, với người ngoài Kitô giáo, vấn đề đó càng đẩy đến sự chủ quan vô cùng, trừu tượng vô cùng, không cách gì kiểm chứng được. Dù rằng, trong bài viết, cũng đưa ra nhiều chứng dẫn để hậu thuẫn cho những xác quyết đó, nhưng tình trạng trên cũng không hề thay đổi. Trích dẫn từ bài viết:

“Theo thần học Kitô giáo, chỉ duy Thiên Chúa cứu độ con người. Không một người nào hay một tôn giáo nào, kể cả Kitô giáo, có sức cứu độ. Do đó “con đường” hay “những con đường cứu độ”, nếu có, là do Thiên Chúa hoạch định, chứ không thể hoàn toàn do sáng kiến hay khả năng của con người. Từ đó vấn đề căn bản sẽ được đặt ra: trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa, ngoài “con đường độc sáng” được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô có còn “con đường nào khác” nữa không?”

Thế thì, Thần học Kitô giáo có phải thuộc Kitô giáo không ạ? Vậy, chẳng phải là, Kitô giáo là đang nói với chính mình hay sao. Và có lý do gì mà các tôn giáo “kia” phải lấy đó làm quy chuẩn ?
Hay, trong một đoạn khác:

“Đặc biệt trong “Ngày thế giới cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi”, sau khi chứng kiến sự kiện tất cả các tham dự viên cầu nguyện cho hòa bình theo căn tính tôn giáo riêng biệt, đức Gioan Phaolô càng xác tín hơn nơi sự hiện diện và sức tác động của Thánh linh: “Tất cả lời cầu nguyện đích thực đều do ảnh hưởng của Thánh linh, chính Ngài dạy chúng ta là những kẻ yếu hèn biết cách cầu nguyện, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải đạo, chính Ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can biết Thần khí muốn nói gì. Thật vậy, chúng ta cần ghi nhớ rằng tất cả lời cầu đích thực đều phát xuất từ Thánh linh, Đấng hiện diện một cách huyền nhiệm trong tâm hồn mọi người”.

Điều này, với các tín đồ của Kitô giáo có thể tin đó là những “phát hiện đặc biệt” của đức Gioan Phaolô. Nhưng với nhiều người khác, họ lại bảo đó là: “phát kiến”. Bởi vì, có ai thấy (…), ngoài đức Gioan Phaolô !
Một điều đặt ra nữa là, tại sao đến mãi thời điểm Công đồng Vatican II mới phát hiện Chúa thánh thần, Thánh linh tác động ngay cả đến các tôn giáo ngoài Kitô giáo, như Cộng đồng Vatican II xác quyết ? Chẳng lẽ, trước đó, trong mấy nghìn năm, không ai trong Giáo hội phát hiện ra điều đó sao (nếu có) ? Liệu điều này có liên quan gì đến quyền, vị thế của Giáo hội, trước đó, và vị thế của Giáo hội nói riêng, Công giáo nói chung, xét trong thế tương quan với các tôn giáo khác, từ thời điểm Công đồng Vatican II.
Tôi thì cho rằng, cơ sở để kiểm chứng sự xác quyết đó (Chúa thánh thần, Thánh linh…) của Cộng đồng Vatican II và Giáo hoàng, thì phải xem Thánh linh đã tác động đến Giáo hội và các thành phần của giáo hội như thế nào trong suốt chiều dài lịch sử. Và theo như bài viết:

“Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành ngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt rằng Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa: “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian…”

Thông điệp Redemptoris Missio, không nói rõ là “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội “ như thế nào, dĩ nhiên là Giáo hội và thành phần của Giáo hội, trước hết, phải đặt và được hiểu là Kitô giáo, vì là người khởi xướng.
Cuối cùng, tôi xin đặt một câu hỏi với tác giả, Gm Nguyễn Thái Hợp: Theo tác giả, với tín đồ Phật giáo, chẳng hạn, liệu có thể vừa chấp nhận sự tác động của Thánh linh, đón nhận Thánh linh, mà vẫn là tín đồ Phật giáo (đúng nghĩa) ? Là bởi vì, Phật giáo thì không cho rằng có một Đấng tạo ra tất cả, khác biệt hẳn với Kitô giáo. Phải chăng, Cộng đồng Vatican II và Giáo hoàng khi đưa ra xác quyết như vậy, mà lại không biết tới điều đó (?). Nếu như cho rằng, Chúa thánh thần, Thánh linh tác động đến các tôn giáo khác, xét ở góc độ quan niệm, tâm niệm của Giáo hội, của tín đồ Kitô giáo thì chắc không công bố những xác quyết đó làm gì. Bởi vì, khi đưa ra những xác quyết như vậy, thì phải đặt, hay chí ít là có cơ sở hy vọng vào tính khả thi.
Vì vậy, tôi e rằng, lÒng tốt mà quý vị muốn chIa sẻ, đã đặt không đúng chỗ. Mà có lẽ, nó chỉ giúp cho tín đồ Kitô giáo thấy sáng bừng lên tính:"Bao hàm"; "Ưu việt, thiện xảo"...

“Cùng chung với tất cả các dân tộc Á châu, chúng tôi ao ước được lớn lên trong sự chia sẻ những điều phong phú của chúng ta và trong sự kính trọng đối với những khác biệt giữa chúng ta. Chúng tôi nhất quyết làm việc chung với nhau để nâng cao phẩm chất đời sống của dân tộc chúng ta. Chúng tôi coi đức tin của mình như kho tàng quí báu nhất và mong chia sẻ kho tàng đức tin này với tất cả mọi người, nhưng vẫn tôn trọng hoàn toàn những niềm tin tôn giáo và sự tự do của anh chị em xung quanh”.
avatar
RM 23/09/2011 08:54:32
Đấng sáng tạo (?)

Ngày nay, khi khám phá, tìm hiểu vũ trụ, khoa học đã phát hiện ra cả tỷ dải Thiên hà. Trong mỗi thiên hà, như dải Ngân hà, lại có tới hàng tỷ ngôi sao [ Mặt Trời cũng chỉ là một ngôi sao, có đường kính khoảng 1,4 triệu km (gấp 109 lần đk trái đất; ở trung tâm, nhiệt độ vào khoảng vài chục triệu độ(°C )]; và hàng trăm tỷ hành tinh (như Trái đất, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh…); hàng nghìn, hàng triệu…hằng tinh (như Mặt Trăng); v.v…
Chỉ xét trong phạm vi một thiên hà, mà số các vật thể đã là con số rất rất lớn như vậy. Thế thì, cả tỷ, thậm chí nhiều tỷ, dải thiên hà nữa, con số ấy sẽ là bao nhiêu ! Vũ trụ, thật rộng lớn, bao la!
Vậy nhưng, có nhiều người, mà chủ yếu là những người theo Thiên Chúa giáo, còn tin rằng, cho rằng: Có một Đấng đã sáng tạo ra cả vũ trụ rộng lớn, bao la như vậy. Nếu thế thì, quả thật, uy vũ của Đấng sáng tạo này thật là khủng khiếp, ngoài sức tưởng tượng của con người!
Nhưng vấn đề đặt ra là, quan niệm có một Đấng sáng tạo như vậy, là dựa trên cơ sở nào?
Thực ra thì, quan niệm có một Đấng sáng tạo ra vũ trụ như thế, chỉ có từ sau khi khoa học đã khám phá ra vũ trụ như vậy. Mặc dù, trước đó, trong Kinh Cựu ước của Thiên Chúa giáo, cũng nói tới một đấng sáng tạo, sự sáng tạo; và đấng sáng tạo được biết tới là Đức Chúa Trời. Nhưng sự sáng tạo ở đây là:” Đức Chúa Trời, bằng những lời phán, tạo dựng nên Trời, Đất, vạn vật. Trời là cái vòm cứng như đồng thau. Đất là mặt đất phẳng, dẹt”. Đến đây, nếu cho rằng, Đức Chúa Trời chính là Đấng sáng tạo ra vũ trụ (như trên), thì có một vấn đề bức thiết đặt ra là: cái vòm trời cứng như đồng thau, thì phải hiểu như thế nào? Nếu hiểu theo nghĩa đen, tức là có vòm trời cứng như đồng thau, thì phải bỏ quan niệm Đấng sáng tạo (nt). Mà nếu quan niệm có một Đấng sáng tạo đó, thì phải phá bỏ cái vòm trời cứng như đồng thau, như được ghi trong Kinh Cựu ước. Một câu hỏi đặt ra là: Nếu khoa học không khám phá ra vũ trụ như vậy, thì cái vòm trời cứng như đồng thau đó có bị phá bỏ không? Chắc rât nhiều người biết đến sự kiện Bruno và Galilei cách đây mấy trăm năm: Chỉ vì hai ông, qua những công trình nghiên cứu vũ trụ của mình, và đưa ra những tuyên bố: “rằng, Trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ; rằng, không phải Mặt Trời quay quanh Trái đất mà ngược lại, Trái đất quay quanh Mặt Trời”. Và do những tuyên bố đó đã đi ngược với những điều ghi trong Kinh thánh, nên hai nhà bác học này đều bị đưa ra xét xử tại tòa hình án xử dị giáo do Giáo hội La mã lập ra. Kết cục là, Bruno thì bị thiêu sống trên dàn hỏa, còn Galilei thì bị quản thúc tại gia đến khi chết.
Trở lại vấn đề trên, cái vòm trời cứng như đồng thau đó, dựa vào đâu để hiểu theo nghĩa khác? Tôi thì chỉ thấy người ta giải thích rất chủ quan là:”Thời đó, do nhận thức của người dân còn rất hạn chế, nên Đức chúa trời chỉ mạc khải được như vậy”. Nếu giải thích là: Để giải đáp cho những thắc mắc:” Trời đất là gì, ta từ đâu tới?”, và người dân tộc Do Thái thời đó đã lý giải như vậy, thì sẽ không còn vấn đề gì cần đặt ra. Do vậy , liệu có chuyện: Những lý giải trời đất, vạn vật của dân tộc Do Thái, lại biến thành những lời mạc khải của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời, một ông Thần tưởng tượng của dân tộc Do Thái để lý giải thiên nhiên, lại biến thành Đức Chúa Trời chọn dân tộc Do Thái?
Từ những điều trên, ta thử tìm hiểu đến quan niệm Thần, Thần tạo, của nhiều dân tộc khác thời xưa. Ngày xưa, trước những hiện tượng thiên nhiên như: mưa, gió, sấm sét…, người ta không hiểu được nguyên nhân của những hiện tượng đó. Vì thế, họ đã lý giải rằng, những hiện tượng đó là do một vị thần tạo ra. Nên vậy, đã lập nên những ngôi đền để thờ Thần, với hy vọng được Thần bao bọc, che chở, không giáng những thảm họa thiên đó xuống cho con người.
Nhưng rồi, theo thời gian, con người đã lý giải được nguyên nhân của những hiện tượng thiên đó, thậm chí còn “chộp” được “nơi trú ngụ của Thần”- (chẳng hạn: Thần gây ra mưa, thì máy bay đã bay trên cả đám mây gây mưa). Chính vì vậy, Thần cũng “tan thành sương khói”. Và ngày nay, chẳng ai đi thờ thần mưa, thần gió, thần sấm sét… nữa.
Còn cái vòm trời cứng như đồng thau ở trên nếu hiểu đúng theo nghĩa đen, thì người ta cũng “chộp” được rồi. Vì mưa, theo thuyết vòm trời, là do các thiên thần mở cống trời. Mà mưa là nước từ các đám mây rơi xuống. Vậy thì, đám mây phải dát vào vòm trời. Và máy bay thì đã bay trên cả tầng mây rồi, tức là đã bay trên cả “vòm trời”, chưa tính đến các con tàu vũ trụ đã bay vào không gian, cách trái đất hàng trăm km, chưa kể đến các kính thiên văn tối tân đã quét xa tới cả 13 tỷ năm ánh sáng, Do vì, chẳng có vòm trời cứng như đồng thau, nên “phá vòm trời” thì vòm trời là cả vũ trụ; Thần ngụ trên vòm trời đẩy ra thành…vô cùng. Và ngày nay, Thần đó trong vai Đấng sáng tạo ra cả vũ trụ (nt).
Bây giờ, ta hãy xem, những người tin rằng, cho rằng có một Đấng sáng tạo ra cả vũ trụ, đưa ra những lý giải như thế nào để bảo vệ quan điiểm, niềm tin đó của mình. Lý luận thường thấy là:”Nhìn vào sự chuyển động có trật tự của các hành tinh quanh một ngôi sao, sự chuyển động của hằng tinh quanh một hành tinh. Tại sao vũ trụ lại có trật tự lạ lùng như thế? Vậy nên, chúng ta biết rằng: Phải có một Đấng sáng tạo!”-Nếu vậy, khi xét đến nguyên tử, tại sao các electron không chuyển động hỗn loạn rồi va đập vào nhau, hay theo đường xoắn ốc và sập vào hạt nhân? Phải chăng từng nguyên tử cũng do Đấng sáng tạo điều phối? Hơn nữa, đâu chỉ có hệ mặt trời của chúng ta là có các hành tinh chuyển động quanh mặt trời, mà còn có rất nhiều hệ mặt trời khác, cũng có các hành tinh quay xung quanh một ngôi sao của chúng. Nếu bảo Đấng sáng tạo lập trình, điều phối để các hành tinh trong hệ mặt trời quay quanh mặt trời, để giúp cho sự sống hình thành, phát triển, thì các hệ mặt trời khác, cách chúng ta cả triệu, cả tỷ năm ánh sáng, các hành tinh của chúng quay để làm gì? Để Đấng sáng tạo ngắm chơi?
Nhưng thôi, chúng ta cứ tạm tin là có một Đấng sáng tạo như vậy, và hãy thử đồng hóa Đấng này với Đức Chúa Trời trong Kinh Cựu ước, xem sao:
Từ bao la, vô tận đó, Đấng sáng tạo soi xuống “mặt đất”:
-Chọn dân tộc Do Thái làm con dân của Ngài
-Nhưng rồi, Ngài thấy rằng, những loài thụ tạo, mà Ngài đã sáng tạo ra, trở nên sa đọa, không tin vào quyền năng của Ngài; và chỉ duy nhất ông Nô-ê là “người công chính”. Vì thế, Ngài quyết định: xóa bỏ- thanh tẩy tất cả loại thụ tạo đó, chỉ giữ lại ông Nô-ê và gia đình ông ấy, cùng các loại động vật khác, nhưng mỗi loài chỉ giữ lại một cặp-đực, cái.
Bằng một trận Đại hồng thủy, tất cả loài thụ tạo đều bị dìm chết trong biển nước cao lưng trời, tất cả: cho dù đó là những em bé còn nằm trong bào thai, vừa cất tiếng khóc chào đời, bi bô tập nói hay lẫm chẫm tập đi…
(Chắc rằng, Ngài còn phải xục cho sôi nước để tận diệt các loài thủy sinh ?)
-Phò tá, chúc phúc cho ông Abraham cùng dòng dõi của ông ấy tạo dựng thành một dân tộc lớn.
-Giáng họa xuống hoàng cung vua Pharaon (vua Ai Cập cổ đại), vì ông vua này đã “have fun” với em gái-vợ của ông Abraham.
(Nhưng chắc rằng, chính vua Pharaon cũng không hiểu “đầu cua tai nheo” của cái họa đó, vì tất cả là bị ông Abraham cài bẫy, nhằm chiếm đoạt bò, lừa, lạc đà, tài sản khác…của nhà vua này)
-Ra lệnh cho ông Mô-sê cất quân đi đánh chiếm, tàn sát các dân tộc khác
-v.v…
Đến đây, chắc nhiều người sẽ kêu lên: Ôi, chao ôi! Tôi có nghe nhầm không đây? Làm gì có chuyện đó! Làm gì có chuyện ấy! Đấng nào mà, sáng tạo ra cả tỷ dải thiên hà, hàng tỷ ngôi sao, hàng tỷ hành tinh…,lại: Độc ác, tàn bạo; nhúng tay vào những chuyện vặt vãnh; hành xử lẩm cẩm, loạng choạng như thế !
Vậy tất cả những chuyện trên là thế nào?
Có phải: Tất cả chỉ là những câu chuyện huyền thoại của dân tộc Do Thái thời bán khai; một ông Thần tưởng tượng của dân Do Thái thời bán khai.
avatar
Kedanhxe 16/03/2012 11:52:54
Chấp thì không ngộ! Muốn ngộ đừng chấp! Tôi thấy bạn đứng về phía Khoa học cũng chưa đúng, và đứng về phía Tôn giáo cũng không chính xác. Các bạn không đúng ở chỗ các bạn coi trọng quan điểm của mình và muốn dập tắt, hay phủ định quan điểm của người khác. Chân lí là tương đối, tôi thì nghĩ Thượng đế là cái thực thể lớn, không có ý thức cá nhân, không theo một ý thức riêng rẽ nào cả, thượng đế là tất cả! Thế nên mới có cái gọi bản thể ấy bằng nhiều cái tên. Còn một vấn đề nữa, thượng đế không liên quan gì đến Giáo Hội, việc Giáo hội công giáo, hay những cá nhân tu sĩ làm những việc không đúng với đạo đức, chẳng liên quan gì đến Thượng đế, chẳng liên quan đến ông Jesu. cũng như thế, cá nhân nhà sư, Giáo Hội phật giáo có những cách hành xử trong đời sống đạo phi nghĩa, phản Giao lí cũng chẳng liên quan đến ông Cồ Đàm. Chân lí là tương đối. Dù là duy tâm hay duy vât nhưng đến thời điểm nào đó, hai đường thẳng "song song" ấy cũng sẽ ặp nhau ở một điểm. Phiếm đàm - xin quý vị tha lỗi!!!
Reply Tán thành Không tán thành
-3
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Quang 17/02/2014 13:16:53
Vũ trụ hình thành có đầy đủ qui luật nên giống như là có một Đấng tạo ra,nhưng có những qui luật nghiệt ngã,nếu bảo có T.Đế tạo ra vũ trụ thì TĐ sẽ bị bất mãn và Ngài có thể là Đấng độc ác .Do vậy có nên cho là có Đấng sáng tạo hay không?
TĐ nếu có Ngài phải là đấng minh triết, từ bi mà nếu như vậy Ngài sẻ không bao giờ sáng tạo nên vũ trụ ...
avatar
Hoàng Sơn 25/05/2014 14:22:26
- Đạo Phật được xây dựng trên tính thực tế (quy luật nhân quả) và vượt lên mọi thứ nhờ vào tính duy lí (trí tuệ), điều này hoàn toàn trái với niềm tin của các bạn theo đạo Chúa. Nhưng tất cả chúng ta đều muốn biết sự thật!
- Sự thật giúp cho đời sống của mọi người có được đủ đầy ý nghĩa của kiếp nhân sinh.
- Mong rằng các bạn tham gia diễn đàn này hãy đưa ra những gì còn khuất tất để mọi người có thể thấy biết mà rời xa những con đường tăm tối, khổ đau. Hãy cùng thắp lên ngọn đuốc để xóa tan đêm đen để vượt lên phía trước như lời giáo huấn của đức từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Xin chào và cảm ơn các bạn nhiều.
tổng số: 50 | đang hiển thị: 1 - 50

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập