Trang chủ Tài liệu Điểm sách Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam - Phần III - CHƯƠNG BA: Chính Sách Áp Chế Xâm Lăng và Thôn Tính

Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam - Phần III - CHƯƠNG BA: Chính Sách Áp Chế Xâm Lăng và Thôn Tính

Đã đọc: 10172           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

Khi chiếm Nam kỳ, người Pháp thấy bộ máy cai trị ở đó tê liệt tê liệt hoàn toàn, toàn thể quan lại đều bỏ đi khỏi vùng bị chiếm. Muốn cai trị Nam kỳ, hệ thống cai trị trực tiếp ngay từ đầu đã là cần thiết.

Ở Bắc và Trung kỳ, tình thế lại khác. Quả thật, quan lại hết sức bối rối và bở ngở vì các biến cố, nhưng đa số bọn họ đều muốn tại chức, khi người Pháp đưa Đồng Khánh lên ngôi. Nhờ sự đầu hàng nhanh chóng của triều đình Huế, bộ máy cai trị được nguyên vẹn. Vấn đề đặt ra cho người Pháp là có nên dùng bộ máy có sẳn đó mà sự vũng chắc cùng hiệu nghiệm đã khiến cho mọi người quan sát nước ngoài khâm phục, hay trái lại phải tiêu diệt nó đi để thay thế một bộ máy theo kiểu Pháp. Sự chọn lưa giữa hai thái độ đó đã quyết định đường lối phải theo. Giải pháp đầu bao hàm chính sách hợp tác, giải pháp sau, chính sách xâm lăng, áp chế và đồng hóa.

Chúng ta biết các ý kiến của các nhà truyền đạo, đặc biệt là giám mục puginier, về vấn đề này : Các quan, từ lớn trong triều đìnhđến các viên chức nhỏ ở xã thônđều là kẻ thù của nước Pháp và đạo Thiên chúa, cùng cai trị với họ là sa vào bẩy. Cuộc kháng chiến kéo dài do Văn Thân lãnh đạo hình như cho thấy họ có lý, vì thế các Khâm sứ đầu tiên, kề cả Paul Bert và các toàn quyền đều thẳng thắng đi vào con đường áp chế và chinh phục. Chỉ có De Lanessan (1891-1894) cố gắng bơi ngược giòng, khi thành thật áp dụng chính sách hợp tác. Nhưng hệ thống Lanessan làm đa số các viên chức cai trị thực dân sợ hải, cũng như các kẻ truyền đạo Thiên Chúa, những kẻ trước cho là chủ thuyết quá cởi mở, những kẻ sau ( bọn truyền đạo) cho là sẽ gây trở ngại cho việc phát triển đạo củ họ. Thống nhất hành động , họ gây sức ép lên chính phủ Pháp và rút cuộc De Lanessan phải bỏ đi. Paul Doumer đến Đông dương năm 1897, thiết lập lại và gia tăng chế độ cưỡng bức.

Chính sách thuộc địa Pháp tại việt nam từ 1885 đến 1902 đã lần lượt thể hiện ở ba người : Paul Bert, De Lanessan, Paul Doumer đã vẽ nên một đường cong mà điểm khởi hành và điểm kết thúc Paul Bert và Paul Doumer gần như trùng hợp.[1]

Năm 1911, một nhà chính trị cở lớn đồng thời là nhà lý thuyết hợp tác đến Đông dương : Albert Sarraul . Viên toàn quyền mới khôi phục lại đạo Nho, vốn đã suy đồi trong giới trí thức, lớn tiếng ca ngợi giá trị cao trọng của văn hóa cổ truyền Việt Nam, mở ra một cuộc tuyên truyền ồn ào về thuyết hợp tác giữa hai nền văn hóa Đông Tây.

Nhưng chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và xã hội Việt am vừa chịu hai cuộc xáo trộn sâu xa : một mặt, tầng lớp nhà Nho xưa, “kẻ thù của người Pháp và tín đồ Thiên Chúa” đã gần như biến mất, nhường chổ cho tầng lớp trí thức mới, được đào tạo theo phương tây, mặt khác các giai cấp xã hội mới bắt đầu thành hình và việc người Pháp đầu tư trong xứ. Tầng lớp trí thức mới chủ trương tranh đấu để vừa chống lại sự thống trị  của ngoại bang vừa chống lại cơ cấu chính teị và xã hội đã lỗi thời xây dựng trên Khổng Giáo vốn không còn thích hợp với sự tiến triển của xã hội Việt Nam. Nó sẽ cung cấp cán bộ lúc đầu thì cho các đảng dân tộc chống thực dân kế đó cho đảng Cộng Sản Đông Dương .

Trong viễn tượng đó, hành động của Albert Sarraut nhằm đến cái gì khi phục hồi đạo Nho nếu không phải là để duy trì xã hội Việt Nam dưới các thế lực phong kiến, phản động và kìm hảm đà cách mạng của giới trí thức trẻ ?

I- CHÍNH SÁCH ÁP CHẾ ĐỐI VỚI TRIỀU ĐÌNH HUẾ, QUAN LẠI VÀ NHO SĨ.

1- Phương pháp PAUL BERT :

Sau khi Vua Hàm Nghi trốn đi cùng Tôn Thất Thuyết năm 1885, nhà cầm quyền Pháp đã khiến cho các đình thần còn ở lại Huế tôn người anh của ông là Đồng Khánh lên ngôi. Là sản phẩm của Pháp, ông nầy biết rằng số phận của mình gắn liền với chế độ thống trị của Pháp, cho nên suốt đời, y tỏ ra trung thành mẩu mực với “ nước bảo hộ ”.

Trái lại, các quan, dù được qui tụ, vẫn không mấy chắc chắn và các tin tức do giám mục  Puginier cung cấp với “ ác ý ” và “ hoạt động ” của họ, từ quan to trong triều đến các viên chức tận thôn ấp, làm cho người Pháp càng thêm nghi kỵ họ hơn.

Dù thế, Paul Bert, trong suốt thời kỳ ngắn ngủi của y xuất hiện tại Việt Nam, không cho rằng nên hành động trực tiếp và sâu hơn nữa vào triều đình và bộ máy cai trị ở Trung kỳ. Ý đồ của y là trước hết hãy chuẩm bị việc sat nhập Bắc kỳ vào chính quốc bằng cách áp dụng các lý thuyết về đồng hóa mà Jule Ferry rất mê thích. Theo y, điều lý tưởng nhất là dần dần, nhờ sự phổ biến ngôn ngử cùng tập quán Pháp, làm cho dân Bắc kỳ có cảm tình với họ và từ đó quen lần với ý tưởng cai trị trực tiếp.[2]

Nhưng muốn làm điều đó, việc quan trọng trước hết là tiêu diệt uy tín mà quan lại và Văn Thân có trong dân chúng cùng giảm bớt vai trò “ cha mẹ dân của họ ”. Nhưng phải làm cách nào đây ?

Chúng ta không quên rằng kẻ truyền đạo đã tuyên truyền ý kiến cho là dân Bắc kỳ rên xiết dưới ách quan lại Huế, họ sẽ tiếp đón những người Pháp đến cởi bỏ cái ách đó cho họ, như là những người giải phóng.

Paul Bert sẽ thực hiện ý đồ nầy, Y tóm tắt chính sách của y ở Việt nam như sau :

“Ở Bắc kỳ, làm yên tâm dân chúng, cùng cai trị họ, thi hànhchính sách dân chủ, việc bình định do chính nông dân bản xứ đảm trách.

“Ở Trung kỳ, làm yên tâm Văn Thân, phục hồi uy tín nhà vua, thi hành chính sách quí tộc, việc bình định do Văn Thân bản xứ nhận lãnh đó là nguồn gốc của tất cả những gì tôi đã làm, những gì tôi sẽ làm.”[3]

Thật vậy, trong khi ở Huế, y ban cho Đồng Khánh một uy quyền cần thiếtđể “đập tắt nỗi sợ hãi của nhà Nho, cùng thỏa mãn lòng tự hào dân tộc”[4] thì ở Bắc kỳ, Paul Bert cố “ tiêu hủy hay làm tê liêt Văn thân hay bè lũ.”[5] bằng cách thiết lập một hội đồng nhân sĩ Bắc kỳ. Chính với tổ chức “dân chủ” đó mà Paul Bert định cai trị với, chứ không phải với các quan, dù họ đều là người Bắc kỳ và xuất thân từ các kỳ thi do Hàn lâm viện Bắc kỳ tổ chức, vì rằng “ dù chúng ta tổ chức, không bao giờ họ trở thành bạn bè chân thật với chúng ta ”[6] Do việc thiết lập hội đồng đó, các quan bị đẩy xuống hàng thứ yếu, vai trò trung gian của họ sẽ không còn cần thiết nữa và uy tín của họ sẽ bị tiêu tan để chuyển sang cho giới bình dân, lần đầu tiên bước lên trường chính trị. Trong bản tuyên ngôn gửi dân Bắc kỳ (8-4-1886) Paul Bert xác định vai trò của Hội đồng như sau : “Để giúp cho tôi hiểu rõ các vấn đề quan trọng có ích lợi chung, tôi sẽ triệu tập tại Hà Nội một hội đồng gồm những người đại diện mà các nguời sẽ tuyển chọn trong giới nhân sĩ mỗi tỉnh… Họ sẽ chuyển đạt nguyện vọng của dân chúng lên tôi, cùng cho tôi biết mọi nhu cầu, mọi vấn đề liên tục trực tiếp đến dân chúng, tôi sẽ căn cứ vào các lời khuyên của họ. Tôi không thể có cách gì hơn để chứng tỏ lòng tin cậy cùng sự thành thật của tôi đối với các người…”

Ngày 30-4 , y triệu tập những người đã được tuyển cử. Những người trúng cử thuộc đúng vào giai cấp mà Paul Bert nghĩ rằng sẽ nhờ cầy được. Trử 2 người, còn tấ cả đều là nông dân thường, thuộc hàng nhân sĩ trong làng, nói chung tất cả đều nghèo. Người có học nhất là một giáo viên trường làng , được bầu làm chủ tịch. Họ không nhận tiền thù laomà chỉ yêu cầu phát cho mỗi người một mãnh bằng !

Hội đồng nhóm ngày 28-7 . người ta rộn ràng dẫn các người trúng cử đến chổ họ ngồi. Viên thống sứ và viên Kinh lược cho họ an tọa. Nguời ta đưa ra cho họ một xấp vấn đề cai trị, yêu cầu họ đưa lên nguyện vọng về các vấn đề liên hệ đến tỉnh mình. Rồi người ta để họ tự bàn bạc với nhau mà không có sự hiện diện của các quan.

Chính Paul Bert đến bế mạc khóa họp  : “ Nguyện vọng của quí vị rất chánh đáng , rất hợp lý, y nói, các vị có quyền tự hào về các kết quả đầu tiên của quí vị. Trong vài tháng nữa, tôi lại triệu tập quí vị. Quí vị hãy trở về địa phương mình, nói lên những gì quí vị đã thấy đó là hòa bình đã ngự trị rồi, và tình bạn giữa người Pháp và người Bắc kỳ.”[7]

Kết quả sáng kiến của Paul Bert như thế nào ? Không là gì cả. Quả thật giữa giai cấp phong kiến mà quan lại  là đại diện cùng nông dân có mâu thuẫn nhau, nhưng không hiểu gì cả n1êu cho rằng người nông dân không có mảy may lòng yêu nước. Sáng kiến của Paul Bert liền bị nhận ra là quá sớm vì thái độ chống đối mạnh mẽ của dân chúng.[8]

Đem đối nghịch người nông dân bị bốc lột với quan lại bốc lột là một ý tưởng rất hay, mtộ ý tưởng cách mạng, và về điểm nầy thì Paul Bert và Puginier có thể tự hào là marxsites trước Marx, nhưng muốn thành công, cần phải phụng sự thật sự quyền lực của nông dân. Nhưng tình cảnh của những người nầy có tốt đẹp gì hơn dưới sự cai trị của các tên chủ mới ? Chúng ta hãy nghe Thống sứ Rheinart : “Chúng ta đã làm các quan lo ngại về tài sản của họ, bằng việc xâm nhập thái quá vào địa vị họ cùng bằng việc thu thuế, vì địa vị cai trị của họ, bằng việc thiết lập các hội đồng nhân sĩ hay các kế hoạch hội đồng hàng tỉnh là những phủ định của chế độ cai trị ở Trung kỳ. Chúng ta cản ngăn hoạt động cai trị khi cướp mất các phương tiện hành xử, khi rút mất của họ các toán dân vệ. Kr61t quả của các biện pháp nghi kỵ này là chúng ta buộc phải tự lo lấy việc cảnh sát trong xứ, và tôi rất lo sợ là trong việc tối tăm này chúng ta thuờng tỏ ra kém sút hơn các viên cai trị An Nam củ. Nhưng ít nhất chúng ta đã thu phục được người dân mà chúng ta cho rằng mình muốn bảo vệ chống lại sự vơ vét của các quan không ? Không có gì như thế cả : Chúng ta đã trưng tập không ngừng và vô độ hàng ngàn cu ly đi lên chết tại Lai Châu, Lao Kay, Cao Bằng, những vùng heo hút xa lạ mà sự bình định hay chiếm cứ không quan trọng gì mấy cho người nông dân vùng Trung châu. Nhượng bộ trước các lý do ngân sách, chúng ta đã xem xét lại thuế má, biên pháp tư pháp…Có nghĩa là gia tăng thuế má, trong khi chính sách chúng ta đòi chúng ta giảm thuế để bù đắp lại các sự tàn phá  trong những năm mới đây và làm người ta quên đi …”[9]

Giám mục Puginier biết rằng kế hoạch tiêu diệt quan lại và Văn Thân của ông sẽ bị thất bại nếu người nông dân phải chịu sưu cao thuế nặng dưới chế độ mới , vì thế ông ta luôn luôn và mạnh mẽ nhấn mạnh đến sự cần thiết đừng lập ra các sưu dịch quá nặng và đừng lập ra các thứ thuế quá trớn.[10]

Nhưng làm sao người Pháp làm khác được ? Trước sự chống đối mạnh mẽ của phe cực tả và phe hữu, sự giúp đở của chính quốc ngày càng bấp bênh. Vì thế mà Bắc kỳ phải lo tiền nong cho chế độ mới. Paul Bert đã tăng thuế phân lên 5 phần trăm, thuế ruộng đất lên 50 phần trăm. Tổng cộng thuế trực thu từ 1.235.000 đồng, năm 1888 lên 2.995.000 đồng, năm 1896 [11], năm 1886 y lập thuế cờ bạc và tăng thuế quan. Ai phải gánh chịu mọi gánh nặng đó nếu không phải là nông dân ?

Trong tình cảnh như thế làm sao hy vọng được 43 ủy viên của Hội đồng, khi trở về tỉnh nhà, có thể “ đánh đổ các lời đối trá ” của các nhà Nho, “ xóa bỏ các thành kiến ” và tuyên truyền cho chế độ mới ?

Paul Bert biết điều đó. Để chiến đấu chống lại “ lũ người thù nghịch và vu cáo ”, y cần có  một “ đạo quân tuyên truyền ” chính tại trường học, y tìm những người đó. Người ta phải dạy tiếng Pháp mau và rộng rãi đến mức tối đa có thể làm được, và không có gì ngăn cản việc phát triển trường học và “ không bao lâu nữa, chúng ta sẽ có trong dân chúng những gì mà chúng ta tìm nhiều người giúp việc trung thành với chúng ta và không bị đồng bào họ ngờ vực.”[12]

Dù không đem lại kết quả gì đáng kể, hội đồng nhân sĩ do Paul Bert đưa ra vẫn là một việc làm đáng chú ý dưới mắt của các kẻ nối tiếp Paul Bert và sau này Paul Doumer sẽ lập lại.

2. Phương pháp Richaud :

Cũng như Paul Bert, Richaud phải chọn giữa hai chính sách hiện hữu : quân sự và dân sự. Mục đích là một, phương tiện thì khác. Mối bất hòa sâu xa giữa giới quân sự  và dân sự là một trong các nguyên nhân góp phần vào việc duy trì sự hổn loạn ở Bắc kỳ trong hơn 10 năm sau. Khi thiết lập “ chế độ bảo hộ ” giới quân sự nói “Các anh đến quá sớm, việc chinh phục chưa hoàn tất, giờ của chế độ quân sự chưa điểm. Xứ nầy đang nổi loạn, phải đánh quị phong trào nổi loạn bằng cách gia rtăng các đồn bót và các cuộc chinh phạt, cần phải dàn lực lượng ra để tạo nên nỗi sợ hãi thuận lợi…”

Chính sách sức mạnh và chiến tranh nầy, như chúng ta biết là chính sách do giám mục Puginier khuyến cáo hầu đem lại cho tín đồ Thiên Chúa chiếm vai trò trọng yếu trong việc đàn áp. Phe dân sự đáp : các ông sợ chế độ dân sự, vì việc đó làm trở ngại hoạt động giới hạn quyền hành các ông. Các ông là những quân nhân, dù các ông có ôn hòa và có ý tốt đến đâu, một cách tự nhiên, vô ý thức và vì nghề nghiệp và giáo dục, các ông vẫn coi trọng việc duyệt binh hơn là việc hành chánh. Đối với các ông việc dập tắt sự “cướp bóc ” lập lại trật tự là một vấn đề chiến tranh, một vụ lộn xộn nhỏ bé mà một nhân viên dân sự với vài dân vệ cũng đủ thắng được, đối với các ông, cũng là một vụ nổi loạn qui tắc hành động của các ông được chỉ định không phải do các hiệp ước và tinh thần bất hứng từ chế độ bảo hộ, mà do các chỉ thị của các đoàn quân đang lâm trận. Bằng phương pháp đó, người ta có thể đưa ngay một tỉnh vào đường cách mạng [13] và các ông cũng quên rằng ở Pháp, một bộ phận rất lớn đã lên án cuộc viễn chinh và đòi rút quân về nước. Các ông có biết rằng chính phủ phải lưu tâm đến ý kiến của quốc hội không ? Khi chính phủ Pháp phái Paul Bert sang Bắc kỳ, ông hy vọng rằng viên cựu Bộ trưởng giáo dục sẽ thiết lập tại đó bằng tất cả tài khôn khéo của một nhà chính trị, một chính sách hòa bình để chấm dứt mọi chi phí thái quá gây nên do cuộc chiến bất tận, và chứng tỏ cho quốc hội thấy Bắc kỳ, nếu chưa mang được gì về cho nước Pháp, thì cũng không phải là một cái hố không đáy. Tại Pháp cũng nh ưtại Bắc kỳ, những người hoan hô, tận yình việc bổ nhiệm Paul Bert là những nhà buôn và kỹ nghệ gia : quả thực việc buôn bán bị chiến tranh làm cho tê liệt.[14]

Sau Paul Bert, Constans (1887-1888), một trong những lãnh tụ và cũng là một trong những kẻ hiếu động nhất của phe đa số cộng hòa trong cuộc chiến đấu chống phe hữu và giáo hữu, cũng theo một chính sách hòa bình ở Bắc kỳ và một thái độ hòa giải ở Trung kỳ : y duy trì những mối liên lạc thân hữu với vua và triều đình Huế, ùng hộ việc phát triển kinh tế cho liên hiệp Đông dương và tranh đấu chống lại tướng Bégian, viên tư lệnh đạo quân viễn chinh về vấn đề tài giảm thật nhiều quân đội đã giảm thiểu các khó khăn tài chính.

Với Richaud thì lại là chính sách của những kẻ truyền đạo được áp dụng từng chữ.

Được viên thứ trưởng thuộc địa De Laporte che chở,Richaud chống lại chính sách Constans mà y mệnh danh là “ chính sách xóa mất ” .

a. Trước hết, lấy các chủ trương của giới quân nhân làm của mình, y quyết liệt chống đối mọi sự tài giảm quân đội và đồn bót, y cho những biện pháp đó làm tổn thương nặng nề đến  “ công trình thuộc địa chúng ta ”

Bắc kỳ, và sẽ còn là trong một thời gian lâu dài, một xứ cần phải chinh phục, hoàn toàn không đúng nếu cho rằng hiện nay nó đã được bình định … Tôi không tin rằng hiện nay có một cuộc khởi nghĩa toàn diện hay cục bộ nào đáng sợ, nhưng không vì thế mà xứ này không hổn loạn sâu xa ở nhiều điểm và ngài sẽ thấy những nhận xét đó trong các báo cáo đính kèm mà tôi vừa nhận được của tướng Bégin.

“Trông vẽ thật bề ngoài, có thể nói rằng dân Bắc kỳ nếu không ngoan ngoản chấp nhận , thì ít nhất cũng ráng chịu đựng sự thống trị của chúng ta, nhưng ngoài dân chúng đó chúng ta còn phải kể đến, một mặt nhiều toán người đi khắp lãnh thổ, bị xếp ngoài vòng pháp luật, v2 chỉ sống bằng nghề cướp bóc, mặt khác, với tầng lớp hiếu động và đầy tham vọng của Văn Thân gồm các quan lại cùng viên chức cũ mà chúng ta phải đẩy về Huế, thành trì cuối cùng của họ. họ sẽ còn là, trong thời gian lâu dài, kẻ tử thù của chúng ta, và tìm cách gây ra cho chúng ta đủ thứ rắc rối. Nếu có một vài người trong bọn họ theo về thì chúng thành những kẻ giúp việc có ích và trung thành, thì đa số vẫn còn căm thù sâu sắc vì chúng ta đã tước bỏ đi danh vị cùng trách nhiệm của họ, cũng như vì họ sợ các sự lạm dụng mà sự sống của họ bị bãi bỏ.

“Nếu cho đến nay sự cương quyết đầy nghi kỵ của chúng ta đã trấn áp mọi cố gắng làm loạn , chúng ta vẫn chưa tiêu diệt được hoàn toàn, và đó là mối nguy thường trực mà chúng ta luôn luôn canh chừng, nhất là ở Bắc kỳ.”

“Đứng trước tình trạng như thế, làm sao chúng ta có thể, như ông Constans đã viết trong các báo cáo, tin một cách đứng đắn rằng Bắc kỳ và Trung kỳ đều hoàn toàn khuất phục, và sự có mặt của quân đội chúng ta không những vô ích mà còn có hại cho chương trình bình định ?

“Sự cảnh giác sơ đẳng nhất đòi hỏi chúng ta đừng giảm bớt đồn bót mà chúng ta đặt rải rác và có cơ mật của chúng, tôi xin lập lại, là một vũ khí tự vệ cần thiết cho công trình thuộc địa chúng ta.”[15]

Vấn đề quân số khiến các dân biểu lồng lộn. Họ trách móc chính phủ đã giữ bất động nhiều lính ở nơi xa trong khi việc quốc phòng trong nước đang đòi hỏi. Họ thêm rằng quân đội đó gồm những người trẻ đến Bắc kỳ, để chết vì bệnh tật nhiệt đới. Cuối cùng họ nại ra lý do chi phí. Các cuộc tranh đấu nghị trường xảy ra hàng năm về vấn đề đó, sự bối rối đó đã gieo vào trong các vấn đề Đông á, khiến cho chữ Bắc kỳ gần như đồng nghĩa với khủng hoảng.

Một số báo chí hòa theo các nghị sĩ chống lại việc duy trì ở Bắc kỳ một đạo quân thật sự cùng các hy sinh tiền bạcmà việc Bắc kỳ đòi hỏi. Tờ “Le Voltaire” trong một loạt bài viết về “sự thật ở Bắc kỳ ”, kể lại những câu chuyện của công sứ ở Trung kỳ và Bắc kỳ nói về mối nguy của chính sách quân sự. “Chướng ngại duy nhất cho việc bình định hoàn toàn tỉnh, một người trong bọn họ nói là các đồn bót, chúng đã làm xao động dân chúng và tiêu hủy uy quyền dân sự, là cái duy nhất đem lại bình yên và thịnh vượng.

“Nếu tôi gọi đến giới chức quân sự, một người khác nói, chắc họ sẽ để cho cuôc nỗi loạn bộc phát và tậptrung mọi lực lượng để đàn áp, rồi một cuộc chinh phạt sẽ tiếp theo,,và tỉnh đó sẽ đầy lửa đạn và máu. Phương tiện vững chắc và mau chóng nhất là dùng cảnh sát bản xứ và để cho các quan chịu trách nhiệm. Kết quả đã nắm trước được.”

Nhưng vô luận thế nào, các giới chức quân sự cũng không muốn sự hợp tác của quan lại : đối với giới chức dân sự, quan là một kẻ giúp việc, đối với giới chức quân sự thì đó là một kẻ phản phúc và thù địch.[16]

Bất chấp sự va chạm về vấn đề quân số nổ ra ở Pháp, Richaud vẫn cương quyết giữ lập trường của mình : “Lúc nầy không nên rút ra lấy một người ”[17] Quân đội cần phải có mặt để làm nản lòng các quan lại lúc nào cũng chực gây rắc rối, cần phải làm thế nào cho dân chúng không sẵn sàng với họ.[18]

Trong số các nguyên nhân của sự chống đối mà người Pháp gặp phải, Richaud tìm ra một nguyên nhân chính : Sự vắng mặt của một sự áp chế hữu hiệu đối với các quan và các tổ chức cai trị trong xứ. Tổ chức nầy, người Pháp trước kia tin là có lợi cho họ, “nhưng chúng ta đã lầm là sự thực mà ngày nay chúng ta không kềm chế được nó. Được tổ chức và tập trung mạnh mẽ, bộ máy cai trị nầy có thể nằm trong tay chúng ta hoặc như một dụng cụ đàn áptốt, hoặc như một kẻ thù mạnh mẽ như ngày nay.”

“Thực vậy, làm sao thừa nhận được rằng trong các vùng mà quân đội chúng ta ngăn chnậ không cho mọi cuộc khởi nghĩa toàn diện hay tinh thần xẩy ra, và có thể nói rằng xiết chúng ta trong một màn lưới thép, mà do đó trật tự toàn diện được thiết lập, làm sao thừa nhận được rằng các toán trộm cướp vũ trang khiến chúng ta thường xuyên bị thất bại trong khi mà thôn ấp được tổ chức hoàn hảo và theo luât có trách nhiệm Pháp, An Nam, đứng đầu tại mỗi Tổng , mỡi Tỉng có nhiều viên chức và quan lại chịu trách nhiệm duy trì trật tự và an ninh ? Làm sao thừa nhận được rằng các toán đó được thành lập và tuyển mộ người, thương ngay tại trong làng mà các quan không hề hay biết gì về cảnh vô trật tự ? Nếu  các quan đó được các kẻ dưới quyền báo tin đầy đủ -và họ được- và nếu họ tin ở chúng ta sự có mặt của quân trộm cướp cùng hàng ổ của chúng, và nếu họ thực sự quy trách cho các làng chứa chấp, thì chỉ trong thời gian ngắn thôi, há chúng ta không thấy được trật tự hoàn toàn được ngự trị trên mọi nơi của lãnh thổ sao ?

“Còn thuế má, có một sự thật, khổ thay, không thể phủ nhận được đó là chưa tới một phần tư số thu hiện nay, chui vào quỷ chúng ta, và quan lại đã khéo léo loan truyền tin đồn, vì để thỏa mãn nhu cầu chúng ta mà thuế má nặng nề.”[19]

Đó là vai trò tai hại mà các quan đã đóng. Còn Văn thân, họ lại nguy hiểm hơn nữa :

“Đông đảo, cảm thấy bị đẹ dọa trong đời sống, tham lam, có học, thông minh, hiếu động, có một ảnh hưởng đối với dân chúng, thấy rõ rằng cuộc cách mạng mà sự hiện diện của chúng ta đem lại sẽ bất lợi cho họ, họ xúi giục dân chúng nổi loạn . Ở một xứ mà giáo dục được phổ biến nhiều như ở Trung kỳ, vấn đề quan lại và Văn thân sẽ luôn luôn là một trở ngại cho công trình thuộc địa chúng ta. Do đó tại sao trước hết chúng ta phải đương đầu với tình trạng mà sự có mặt của họ đã gây ra, và vì lẽ chúng ta không tiêu diệt được họ, chúng ta phải dùng họ, nhưng muốn dùng, trước hết chúng ta phải canh chừng các hoạt động của họ, hiện nay chúng ta không thể làm được. Đối nghịch với tổ chức mạnh mẽ của họ dựa vào tổ chức hành chánh và chánh trị trong nước, chúng ta chỉ có một tổ chức phôi thai và không lãnh đạo. Vì thật là buồn khi nhận thấy rằng chúng ta tuyệt đối thiếu sự lãnh đạo ở Bắc kỳ, mà chúng ta lại vấp phải những kẻ khôn ranh, lợi dụng tuyệt hảo mọi mâu thuẩn trong hành động chúng ta, sự rời rạc trong chính sách chúng ta và biến chúng ta thành khí giới để quay lại chống chúng ta.”[20]

Làm sao sửa chửa tình trạng tồi tệ đó ? Thiết lập một sự kiểm sóat chặt chẽ các tổ chức hành chánh An nam, kiềm chế nó :

“Chùng nào chúng ta không bao trùm Bắc kỳ bằng mop65t màng lưới cai trị có thể đi vào được bộ phận nhỏ nhất của nền cai trị bản xứ, và liểm soát hành vi của nó thì uy quyền của chúng ta vẫn còn mong manh. Chính là muốn tự tạo ảo tưởng cùng nói suông, khi bảo rằng sự bình định đã xong xuôi. Bình định vật chất có nó trong nhất thời hoặc vì mệt mõi hoặc vì có sự trùng hợp quyền lợi giữa viên chức cao cấp bản xứ cùng chúng ta. Nhưng sự bình định tinh thần, việc đó cần phải làm, và nó chỉ có khi nào chúng ta đã thiết lập và tăng cường màn lưới cai trị mà mỗi sợi nhờ phải ở trong tay chúng ta, nghĩa là khi chúng ta nắm giữ chặt các viên chức cai trị bản xứ bằng các viên chức chúng ta. “[21]

Nhưng cả điều đó vẫn chưa dủ. Quan lại Richaud khẳn định vẫn còn phản chúng ta chừng nào mà chúng ta còn chưa làm cho họ cảm thấy mọi hoạt động của họ, chúng ta đều biết, và nhất là chừng nào mà chúng ta chưa nắm lấy triều đình Huế trong tay. Và đó là mối lo âu chính của Richaud.

b. Đừng bịt mắt trước sự thật nữa, y nói : nguồn gốc và đầu não phong trào khởi nghĩa nằm tại Huế. Sự xáo trộn liên miên, làm chúng ta phải canh chừng mãi, và làm chúng ta không khai thác được lợi lộc trong cuộc chiếm đóng, do các hoạt động ngấm ngầm của quan lại và triều đình Huế của Tự Đức cho đến ngày ổng chết và cho đến nổi ngay khi ổng nằm trên giường chết vẫn mơ ước lấy lại Nam Kỳ, đã gây ra tại đó nhiều cuộc nổi dậy. Mới tháng trước đây, tại Sa Đéc ở Nam kỳ, chúng ta khám phá ra một ông quan phát bằng cấp để phát động một cuộc nổi dậy. Thế đó, nếu sau 30 năm chiếm đóng, quan lại còn tìm cách xúi dục nổi loạn ở Nam kỳ, và còn có một số người nghe theo, thì ở Bắc kỳ họ còn dễ dàng đến đâu khi mà chúng ta vừa mới đặt chân vào chỉ hôm sớm thôi ?

Vì thế tại sao “chúng ta phải nhất quyết hảnh động và tập trung mọi nỗ lực để thiết lập ưu thế chúng tan gay tại trung tâm, tức là tại Huế ? “ Richaud đề nghị dời phủ Toàn quyền Đông dương đến kinh đô Trung kỳ : “Chính phủ sẽ làm một biện pháp rất đúng nếu ra lệhn cho vị Toàn quyền đóng tại Huế. Tôi đi xa hơn : nếu liên hiệp Đông dương mà có thì vị Toàn quyền phải đóng tại đó, vì rằng chính tại đó là nơi có mọi khó khăn, chính tại đó là nơi phát sinh mọi mưu mô cản bước hành động chúng ta.

“Vị Toàn quyền ở Saigon, quá xa, ông phải ở ngay trung tâm xứ mà chúng ta bảo hộ, để nắm vua, nhất là các thượng thư thân cận nhà vua, trong tay mình. Ở tại trung tâm, là nơi có vua, các đình thần, hội đồng cơ mật và thượng thư, là nơi tổ chức các âm mưu, ông ta sẽ hành động trực tiếp lên họ, áp đặt ý muốn của ông ta vì những gì liên hệ đến Bắc kỳ, cho những lời cố vấn về Trung kỳ, và những lời cố vấn nầy, có thể có tính cách mệnh lệnh nếu dính líu đến quyền lợi chúng ta.

“Vì rút cục, đây không phải là đi làm việc nhân đạo, và nói suông. nếu nền bảo hộ của chúng ta phải bất động và lý tưởng, thà rằng chúng ta rút lui. Mọi nền bảo hộ không đưa đến sự chinh phục hoàn toàn cả xứ, là một sự phỉnh phờ.

“Tôi không nói rằng kết quả sau cùng đó phải đạt được ngay trong ngày mai, và trong một hạn kỳ nhất định, nhưng mọi hoạt động hướng dẫn hành động chúng ta đều phải nhằm mục đích đó. . Bằng cách theo một chính sách lợi dụng ngay những trường hợp bé nhỏ để bành trướng thế lực chúng ta, không bao lâu nữ chúng ta sẽ làm chủ hoàn toàn xứ nầy.”[22]

Và Richaud mời người khác lưu ý rằng các trường hợp đưa người Pháp đến chổ dùng vũ lực chiếm nhiều tỉnh ở Trung kỳ và nhiều vị trí chung quanh Huế : “vậy chúng ta hãy ở đây, thay vì rút lui, trái lại hãy tăng cường lực lượng ở đây. Giảm bớt, nếu muốn, số đồn bót, nhưng hãy tập trung lại tại một số điểm chiến lược để giữ xứ nầy. Và tôi xin lập lại, chúng ta không phải đi gây chiến, chúng ta ở Trung kỳ là do một điều khoản trong hiệp ước, chúng ta hãy ở lại ! “[23]

Sự thực là vua Đồng Khánh, con đẻ của Pháp, bây giờ và mãi mãi sau nầy sẽ trung thành với nước Pháp, vì thế, “quan trọng nhất là chúng ta tránh làm mích lòng ông ta vì những hành vi vụng về, vì những xúc phạm tinh thần, vì những sự bất kính làm ông ta bực mình, vì ông ta có ý thức cao độ về chức vị và quyền hành vua chúa của mình.”[24] Khốn thay không phải ông điều khiển việc nước. “Từ lâu rồi, ở Trung kỳ, danh giá nhà vua chỉ còn có tính chất tế tự và thiêng liêng, và tầng lớp nho sĩ, mạnh mẽ, đã từ lâu đưa nó đến tình cảnh gần như có tính cách hình tượng tế tự. Chúng ta cần phải áp chế từng lớp Văn thân và quan lại đang nắm giữ mọi địa vị và mọi chức vụ nầy ,”[25]

Vì thế chúng ta phải, Richaud nói, làm nhiều để đem lại cho ông vua nầy - một trong những lực lượng có ích nhất mà chúng ta có thể khai thác có ích cho chúng ta – toàn thể uy quyền cần thiết để trấn áp cận thần ông ta, vì chính tại đó, trong các hội viên hội đồng cơ mật , trong các thượng thư, trong các quan to, chính đó là trung tâm của mọi sự chống đối lại hoạt động và thế lực chúng ta. Các người đó “chưa thành thực theo chúng ta, họ tiếc tình trạng củ, miễn cưỡng chịu đựng sự can thiệp của chúng ta vào các vấn đề của vương quốc, và bất đắc dĩ họ mới nhường những điểm cần thiết cho chúng ta. Họ quá già và quá tự phụ về địa vị cao cả của họ để mà cố gắng tìm hiểu văn minh của chúng ta và để thấm nhuần nó, họ chịu đựng nhẫn nhục một cách rõ rệt một tình trạng mà họ không ngăn cản được, nhưng chúng ta sẽ tự gây ảo tưởng to lớn nếu hy vọng là chinh phục được cảm tình họ hay mong được họ giúp đở, trung thành.”[26]

Richaud cho rằng điểm phải đưa lên hàng đầu trong kế hoạch của y là phải lôi kéo ngày càng chặt chẽ ông vua do y muốn của Pháp lập nên phải đi theo quyền lợi nước Pháp,[27] Điều cốt yếu của chính sách Pháp là trút đầy vinh dự lên ông ta, nâng uy thế ông ta, giúp đở ông ta củng cố uy quyền đối với các quan “nhưng phải có lợi cho chúng ta “[28] Về thái độ của người Pháp đối với vua nầy, Richaud khác hoàn toàn Constans nhất là về điểm nầy, Richaud ttrách người trước y và viên thống sứ Hector đã đối đãi với ông vua như hai nước đối đãi nhau, “Nhưng ođ1 là kẻ thù mà chúng ta bảo hộ, nhất là Đồng Khánh do chúng ta đưa lên làm vua, y phải dưới quyền của chúng ta “.

Sai lầm lớn nhất của chính sách Pháp là, theo Richaud không biết cái gút của vấn đề Việt nam nằm tại Huế. Nếu Rigault de Genouilly, thay vì rút quân chở về Sài gòn, mà nhắm Huế thẳng tiến, như giám mục Penlerin khẩn thiết khuyến cáo, vấn đề Việt nam có lẽ đã giải quyết xong từ lâu. Garnier năm 1883, cũng vậy, đáng lẽ họ phải đi thẳng đến thủ đô.

Chúng ta đừng phạm lỗi lầm đó, “Tôi không thể không lập lại mãi rằng trung tâm hoạt đông của chúng ta phải là Huế…Đến ngày chúng ta đứng vững ở thủ đô vương quốc, chế ngự các hội đồng nhà vua, giám thị âm mưu các quan, chúng ta hòa giải về mặt hình thức, nhưng cương quyết và mau lẹ, khi đàn áp sự sai lạc của họ, tôn trọng hình thức quan quyền cổ truyền của họ, có lúc ủng hộ nữa, cũng tôn trọng phong tục, tập quán, tất cả đều để phục vụ hành động của chúng ta, khi nào chúng ta có được có được một tổ chức cai trị cho phép chúng ta kiểm soát vững chắc hành vi các quan hàng tỉnh đến độ cho họ cảm thấy rằng không có gì thoát khỏi tai mắt chúng ta và chúng ta cương quyết trừng trị mọi cố gắng phản bội của họ, ngày đó, chỉ cần dựa vào một đội quân chiếm đóng ít ỏi, chúng ta cũng làm chủ cả nướcnầy. Trước khi đến ngày đó chúng ta phải cảnh giác”[29]

Cũng thuộc loại ý kiến đó, Richaud ra lệhn cho giớiu chức quân sự tại Huế duy trì tại thủ đô – nhưng vẫn tập trung tại một điểm xa cung vua để đừng khiến cho dân chúng nghỉ rằng ông nầy là tên tù của người Pháp - một số quân đầy đủ “để giúp vị khâm sai, nếu cần thì dùng sức mạnh để hổ trợ đòi hỏi của mình và để bảo vệ mạng vua chống lại mọi âm mưu và mưu đồ của các quan”[30]

Mặt khác, y còn khiến triều đình Huế chấp nhận một nghị định, qui định các mối tương quan phụ chánh và các hội đồng với viên khâm sứ, theo đó, nhiếp chính viên và các hội đồng nhà vua không được quyền ra lệnh, không được làm làm bất cứ việc gì nếu không có sự can thiệp của Pháp. Sau đây là bản văn của nghị định đó:

“Nhiếp chính viên mỗi ngày họp một lần để giải quyết các việc thông thường, báo cáo tóm tắt với đức vua, việc báo cáo hàng ngày nầy sẽ bằng giấy tờ nếu là các việc quan trọng.

“Ngoài những phiên họp thường lệ, sau khi được vị khâm sứ đồng ý, nhiếp chính viên sẽ họp để nghiên cứu và thẩm xét các vấn đề không thể giải quyết trong các phiên họp thường lệ. Về phần Viện Cơ mật, vị viện trưởng cùng vị Khâm sứ thỏa thuận nhau ấn định ngày, giờ triệu tập. Vị khâm sứ sẽ thm dự hay cử người đại diện tham dự các khóa họp của các viện.

“Mỗi viện phải có sổ chép thành hai bản sao :

1- Để ghi biên bản tóm tắt mỗi phiên họp, ghi những vấn đề nghiên cứu, các giải pháp phải theo, các đề nghị đưa ra.

2- Để ghi tóm tắt những văn thư từ các tỉnh gửi đến.

3- Để ghi tóm tắt các văn thư gửi đi các tỉnh.

“Một bản sao của mỗi quyển sổ được lưu lại tại viện, bản kia nộp cho tòa Khâm, Hội viên của viện và vị khâm sứ ký vào các biên bản.

“Ở các bộ Lại, bộ Hộ, bộ Hình và bộ Công đều có hai quyển sổ, một quyển ghi tóm lược các lệnh hay các văn thư gửi đi các tỉnh, một quyển ghi tóm lược các văn thư từ các tỉnh gởi về. “Các sổ đó được sao thành hai bản, ngày nào cũng có một nhân viên của bộ do quan Thượng thư ủy nhiệm và một trưởng phòng tòa khâm duyệt lại. Một bản sao các sổ được giữ lại ở bộ, còn bản kia nạp cho tòa khâm”[31]

Rõ rệt là với nghị định nầy, triều đình Huế bị khống chế hoàn toàn.

Đắc chí về kết quả đó, Richaud phê bình, trong một phiên thảo luận tại quốc hội ngày 28-2-1889, chính sách “xóa mặt” của Constans, mà y cho là đã biến toàn quyền thành một đại sứ hay một sứ thần bên cạnh vua An Nam chứ không phải là một giới chức bảo hộ. Đem so sánh với chính sách của mình, y nói: “Chúng ta đã can thiệp ngay trong việc giải quyết các vấn đề nhỏ nhặt của kho bạc nhà vua…và sau cùng, ngày nay, chúng ta khống chế tại các hội đồng của triều đình và không có mệhn lệnh nào truyền cho giới chức bản xứ mà không được thông tri cho chúng ta…Chính đó là nền bảo hộ thật sự.”[32]

Trong phần trả lời, Constans lúc đó làm Bộ trưởng Nội vụ, nghiêm khắc lên án chế độ quân sự mà Richaud đã áp dụng có hệ thống, chế độ khe khắc, cũng như mất lòng người, chắc chắn cuối cùng sẽ làm cho triều đình Huế và cả nước nổi dậy chống nước Pháp.[33]

Sauk hi Boulanger bỏ trốn, Constans thành người chủ mạnh mẽ có toàn quyền, đã không còn ghép bộ thuộc địa vào bộ Hải quân do Kantz nắm giữ mà y cho là không đáng tin cậy mấy, mà ghép bộ thương mại hiện nằm trong tay Tirard mà y cho là mềm dẽo hơn nhiều. Y đặt Étienne vào chức Thứ trưởng bộ Thuộc địa hiện nằm trong tay Delaporte, người che chở cho Richaud, và ra lệnh cách chức tên nầy.[34]

II CHÍNH SÁCH XÂM LĂNG VÀ SÁT NHẬP ĐẤT ĐAI.

Chúng ta biết rằng hiệp ước 1884 đã trả lại cho Trung kỳ 3 tỉnh phía Bắc (Thanh, Nghệ, Tỉnh) mà hiệp ước 1883 đã sáp nhập vào Bắc kỳ, và 2 tỉnh phía Nam (Khánh Hòa, Bình Thuận) mà cũng hiệp ước đó sáp nhập Nam kỳ. Rõ ràng biện pháp nầy đi ngược lại quyền lợi của các giới chức Pháp ở Bắc kỳ và ở Nam kỳ, một đằng vì quyền lợi của các phái bộ gia tô tại các tỉnh đó, một đằng, giới chức trên mất quyền kiểm soát đất đai trực tiếp, giới chức dưới lại thấy bị đặt dưới sự kiểm soát của quan lại Huế, kẻ thù của họ.[35] Vì thế, đối với giới chức nầy cũng như đối với giới chức kia, vấn đề là phải khôi phục lại các tỉnh đã mất.

Mặt khác, sự bất hòa giữa giới chánh phủ dân sự và giới chức quân sự Bắc kỳ ngày càng trở nên sâu xa sau khi Richaud từ giả. Toàn quyền Picquet, thuộc phe chính trị dân sự, thuờng xuyên chống đối tướng Bichet, viên chỉ huy đoàn quân chiếm đóng, tên này được giám mục Puginier ủng hộ, ngoan cố theo đuổi chính sách xâm lăng Bắc kỳ.

Chúng ta lần lượt xét đến chính sách thôn tính Trung kỳ và chính sách xâm lăng Bắc kỳ .

I- Các cố gắng sáp nhập các tỉnh miền Nam Trung kỳ :

Vì triều đình Huế hết sức tha thiết giữ tỉnh Thanh Hóa, nơi chon nhau cắt rốn của họ Nguyễn, ở lại Trung kỳ, người Pháp sau khi suy nghỉ chín chắn, không cho rằng nên gần các khó khăn về các tỉnh phía Bắc, trái lại họ hướng về hai tỉnh phía nam mà họ muốn ghép vào Nam kỳ.

a- Việc chiếm Bình Thuận và Khánh Hòa :

Sau khi Pháp chiếm Nam kỳ, một số đông quan lại trốn khỏi xứ nầy và lánh nạn tại Bình Thuận, tỉnh tiếp giới với thuộc địa mới của Pháp. Đối với giới chức Pháp, Bình Thuận là trung tâm kháng chiến Việt nam và là mối đe dọa thường trực cho nền an ninh của Nam kỳ. Đối với các kẻ truyền đạo, Bình Thuận “thiên đàng của các quan sát và địa ngục của các con chiên”. Khắp nơi họ nói, các vụ tàn s1t nổ ra với tiếng gào thét “trước hết, hãy giết giặc Pháp bên trong, rồi sẽ đuổi được giặc Pháp bên ngoài ”. Trong 6 tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam đến Bình Thuận, có 40.000 con chiên, thì đã hơn 25.000 bị giết, tài sản bị cướp hay tiêu hủy hoàn toàn.[36]

Nhiều lần các kẻ truyền đạo ở các tỉnh miền nam trung kỳ yêu cầu Thống đốc Nam kỳ can thiệp, giám mục Von Camelbeck ở Bình định và linh mục Maillard ở Quảng nam còn khuyên y mở “một cuộc thánh chiến thật sự chống lại bọn ngoại đạo”.[37]

Cuối năm 1884, thống đốc Thompson cử Aymonier, công sứ Pháp ở Cambodge đi công cán ở Bình Thuận và Khánh Hòa. Dưới hình thức một nhà dân tộc học đến các tỉnh để nghiên cứu đời sống cùng phong tục Chàm ít người, Aymonier sẽ phải cung cấp cho Thompson mọi tin tức liên hệ đến các vùng nầy.

Với sự giúp đở của các kẻ truyền đạo nhất là hai linh mục Auger và Vullaume, Aymonier đi khắp nơi và tiếp xúc với người Chàm, một dân tộc “bị tầng lớp Văn Thân bốc lột” và “còng lưng dưới ách thống trị của giới quan lại gồm tất cả những kẻ được mớm sự ngụy biện của các thánh hiền Trung quốc”[38] Y nẩy ra ý tưởng xúi dân Chàm nổi dậy chống chính quyền Việt nam. “Thực tế là nếu tin chắc được ủng hộ, và không bị bỏ mặt cho người An Nam trả thù, người Chàm ở Bình Thuận ngày nào mà Pháp muốn, sẽ cống hiến cho người Pháp một số người hết sức trung thành từ 50.000 đến 60.000 người …Đã đến lúc đưa ra các biện pháp, mỗi ngày họ mỗi bị cướp bóc và tàn hại một cách có hệ thống, họ nợ nần và bán ruộng đất cho người An Nam…Trong vòng 3 tháng nữa, kể từ ngày tôi rời khỏi nơi đây…Tôi sẽ thu lượm được nhiều chứng cớ cho một cuộc điều tra dù còn nông cạn, nhưng cũng đủ làm cho tôi trở nên người thông dịch cho hơn 10.000 người đau khổ còng lưng dưới sự áp bức nhục nhã đáng nguyền rủa nhất đang đợi những ngày đẹp đẽ hơn và đang chờ nước Pháp”.[39]

Cũng giống như các tín đồ Gia tô và người Bcắ kỳ, người Chàm trông đợi người Pháp như chờ đợi người giải phóng !

Để “giải phóng” các người Chàm khốn nạn đó, Aymonier đã trình cho thống đốc nam kỳ một ý kiến kỳ lạ mà chính y cũng phải thừa nhận là khó đứng vững về mặt pháp luật quốc tế, nhưng lại tin là có thể đòi được ở chính phủ Huế : xem người Chàm như là người nước ngoài và đặt trực tiếp dưới pháp luật của Pháp.[40]

Trở về Saigon, Aymonier bỏ ý kiến đó, đòi chiếm hai tỉnh Bình Thuận và Khánh Hòa và y nói con chiên đang bị tàn sát và dân chúng bị kẻ làm loạn tàn phá sau khi vua Hàm Nghi bỏ đi.[41] “Con chiên An Nam bị tàn sát đầy dẫy với sự cương quyết man rợ theo những khẩu hiệu đã được chuẩn bị từ lâu… Chưa có tin tức gì được thoát ra về những gì đang xẩy đến tại các tỉnh phía nam vùng Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận mà con chiên nếu còn bình yên chắc đã trốn một số ít ra Qui Nhơn vì đang lúc gió mùa thuận lợi. Đây là một sự im lặng không lành, một sự im lặng của thần chết.”

“Tuyệt đối cần dựa vào các phần tử phi An Nam để hiện nay cũng như sau nầy chống lại đừng bỏ qua 50.000 dân Chàm ở Bình Thuận mà một nửa theo đạo Hồi, những người Chàm đó sẽ trung thành với chúng ta khi nào họ chắc chắn được ủng hộ… Việc chiếm các tỉnh đó đối với Nam kỳ thuộc Pháp là một biện pháp hoàn toàn tự vệ. Cái bóng ma chính phủ đóng tại Huế không hoạt động gì quá tầm súng quân đội chúng ta và rất có thể rằng toàn thể Trung kỳ sẽ nằm trong lửa.”[42]

Về kế hoạch chiếm đóng, ngoài quân đội và vài chiếc tàu, Aymonier đề nghị biện pháp hơi khác thường : chở tức khắc cho y các người Hồi bị đày và bị kết án ở Algérie và Tunisie, vậy phải dốc trống các nhà tù và nơi đày ải nhưng lại chỉ giữ các người lành mạnh. Những người bị tù đày đó Aymonier sẽ phân tán cho người Chàm can giữ và nếu hạnh kiểm xấu thì sẽ bị trừng trị. Nhiều người nầy chắc sẽ cưới vợ vì đàn bà Chàm nhiều hơn đàn ông. Đàn ông “chết vì bị quan lại An nam trưng tập bắt làm xâu dịch nặng nề” những người Hồi đó chắc sẽ bảo đảm vững vàng cho người Chàm .[43]

Thônố đốc Nam kỳ hoàn toàn tán đồng kế hoạch sáp nhập của Aymonier. :Thực vậy, các tỉnh Bình Thuận và Khánh Hòa quá xa Huế và rất gần Sai gòn. Việc sáp nhập chúng vào Nam kỳ đem lại cho chúngh ta các biên giới thiên nhiên rất tốt, được tạo thành bởi các eo gần mũi Hoàng sa và trong tương lai sẽ bảo đảm được an ninh cho thuộc địa chúng ta bằng cách chặt làm hai khúc, xứ trung kỳ là nơi mà dân chúng quyết liệt chống lại mọi sự đồng hóa, sẽ gây cho chúngh ta các sự bối rối to lớn và lâu dài do lòng căm thù sôi sục của quan lại và Văn Thân chống chúng ta.”[44]

Nhiều báo cáo từ Sai gon gửi về Bộ hải quân và thuộc địa trình bày bằng một giọng bi thảm vế phong trào khởi nghĩa của hai tỉnh đó, về các vụ thảm sát con chiên ngày càng dữ dội và cả về sự giúp đở của Trung quốc cho quan lại khởi nghĩa nữa ! Bộ ngoại giao được bộ Hải quân hỏi ý kiến, cuối cùng đã tán thành sự xuất chinh mà thống đốc nam kỳ đề nghị : “Tình thế…có tính chất biện minh cho mọi biện pháp đề phòng của ông thống đốc nam kỳ.”

Do quyết định 13-3-1886, bộ trưởng ngoại giao bổ Aymonier làm công sứ biệt phái tại Bình Thuận. Việc bổ nhiệm nầy là vi phạm trắng trợn hiệp ước 1884, vì hiệp ước chỉ thừa nhận một công sứ cho toàn Trung kỳ.

Paul Bert được thống đốc Nam kỳ cho biết ngay từ đầu kế hoạch sáp nhập, đã hứa ủng hộ hoàn toàn, “tôi tán thành hoàn toàn ý định của ông về Bình Thuận và cám ơn ông về ý định đó” Y nói thế với thống đốc Philippine trong điện tín ngày 29-6-1886. [45] Y để cho Nam kỳ được toàn quyền vế các biện pháp áp dụng ở Bình thuận, còn y, chỉ vận động cho triều đình Huế chấp nhận ít nhất là trên nguyên tắc cuộc xuất chinh nầy mà y trình bày như là một biện pháp cương quyết dùng để đàn áp các phong trào ủng hộ vua Hàm Nghi và nâng cao uy quyền của Đồng kháng đối với dân chúng.[46]

Bình Thuận và khánh Hòa bị chiếm ngày 7-8-1886 việc đàn áp thật là khủng khiếp, Aymonier nhờ nhất vào s6ự giúp đở của tên thiên chúa giáo Trần bá Lộc, tên hợp tác tốt nhất, can đảm nhất và kỳ cựu nhất của Pháp, y hiện đang làm tri phủ sau khi qua lần lượt các cấp bậc dưới của cơ binh, trước kia y đã được Pháp dùng và thành công trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ và nổi tiếng là tàn bạo và tham lam. Tri phủ Lộc “chặt nhiều đầu” chính y đã viết như thế trong một bức thư, lại còn bắt những người có liên hệ với kháng chiến bối thường, và vì thế y được khen thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng 3. [47]

Chỉ có sự tàn bạo của viên chỉ huy của tên Lộc là ngang hàng với sự tàn bạo của y : “Tôi đã ra lệnh Aymonier viết trong một báo cáo, đốt nhà và cướp bóc thật là nhỏ nhen, vì tất cả đ ồvật có giá trị đều bị lấy hết, nhà cửa của các lãnh tụ cầm đầu, các kẻ cộng tác cũng làm thế, với sự đồng  ý của tôi. Đó là cái mà tôi gọi là phương tiện tâm lý nhằm hai mục đích : khủng bố những kẻ làm loạn và củng cố lòng trung thành của quân đội bản xứ mà dù sao thì động cơ không lấy gì làm cao thượng cho lắm.

“Ngoài ra khi các kẻ cầm đầu phiến loạn bị đuổi bắt và truy nả ở chổ xa, trong rừng, trên núi, sau những cơn mệt lữ, tôi cũng như người giúp việc không bao giờ có ý định ngăn cản quân đội cướp bóc tiền bạc hay vâậ dụng của các tên cầm đầu phiến loạn : chiến tranh có những cái khắt khe mà chúng ta phải thể hiện xa vời với việc dập tắt các việc đó, tôi còn đưa các đồ cướp được đó, các chiến lợi phẩm đó, làm phần thưởng chính đáng cho kẻ truy nã.”[48]

Tại Huế, vua và các viện cơ mật hết sức bối rối khi được tin về Bình Thuận và Khánh Hòa. Họ không còn chút nghi ngờ nào nữa, trước tầm to lớn của các biến cố về các ý đồ của Paul Bert muốn sáp nhập ba tỉnh phía Bắc, hay ít nhất là tỉnh Thanh Hóa vào Bắc kỳ và để cho Nam kỳ sáp nhập hai tỉnh phía nam.[49] Nhưng triều đình lại cũng không phải không biết rằng ngày nào mà quan lại và Văn Thân tin rằng vua thông đồng với chính sách sáp nhập là ông mất hết ảnh hưởng có thể co với họ, trái lại ảnh hưởng của vua Hàm Nghi gia tăng đến mức độ khá lớn, khiến cho khởi nghĩa lại đồng thời tái phát khắp nơi.[50]

b.- Chương trình Aymonier :

Trung thành với tư tưởng của mình, Aymonier cố gắng xúi người Chàm chống lại người Việt. Bình Thuận như chúng ta biết, gồm một số đông người chàm, trước kia họ là chủ xứ nầy, nhưng phần lớn đất đai bị người Việt nam cần cù hơn, quyền biến hơn, chiếm giữ từ ba, bốn thế kỷ, Aymonier tuyển mộ lính tráng trong số người Chàm đó và đưa một vài người lên làm chánh tổng hay tri huyện nữa. nhưng chính sách thật của y là Chính sách thiên chúa . Dù là người không tín ngưởng. Aymonier quả quyết rằng sức mạnh duy nhất mà Pháp có thể dựa vào để làm chủ thật sự xứ nầy là các nhà truyền đạo và các con chiên. Đây là lý do :

“Bổn phận chúng ta là bình định xứ sở, nhưng quyền lợi tối cao của chúng ta là canh chứng không để cho sự bình định đó một ngày kia quay lại chôn vùi chúng ta. Nếu cai trị là liệu trước, chúng ta phải thăm dò các mối nguy trong tương lai ở tận bên kia các khó khăn hiện tại.

Nhưng một khi x! ư sở được bình định rồi, mọi người đều được bảo vệ, những kẻ hung hăng không gọi kẻ khác là bán nước, là tay sai cho Tây, tất cả đều xích lại gần nhau. Lúc đó chúng ta không còn tin được vào lòng trung thành của họ, dù là có điều kiện, ngoài những người tuyệt đối tự hoại và các kẻ Parias bị cả hai phía bạc đãi, các con chiên.

Nếu triều đình Huế có những do dự, những mò mẩm, những phân vân về chính sách Pháp cũng như các sự tranh chấp của các người thi hành chính sách nầy, trái lại, từ lâu họ tin rằng phải chiến đấu nhất là chống lại một kẻ thù hăng say, không đội trời chung , làm mất gốc giống nòi, chuẩn bị cho ngoại bang thống trị, đe dọa nền độc lập xứ sở- một kẻ thù có tinh thần liên tục, kiên nhẩn mà chính sách Pháp không có.”[51]

Muốn bàn đến vấn đề đó, tuyệt đối cần thiết, theo Aymonier, bỏ thành kiến ch61ng đối giáo hội đang ngự trị tại chính quốc và nếu đem thành kiến nầy du nhập vào thuộc địa, nếu có khi nào có quyết định đó, thì hậu quả sẽ cực kỳ tai hại cho chính sách thực dân :

Cách đây hai, ba thế kỷ, nhà chíng trị nổi tiếng nhất hay chiến sĩ anh dũng nhất sẽ bị làm chục trước công chúng - nếu không bị đày ải - nếu có danh hiệu là kẻ ngoại đạo hay kẻ tân tong . Ngày nay, bên ngoài thì khác hẳn, những ai tin rằng cần bảo vệ nó - đến mức độ nào đó – cũng thành đáng nghi, và lập tức bị xem là kẻ ủng hộ tăng lử, nhưng chắc sẽ đến một ngày mà lịch sử kết án thành kiến mới nầy, vì nó gây tai hại cho các thuộc địa mới cũng bằng, nếu không muốn nói là hơn, thành kiến cũ tại chính quốc.

Kẻ viết những giòng nầy xin nói rằng y tuyệt đối dững dưng trước các vấn đề giáo điều hay thuần túy tôn giáo, y chỉ nhìn tương quan của chúng với công trình nước Pháp ở Đông Dương và một người xây dựng nền cộng hòa Pháp thứ ba, há đã không nói đến thân chủ tôn giáo nước Pháp và nói “chiến tranh chống tăng lử không phải là món hàng xuất cảng” đó sao ? Sai khi phung phí tại xứ đó quá nhiều vật quí báu, vàng và máu của nước Pháp, há nên để hy sinh cho các thành kiến đó, mà một ngày kia phải rút lui nhục nhã chứ không tìm phương tiện hữu hiệu nhất để thống trị đế quốc An Nam một cách vững chắc và có lợi ?

Khi ký hiệp ước 1884, triều đình Huế đã nghĩ đến các phương tiện tiêu diệt sức mạnh huyền bí của các con chiên . Để làm việc đó, họ dựng những pháo đài đại bác chống lại cơ sở chúng ta tại Qui Nhơn và Huế. Các pháo đài Qui Nhơn bị loại trừ nhờ sự đề phòng của vị lãnh sự, các pháo đài ở Huế đã làm việc trong đêm 5-7-1885. Chắc chắn là từ 1882, có lẽ trước nữa, việc tàn sát các con chiên đã được thảo luận và quyết định tại triều, rồi lần lượt hoãn lại vì nhiều lý do : cái chết của Tự Đức, việc bắn phá Thuận An, sự bất hòa giữa các quan phụ chính. tất cả đều được chuẩn bị, theo một kế hoạch đã suy nghĩ trước từ lâu, các buổi kinh vãn khóa Siciliennes mới, một vụ thánh Barthélé my to lớn chắc chắn xẩy ra, trong cùng một ngày trên toàn quốc. Vụ tấn công bất ngờ chống lại tướng De Courcy ngày 5-7-1885 làm hỏng khẩu lệnh chung, nhưng do ai đã tổ chức sẳn sàng các vụ tàn sát tự động nổ ra tại Quảng Ngải và lan tràn xuống phía Nam, giống như một vụ lửa cháy với nhiên liệu có sẳn. Đó là điều không thể không nhắc lại mãi trước thành kiến của người nầy và sự không biết gì hết, nếu không là sự lỗi lầm của người kia… Nếu 40.000 tín đồ Thiên Chúa đó vẫn còn, tôi sẽ đủ sức mạnh để giữ xứ nầy dưới quyền thống trị của chúng ta mà hầu như không cần quân đội Pháp.”[52]

Làm thế nào để ủng hộ sự phát triển ảnh hưởng và sức mạnh của con chiên và phái bộ truyền giáo ? Phương cách dễ dàng nhất có thể thực hiện ngay là bắt tất cả dân không đạo bồi thuờng cho dân có đạo. Chúng ta đừng quên rằng các tỉnh miền Nam Trung kỳ nghèo, luôn luôn bị đói khổ rình rập, và chỉ sống được nhờ bao công phu. Làm nghèo thêm người dân đã nghèo sẵn rồi nầy, Aymonier nghĩ, làm dễ dàng cho các phong trào đổi đạo.

Nếu có lúc nào mà danh dự và quyền lợi của nước Pháp kết chặt nhau, thì chính là trong vấn đề bồi thường cho con chiên ban đầu là do các kẻ bức hại họ, và kế đó, là chính phủ An nam phải chịu liên đới . Ngài sẽ nói rằng có một vấn đề quan trọng hơn, đó là vấn đề Thuận Khánh mà triều đình Huế đòi lại một cách “khẩn thiết”. Đó là quyền của họ, nhưng quyền của chúng ta, của ngài, là đòi cả xứ phải bồi thường cho con chiên cùng đưa ra những bảo đảm nghiêm chỉnh trong tương lai…

“Chỉ tính 25 đồng hay 100 phật lăng cho mỗi cái đầu bị chặt, theo lệnh trước kia của triều đình…thì phải trả cho phái bộ sáu tỉnh liên hệ một số tiền bồi thường đến 2.500.000 phật lăng và sẽ trả bằng đất công. nếu không đủ tiền. nếu sau đó, phái bộ lôi kéo khá nhiều những kẻ mới theo, để bù đắp, hay vượt quá số thiệt hại, nếu người An nam sẵn sàng theo đạo vì một đồng bạc hay một túi gạo, tự thâm tâm, tôi thú nhận rằng, tôi không thất vọng tí nào.

trước khi giai cấp tăng lử trở thành đáng sợ ở An nam, sẽ đến lúc một thiểu số con chiên – khá mạnh để cho không ai có thể nghĩ đến việc tàn sát họ - làm cho mọi vụ nổi loạn không thể xảy ra được.

“nhưng, người ta sẽ nói với tôi, ông đi lần đến chiến tranh tôn giáo”. Đó là lý luận thường được lập lại mà không nghiên cứu sâu xa sự kiện và hoàn cảnh, vốn sai lầm từ căn bản vì không kề đến các vụ tàn sát hàng loạt có tính cách chính trị hơn là tôn giáo. Thạt là một lời vu cáo có hay không có ý thức khi cho rằng, như người ta thưoơng làm, có một cuộc chiến tranh tôn giáo, cùng với các việc sát hại lẫn nhau, nơi nào mà nạn nhân tin rằng mình có thể tự vệ được, thì họ cố làm, nhưng nhất định họ không phải là kẻ tấn công trước …

“ Nhưng chúng ta lại không dám thẳng thắn ủng hộ con chiên, tại nhiều nơi, những nổi hà khắc, sự đối xử tàn tệ được dành cho họ, khi người ta nghỉ đến đó, có thể nói là đã biện giải là để trả giá các nỗi nghi ngớ.

“Cách hành động của tôi thì khác hẳn, trong khi trừng trị nghiêm khắc ba, bốn con chiênlợi dụng tình thế mới để đi bắt người ta bồi đền, hay để đi khảo tiền bạc của dân chúng, tôi đã thẳng thắn ủng hộ khối người bị áp bức, vì làm thế là công bình và cũng do quyền lợi chúng ta mà họ phải chịu áp bức. Tôi ra lệnh thu dụng và luyện tập lớp thanh niên nếu họ không thấy có gì bất tiện. Tại Khánh Hòa, các vụ tàn sát thật lớn, tôi ra lệnh bồi đền 10.000 đồng…tôi cũng không lo ngại về sự phân phát tiền bồi thường ở Khánh Hòa, mong rằng phái bộ dem dùng làm tiền quỹ đổi đạo, nếu thấy nên,”[53]

Đâu là những ích lợi người ta thu được từ sự che chở có tính toán kỷ lưỡng cho phái bộ ? và đâu là vai trò chính trị của đạo Thiên Chúa ?

“Tôi không có ý tưởng nào dùng kinh cầu nguyện, hay cây rảy nước thánh để thiên chúa hóa kẻ vô đạo , nhưng tôi không hề dửng dưng khi các nhà truyền giáo nói với tôi rằng nếu các tỉnh đó vĩnh viễn ghép vào Nam kỳ , dân chúng, vì không còn sợ triều đình Huế, quan lại và ccá vụ tàn sát có tính toán, sẽ đổi đạo hàng loạt. Tôi không dửng dưng, chỉ vì trước hết, nhờ đó mà thuộc địa chúng ta ở An Nam được an ninh.

“Cả ở Nam kỳ, sự khống chế không được chắc chắn của chúng là để đem lại ít tiến bộ tinh thần vì con chiên ở đó quá ít, để khối đông đảo quần chúng làm mồi cho sự tuyên truyền của các ông đạovà các tổ chức bí mật, những người và tổ chức này sẽ ngày một phát triển trong tương lai.

“Về phần tôi, nếu Khánh Hòa vẫn còn 3.000 con chiên trước kia, tôi có thể yêu cầu rút bỏ đồn Hòn Khói và giữ vững cả vùng Thuận Khánh bằng các phương tiện riêng của tôi.

“Điều mà tôi xin cho phái bộ là những gì mà người Anh, tại Ấn Độ, đã cấp cho các nhà truyền đạo Pháp cũng như các mục sư Anh, đó là sự công bình, sự kính nể và sự tài trợ tương đương với kết quả họ đạt được về mặt giáo dục.

“Kết quả do các giáo viên thay thế các sư huynh đem lại ở Nam kỳ, giảm, theo tỷ lệ ngược với số gia tăng của tiền chi phí. Chúng ta không thể không nhắc mãi điều đó cho nước Pháp , là nước muốn xây dựng một thuộc địa ở Đông dương, 200 nhà truyền giáo, trong ngắn hạn, tương đương với 10.000 người, có tốn kém gì lắm cho nước ta chăng ? Lúc nào cũng phải nhớ lại lời nói của Gambetta mà tôi đã trưng dẫn trên.

“Việc bành trướng đạo Thiên Chúa mà chúng ta có thể ủng hộ ở đây, bằng rất nhiều cách, mà không mất phẩm cách chúng ta và cả danh tiếng của một nước tự do tư tưởng nửa, không những củng cố địa vị thống trị của chúng ta trong hiện tại mà còn trong tương lai nữa, và cắt đứt mọi mưu mô của Trung quốc bằng cách đẩy lùi mọi ý tưởng sáp nhập của họ. Vì thế , cần phải ủng hộ sự bành trướng nầy, đặc biệt hướng lên phía Bắc

“Chúng ta lo sợ sự thống trị của Linh mục ? Ngày nào mà con chiên có cơ thành đa số, thì phải nghỉ đến một chính sách khác hơn. Hiện còn xa vời điều đó. Hiện giờ, nguy hiểm lớn lao và cấp bách là ở chổ khác. Vì người ta thấy ở Nam kỳ, người ta có thể nói rằng các nhà truyền giáo nắm giữ dân chúng, đàn bà và rtrẻ con. Những người An Nam có học đều dể hoài nghi, viên chức bản xứ Thiên chúa giáo chúng ta nói chung đều không phải là kẻ ủng hộ tăng lử, người An Nam có học rất dể bị thương tổn vì sự can thiệp của các linh mục.

“Vì thế, đặt nguyên tắc bồi thường hợp lý , nhất quyết áp dụng và dè dặt, ủng hộ rõ rệt các con chiêntrong khi vẫn kềm chế các nhà truyền giáo và có khi phải dập tắt lòng nhiệt thành thái quá của họ nữa. Theo tộì, là đã bước vào con đường có đầy kết quả có ích…”[54]

Đó là chương trình mà công sứ Aymonier chúng ta đề nghị với Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, chương trình mà y xem như là “bản di chúc viên chức” mà sự có ích, theo y, “không thể chối cải được ”

Làm sao mà chương trình đó “đường lối hành động đầy danh dự và công bằng nầy, và chắc chắn là đường lối tốt ”, nói theo danh từ của báo cáo được đem áp dụng tại hai tỉnh vừa mới sáp nhập vào nam kỳ ? Vấn đề nầy, chúng ta có một bằng chứng lý thúmang lại do Lanessan, lúc đó làm dân biểu hạt Seine, được bộ trưởng ngoại giao cử đi điều tra ở Đông dương , Lanessan viết :

“Trong khi tri phủ Lộc săn đuổi và xử tử các kẻ làm loạn mà không xét xử gì cả, viên công sứ do Nam kỳ cử ra bắt các nhà giàu đã có tham dự ít nhiều vào cuộc phản loạn, phải đónh tiền bồi thường chiến tranh. Các viên chức lâm thời An nam chịu trách nhiệm phân phối tiền bồi thường. Người ta thấy họ núp dưới bóng Pháp mà thực hiện những món tiền kếch sù, trong các hành vi chóng vánh sơ sài cũng như độc tài.

“Chỉ một quyết iđ5nh của viên công sứ là cũng đủ bắt cả tỉnh đóng các thứ tiền phạt đó. Đây là một ví dụ về cách làm của ông. Ban đầu tỉnh Khánh Hòa bị phạt 1000 nén bạc, tức độ 64,000 phật lăng, và giao cho một viên chức An nam tùy ý phân phối trong dân chúng. Quyết định của viên công sứ đã cẩn thận nói cho dân chúng biết rằng số tiền phạt đó chỉ vừa phải vì cuộc nổi loạn ít mạnh mẽ, Ít lâu sau, viên chỉ huy giáo khu Minh Hòa bị mưu sát bởi một người mà ông ta biết, và ông ta chỉ rõ cho tôi biết tên họ lẩn chổ ở của người đó, viên công sứ liền phổ quát hóa sự trừng trị, ông buộc hai làng phải trả cho người bị thương 500 đồng, và toàn tỉnh Khánh Hòa phài bồi thường trên 1000 nén bạc và quết định, những người tự hại nhất trong cuộc nổi loạn “hay những kẻ giàu nhất” phải chia nhau mà trả. Cũng khoản thời gian đó, chi nội quận Ninh Hòa, theo lời của người bị thương mà tôi nói trên, có 45 con chiên, và theo lời của vị truyêề giáo tại chổ thì có những 100. Tôi nghỉ không cần nói rõ các nỗi bất tiện của các phương pháp trên. Giao việc bắt nộp và chia xẻ tiền bồi thường cho các viên chức An nam không được coi là thanh liêm, trong một xứ hổn loạn vì nội chiến mà sự tố cáo để kiếm tiền là khí giới thông thường của các phe phái, có thể nói rằng, làm thế là gây sự lạm dụng. Các việc nầy vốn đã không phải không có.

“Tổng số tiền phạt do các viên chức có trách nhiệm thu được, theo lời các giới chính thức, vượt quá 1/3 số tiền nộp vào quỹ bồi thường chiến tranh.

“Mặt khác, sự tố cáo, trả thù cá nhân, việc bắt các Phật tử bồi thường cho các con chiên đã gieo rắc vào dân chúng hai tỉnh nầy các mầm móng chia rẻ và nội chiến, không sớm thì muộn cũng sẽ gây nên các hậu quả đáng buồn.

“Ảnh hưởng của chúng ta chỉ có thể là cái đầu tiên phải gánh chịu thiệt về các điều đó, vì người ta qui trách nhiệm cho chúng ta, không phải là vô lý, vì mọi lạm dụng đã có. Vã lại, tất cả những gì xảy ra tại các tỉnh nầy hình như đều do việc quên đi các qui tắc cai trị và các hành vi chính trị hợp thời. Tiền phạt bồi thường chiến tranh không nộp vào quỷ Nam kỳ cũng như không vào quỷ Trung kỳ mà hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận phụ thuộc. Nò chỉ đơn giản được Nha Nội vụ Saigon ký thác vào ngân hàng Hồng kông Thượng hải, chỉ với một chi phiếu là viên giám đốc nội vụ có thể rút ra để dùng vào việc gì tùy ý.

“Về phần mình, viên cai trị mà chính phủ Nam kỳ đặt lên hai tỉnh đó, đã tự lập và thu các thứ thuế, quy định cách cho thuê ruộng, cùng cho thầu việc bán thuốc phiện, muối, thuế quan.v.v.. ông giữ và chi tiêu các món tiền đó mà không một ai can dự gì được vào các hoạt động tài chánh. Ông đã đuổi hết các giới chức An nam ra khỏi tỉnh Bình Thuận, phá hủy nhà cửa họ, triệt hạ ngôi chùa Sắc Tứ và tự ý bắt dân làm xâu, khiêng những vật liệu các nơi bị phá hủy đó đến nơi ông chọn làm chổ ở, một nơi vắng vẽ, trong một cái vịnh bỏ hoang và chắc không trồng trọt gì được, nhưng quả thật là đẹp nhất vịnh Cam ranh. Hiện giờ, người ta dùng gổ chùa chiền và nhà cửa các viên chức để làm nhà ở cho viên công sứ cùng nhà cửa cho nhân viên ông và trại mạc cho lính cơ.

“Để cho việc làm ấy không bị giới chức An nam gây trở ngại, ông đã đuổi hết họ đi, và thay thế bằng các viên chức ông lựa chọn lấy ở Sai gon. [55]

“…Tóm lại, tất cả những gì đang xảy ra ở Bình Thuận và Khánh Hòa làm như thể hai tỉnh đó là một vương quốc độc lập mà người cai trị tôi nói đến như là một ông vua chuyên chế”[56]

Aymonierra lệnh phá hủy, không những chùa chiền cùng nhà cửa các quan, mà còn các thành phố Phan Rí và Khánh Hòa nửa, y nhường lại hai thành phố nầy cho phái bộ để đổi lấy lời cam kết long trọng là sẽ định cư tại đó một số gia đình Thiên chúa giáo vừa đủ để y bỏ bớt đi một cái đền mà y buộc phải duy trì.[57]

Sai khi chiếm Bình Thuận và Khánh Hòa , Fillippini, kẻ theo chính sách sáp nhập dù có phải đi đến chiến tranh hủy diệt [58] đã cố bành trướng sự xâm lăng ra Phú Yên và Bình định.Tháng 7-1887 , Nam kỳ mở một cuộc tiến quân mới vào hai tỉnh trên và mục đích đó, Tri phủ Lộc vừa mới được giới chức Pháp vinh thăng làm tổng tư lệnh chỉ huy một quân đoàn, lập tức y làm ngay tại Phú yên và Bình định những gì mà y đã làm ở Bình Thuận và Khánh Hòa. Y lập lại sổ thuế, danh sách con chiên, danh sách các “kẻ làm loạn” khuất phục hay không, số tài sản những kẻ thân hào và một lô tin tức có tính chất gây những lo sợ nghiêm trọng cho những người dân hiền lành, y ra lệnh cho các chức Việt nam cao cấp nhất, không dám không tuân lệnh y, phải đến chổ y ở. Được thống đốc Nam kỳ ban cho chức tổng đốc danh dự hai tỉnh Bình Thuận và Khánh Hòa, tri phủ Lộc ra lệnh cho giới chức tỉnh Bình Định, phải xuất tiền của tỉnh ra đúc con dấu tổng đốc bằng bạc và y tự phong cho một chức mới, tổng đốc khâm sai hai tỉnh Phú Yên và Bình Định.

Nhưng các cố gắng của chính phủ Nam kỳ để sáp nhập hai tỉnh phía nam không thành công. Bộ ngoại giao, sau các sự can thiệp của Richaud, người thay thế Paul Bert làm thống sứ ở Trung và Bắc kỳ, vì y nhận xét có lý rằng, một biện pháp như thế có nguy cơ làm tan hết chút ít uy tín còn có của Đồng Khánh, làm mích lòng các quan theo Pháp, xâm phạm thô bạo đến lòng yêu nước của người Việt nam và làm lớn mạnh một cách nguy hiểm hàng ngũ những người chiến đấu chống Pháp[59] Sau những cuộc đấu khẩu sôi nổi giữa Quai Dorsei ủng hộ Bihourd và Oudinot ủng hộ Fillippini, người ta đồng ý rút lui từ từ.

Điều đáng chú ý trong toàn thể vụ nầy là chính sách Thiên chúa giáo được ủng hộ và áp dụng bởi Aymonier, tác giả các cuộc tiến quân dã man và tàn bạo đã được các kẻ có trách nhiệm về chính sách thực dân tại Paris cũng như tại Hà Nội, nhất trí tán thành.Bộ hải quân và thuộc địa gọi báo cáo của Aymonier là “rất lấy làm vinh hạnh” được sớm biết các nhận xét của bộ ngoại giao về các ý kiến trình bày trong đó. Bộ nầy chỉ có thể ca ngợi các “cố gắng tốt đẹp của viên công sứ Thuận Khánh đã làm với tinh thần chính trị và lòng tận tụy cao độ như thế để thiết lập, trong một thời gian tương đối ngắn, trật tự và thanh bình trong một xứ quá hổn loạn, thuộc quyền cai trị của ông. Họ thấy rằng :”ngoài một vài điểm có thể hơi thái quá, nói chung những ý kiến của Aymonier về chính sách đối với các con chiên đều rất chí lý và thực tế. Vã lại, chúng không có gì mới lạ đối với bộ tôi vốn đã từng nhiều lần chủ trương như thế và tự buộc mình vào bổn phận phải lo làm sao cho các công việc mà các nhà truyền giáo làm cho nước Pháp ở Đông dương sẽ nhận được phần thưởng chính thức, xứng đáng của chính phủ cộng hòa” [60]

Còn về phần Paul Bert, kẻ “chống đối giáo hội điên cuồng”, kẻ “thù quyết liệt của giáo hội”, y đã viết như sau cho Fillippini trong thư ngày 15-10-1886 ; “Đường lối tốt là hãy để cho viên công sứ khéo léo vừa mới chứng tỏ khả năng hoạt động thực sự của mình tiếp tục công việc mà ông bắt đầu rất tốt. Chương trình mà viên công sứ bày với ông, tôi thấy là khôn khéo và tôi đồng ý hoàn toàn, ông ấy biết quá nhiều về người và việc ở Trung kỳ để có thể quá mục đích nên đạt đến.”[61] Những lời đó diển tả thật đúng ý tưởng thấm thiết của các tác giả, đến nổi có nói gì thêm vào đi nữa cũng cho là vô ích mà thôi.

Sauk hi rút quân khỏi Bình Thuận và Khánh Hòa, Aymonier trở về Pháp vì bị bệnh gan, được bổ nhậm làm giám đốc trường thuộc địa. Trong một báo cáo dài về “tình hình chính trị ở Đông Dương” viết năm 1889 và gửi cho thứ trưởng bộ thuộc địa - bản báo cáo mà chúng tôi sẽ trích đăng phần lớn làm phụ lục – giám đốc Aymonier đề nghị một loạt biện pháp cần áp dụng ở Việt Nam để cứu vãn tình hình “mỏng manh và nguy hiểm” mà nước Pháp hiện đang bị mắc kẹt. Dau đây là phần tóm tắt :

1- Thiết lập giáo dục trên căn bản mới, trước hết nhằm đem lại cho quần chúng một vốn tiếng Pháp đơn giản tối đa.

2- Tài trợ cho các phái bộ, một việc làm chính trị rất cao, lấy cớ là để dạy tiếng Pháp.

3- Đòi hỏi sự giúp đở tuyệt đối của các nhà truyền giáo và ủng hộ sự tuyển mộ họ ở nước Pháp.

4- Luyện tập không ồn ào và không riùnh rang toàn thể lớp thanh niên Thiên Chúa giáo và tổ chức nó thành quân trừ bị.

“Các biện pháp đó áp dụng khéo léo, bí mật với tinh thần liên tục, không làm mích lòng kẻ đối thủ đa nghi nhất vốn chưa có thể đo lường được, chưa tới ba năm, sẽ đem lại cho chúng ta một tình thế vững chắc làm cho xứ thuộc địa nghỉ đến, mà không quá sợ hải, viễn tượng một cuộc chiến tranh Châu Âu. Chúng cũng đặt vĩnh viễn các căn bản của một nước Pháp ở Châu Á, gia tăng lớn rộng lực lượng cùng sức mạnh của nước Pháp ở Châu Âu.” [62]

Có sự khác biệt giữa các biện pháp do giám đốc trường thuộc địa đề nghị và các biện pháp do giám mục Hà Nội, Puginier chủ trương.

2- Chính sách xâm lăng Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ:

Tại Bắc kỳ cũng như tại các tỉnh Bắc Trung kỳ, thực sự không phải toàn quyền hay thống sứ cai trị , chủ thực sự vùng nầy là các quân nhân. Cùng với viên toàn quyền, các quân nhân được đặt lên đầu lên cổ liên hiệp Đông dương 62  và có những quyền hành to lớn quá độ, viên chỉ huy đoàn quân chiếm đóng Pháp, tự nhiên bị lôi kéo phải làm chính trị, một thứ chính trị, dĩ nhiên chống đối với chính trị của những kẻ dân sự. Sáng suốt mà lại đặc biệt phù hợp với chính trị của các kẻ truyền đạo.

Vì thế tại Bắc kỳ, quân đội tiếp tục giao chiến với dân chúng đã biến thành các đám tàn quân ô hợp lang thang và đói khát, trong một xứ trở thành một trường chiến tranh cho sĩ quan Pháp cai trị trực tiếp của toàn quyền Richaud, vài công sứ pháp phải cai trị mà không có sự giúp đở của quan lại, họ không còn biết được những gì xảy ra trong tỉnh, vì chúng quá rộng để cho họ có thể đóng được vai trò mà nền cai trị gần như trực tiếp đòi hỏi. Do đó các quân nhân đần dần nắm lấy các việc ở Bắc kỳ và đi đến chổ thay thế các viên chức dân sự tại các tỉnh mạn Bắc, trong khi vùng đồng bằng ngày càng lọt ra khỏi tầm tay các viên đại diện triều đình Huế.

Tại Trung kỳ, các giới chức quân sự cố cướp lấy ba tỉnh phía Bắc, “Tôi không thể, toàn quyền Picquet việt cho thứ trưởng bộ Thuộc địa, làm cho chính sàch tôi chiến thắng chính sách của quân đội, chính sách họ vẫn chủ trương sáp nhập các tỉnh Bắc Trung kỳvào Bắc kỳ. Khi tôi đến viếng Huế, tôi đã hứa với các quan phụ chính là chấp thuận đòi hỏi của họ, họ còn tha thiết với các tỉnh đó nhất là Thanh Hóa, là nơi chôn nhau cắt rốn của Hoàng tộc. Vị tướng đã chuấp thuận biện pháp đó mà không có ý kiến gì, bây giờ lại tuyên bố rằng các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh thuộc Bắc kỳ về mặt địa lý cũng như về mặt chiến lược.”[63] Do một quyết định của tướng Bichot, các tỉnh đó nằm trong khu quân sự Sơn Tây.

Chổ nào các quân nhân cũng thấy có khởi nghĩa. Mỗi biến cố dù nhỏ bé, dưới mắt họ vẫn do triều đình Huế, vốn chắc chắn đang nghiền ngẫm một vài mưu mô mới . Đương đầu với sự chống đối âm thầm và bền bĩ đó, thật là điên rồ nếu rút quân khỏi các đồn bót.[64] “Tôi thật nghi ngờ cacángười An nam và nhất là triều đình Huế, xưa nay vốn là và còn là kẻ tử thù của chúng ta” tướng Bichot đã nói thế không chút quanh co. [65]

Đối với giới chức dân sự, tình thế Trung kỳ phải theo khuôn mẫu tình thế Nam kỳ, nghĩa là chấm dứt giai đoạn xâm lăng  và duy trì một lực lượng phòng vệ thông thường. Tráo lại, đối với giới chức quân sự, ví như Khâm sứ Hertor ở Huế, ai chủ trương chính sách hòa bình với Trung kỳ, nhất định là “đồ chơi của triều đình” và là “nô lệ Hội đồng cơ mật của vua”.[66]

Sự chống đối có hệ thống của giới chức quân sự tại Bắc kỳ chống lại “nền bảo hộ hòa bình” đã làm tê liệt mọi hoạt động của các công sứ tại Trung kỳ mà công tác chính trị khó hòa hợp với các đòi hỏi của quân đội vốn luôn luôn muốn có mặt tại xứ bị chinh phục. Mặc dầu cho quyền hành rộng rãi giao cho phủ toàn quyền, sự hiện diện của một quân đội chiếm đóng mà viên chỉ huy tùy thuộc tương đối vào viên toàn quyền, đã làm trầm trọng thêm các khó khăn mà người Pháp đang cựa quậy trong đó. Họ không thể đồng ý về bất cứ vấn đề gì. Khi viên toàn quyền yêu cầu dẹp đi một cái đồn, viên chỉ huy trả lời trái lại rằng đó là một điểm cần tăng cường, vì tại đó một cuộc nổi loạn sắp xảy ra. Các sĩ quan đồng ý duy trì các đồn bót tại Trung kỳ thì các viên công sứ lại nhất trí đòi hủy bỏ.[67] Các viên chức dân sự cho rằng việc chinh phục đất đai đã xong, bây giờ là “chinh phục trái tim” . Nhưng làm sao mà làm được khi còn có mặt các quân nhân chỉ muốn tìm cách giao chiến ?

“người ta thường thấy các toán lính khố xanh đi cướp bóc làng xóm. Thường thì người ta để họ mặc sức làm, nhưng cũng có đôi khi người ta đối xử họ nhủ là đang phải chịu. Họ bèn trở về trại như thể là các nạn nhân, lập tức một toán lính võ trang đi ra khỏi trại và theo sự chỉ dẫn của những kẻ ăn cướp, toán nầy hành hạ và bắt giữ không phân biệt gì cả những người tai mắt mà nó gặp”

Giới dân sự tốn công vô ích trong việc làm cho người ta vâng lệnh mình : các quân nhân bám giữ lấy cách nhìn của họ. Họ cũng có những tin tức riêng của họ và chỉ tin vào đó mà thôi, vì họ cho chỉ cócác tin tức đó mới chính xác. Các tin tức mà giới quân nhân dựa vào để lập chính sáchbắt nguồn từ đâu ? Chúng ta đã biết rồi : từ các kẻ truyền đạo, nhất là từ giám mục Puginier.[68]

Trong thời Richaud, liên lạc giữa giới quân sự và dân sự cũng như giữa viên toàn quyền và các kẻ truyền đạo thật là tốt, vì Richaud theo sát chính sách quân sự. Picquet muốn chấm dứt phương pháp của kẻ đi trước, đã đụng phải sự chống đối có hệ thống của giám mục Hà Nội :

“Giám mục Hà nội vừa gởi cho tôi một văn thư rất bi thảm mà ông nghỉ theo lời ông nói với tôi gửi cho bộ…Văn thư nầy thực ra chỉ là bản sao các văn thư cùng loại mà ông ta đã gửi cho tôi. Không phủ nhận kinh nghiệm về người và việc ở Bắc kỳ của giám mục Puginier, tôi không mấy tin về sức hiểu biết rộng rãi của đầu óc ông. Ông nhất thiết đứng trên quan điểm của một giáo sĩ và đem hết sức mình lôi kéo nước Pháp vào một chính sách tích cực hơn, chính sách chinh phục, để cho con chiên rút cục đóng vai trò quan yếu. Đó là một tham vọng rất tự nhiên nhưng sẽ đưa đến các hậu quả nguy hiểm nếu không làm dịu bớt được bởi người đại diện chính phủ, là kẻ phải đứng trên cái nhìn cao hơn, và giảm bớt các nỗi hăng hái hơi quá ích kỷ, Từ ngày tôi đến đây, cứ mỗi lần có vấn đề dẹp bớt đồn bót, giảm bớt số quân, giảm bớt quyền hành nào đ ócủa giới quân nhân, tòa tổng giám mục liền biết ngay, lúc nào tôi cũng nhận được tin tức bi thảm giống như tin tức mà tôi báo cho ngài biết. Vì thếtôi không lưutâm gì tới và chỉ nói với ngài trong trường hợp văn thư của giám mục Puginier đến tay ngài…”[69] Tại Trung kỳ, nhất định các nhà truyền giáo đã sai lầm khi phóng đại nỗi lo sợ của họ, họ làm mọi cách để ngăn chận việc rút quân. Ngoài việc họ tìm trong đó một bảo đảm an ninh to lớn hơn, lúc nào họ cũng hy vọng nhờ vào các biến cố bất ngờ để dành ưu thắng cho một chính sách mạnh mẽ giúp cho con chiên vượt lên hàng đầu. Nếu chính sách đó mà có thành tựu, thì đó là công việc của thời gian và thật nguy hiểm với thúc bách đó. Đó là điều mà họ không muốn hiểu, và đã gợi hứng cho các lời chỉ trích của họ [70]

“Biến động xảy ra, sau khi tôi rời Hà Nội đi Sai gòn, đã làm vị thống sứ sửng sốt, tình thế ông ta không lấy gì đủ vững chắcđể chống lại sự phản ứng, biến động đó đã cho thấy giá trị thật sự của các lời đồn đãi bi thảm mà những kẻ thích chỉ trích gắt gao ầm ỉ việc giảm quân. Tôi lấy làm tiếc, trong dịp nầy tôi nhận thấy sự ngoan cố của giám mục Puginier khi gởi cho tôi một thư đe dọa trong một công điện mà tôi nghỉ là nên đừng trả lời.

“…Tôi chấm dứt bằng cách chỉ trích những lời đồn đãi bi thảm, người ta cố loan truyền khi tôi đến, về việc đàn áp tôn giáo cũng như về việc mưu toan tấn công của quân đội Trung Hoa đóng chung quanh Mông Cáy, những tin đồn khiến chúng ta gởi một pháo hạm đến tỉnh nầy cũng như việc yêu cầu gởi quân tăng viện, tôi đến Hải Phòng khá sớm để kịp thời chống lại biện pháp sau.

“Hiện giờ việc đàn áp tôn giáo chỉ có trong trí tưởng tượng của vị giám mục, ông cho việc 2 hay 3 nhà truyền giáo làm bậy tự chuốc lấy sự trả thù vì lòng nhiệt thành không hợp thời của họ là sự đàn áp tôn giáo. Quả thật một linh mục An nam đã bị chặt đầu trong vùng Yên Thế, vì ông đã khinh xuất ở lại 24 giờ, dù muốn hay không, trong một đồn của chúng ta, và rồi trở về với đám trộm cướp có ít nhiều thông đồng với các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, người ta chỉ kết tôi ông là phản quốc và trừng phạt theo lời kết tội đó. Tôi thu lượm tin nầy vừa ở tướng Godin vừa ở vị Thống sứ.

“Còn về ý định thù nghịch của chính phủ Trung Hoa, con ngáo ộp thật sự được xử dụng cho các thuyết vị kỷ, sau đây là bản sao bức điện mà tôi nh5ân hôm qua của chủ tịch ủy ban phân chia ranh giới : “Đã nhận điện tín bi thảm của viên chỉ huy vùng, Chủ tịch Ly khi được hỏi đã nói rằng hoàn toàn yên tịnh, tuyệt đối không có gì phải sợ…” [71]

“Các nhà truyền giáo ở Quảng Ngãi thấy sự an ninh của các con chiên có phần đáng ngại, rồi loan tin có các sự chuẩn bị khởi nghĩa. Tôi hiện chỉ xem các báo cáo của họ có một tầm quan trọng nhỏ bé, vì năm nào cũng trong thời gian đó, các người Thiên Chúa giáo trong tỉnh nầy cũng biểu lộ nỗi lo sợ tương tự, và tôi không hề ngạc nhiên là thời kỳ đặc biệt khốn khổ mà họ mới trải qua đã làm cho họ có phần bất mãn sâu đậm hơnvà làm cho lời khiếu nại thông thường của họ có tiếng vang hơn sự thực. Vị công sứ tỉnh nầy xúc động và đã chuyển cho vị Khâm sứ các bức thư của phái bộ đang nghi ngờ ý định tương lai của viên chỉ huy vùng Sơn Phong (?) tại Ngải Định và lo sợ các phương tiện hoạt động của người nầy. Nhưng trong bản tường trình các mối bất bình cũng như trong báo cáo của vị phó Khâm sứ Nee, được phái đến Quảng Ngải để làm một bản báo cáo xác thực về tình hình, cũng như trong các báo cáo của các nhân viên công quản quê ở Trà Bồng và Co Sam (?)ông Hector không tìm ra một bằng cớ nào hay chỉ dẫn nào có tính chất biện minh cho các biện pháp và sự đề phòng được yêu cầu.Nhưng nếu các nỗi lo sợ của phái bộ xẩy ra, chúng ta không ngần ngại chống lại viên quan bằng các biện pháp mà thái độ của y gây ra.” [72]

“Sự yên tỉnh cũng hoàn toàn tại các tỉnh khác, kể cả tại Quảng Bình và Quảng Trị, mà mới đây các nhà truyền giáo đã vẽ tình hình chính trị bằng các màu đen tối. Các biến cố đã cho thấy là các nỗi nghi ngờ của họ căn cứ vào các sự hiểu lầm, các sai phạm phải do các tín đồ Thiên chúa giáo đã làm bậy vì lòng nhiệt thành thái quá…” [73]

Tại Quảng Ngải, các nhà truyền giáo đã biểu lộ các nỗi sợ hãi, vị công sứ tại tỉnh đã cho thấy là thêu dệt và hoang đường… Tôi không thấy và không có vị công sứ nào ở Trung kỳ thấy có các dấu hiệu thật sự của chiến tranh tôn giáo. Các cảnh hổn loạn mà một vài tỉnh đã là nơi diễn trường, như tôi đã trình bày, không có tính ghất một cuộc chiến tranh phục khởi giữa dân giáo và dân lương. Nhưng các nhà truyền đạo luôn luôn có khuynh hướng, như tôi đã nhiều lần trình bày, căn cứ vào các tin tức ưa được phóng đại , tin rằng các vụ lộn xộn kinh khủng năm 1885 sắp lại bùng nổ. Đó là một trạng thái tinh thần dđ1ng tiếc nơi họ, nhất là căn cứ vào các việc nội bộ trong vùng, các báo cáo của họ ít có sức mạnh và uy tín hơn là khi họ thoát khỏi mọi bận tâm và lo âu có đầy thành kiến” [74]

“Các cuộc tranh chấp tôn giáo hình như không thể xảy ra mặc dù có các tin tức bi quan của một vài nhà truyền giáo. Tại Thanh Hóa, giám mục Puginier, được tin tức không chính xác, đã tin theo các con chiên – không lấy gì làm nhiều và ít hiếu động- mà cho rằng các nỗi lo ngại, nhưng vị công sứ không chia xẻ tí nào, Phái bộ giám mục Pino gồm có Hà Tỉnh, Nghệ An, và một phần Quảng Bình đã và có thể là chổ rối loạn nhất : lúc nầy rất yên tỉnh….”[75]

Từ Thanh Hóa đến Bình Thuận [76] tức là toàn thể các tỉnh Trung kỳ, chiến thật của các nhà truyền đạo là loan truyền các tin tức nỗi loạn toàn diện và chiến tranh tôn giáo để thúc đẩy giới chức Pháp áp dụng ở Trung kỳ chế độ áp chế hiện hành ở Bắc kỳ và làm tiêu tan mảy may độc lập còn lại của triều đình Huế và các quan Trung kỳ, kẻ tử thù của họ. Vì thế, họ đặc biệt gia công làm nổi bật vai trò bí mật của triều đình Huế trong tình trạng loạn lạc ở Bắc kỳ, lời buộc tội mà giới quân sự ưa dùng nhưng không thuyết phục được toàn quyền Picquet cũng như Khâm sứ Hector. “sự giám thị mà tôi thi hành trên thư từ, Hector viết, và trên vicệ làm, sự quan sát kỷ lưởng về các khuynh hướng và các liên lạc của mỗi người, có thể là chưa đầy đủ vì tôi không rõ các biến cố mà Bắc kỳ là diễn trường, không cho tôi thấy có bằng cớ nào có hoạt động bí mật của chính phủ Huế. Tôi qui nguyên nhân của phong trào nổi loạn vào việc có thể Trung Hoa đã để cho viên Cựu phụ chánh là Thuyết trở về, hay vào việc liên lạc dễ dàng của ông ta với Tán Thuật.

“Các nhà truyền giáo bắc kỳ, trái lại nghỉ rằng triều đình không đứng ngoài tình trạng đó và ông Bonnal đồng ý với họ. Tôi không biết giá trị của các tin tức của các cha Tây Ban Nha, nhưng từ một năm nay, đã hai lần tôi báo cho ngài biết nỗi bi quan thái quá của pháo bộ Pháp ở Bắc kỳ khi họ nói về Trung kỳ, và các biến cố đã chứng tỏ tiên kiến của tôi là đúng.”[77]

Tóm lại, các quân nhân và các nhà truyền đạo một phía, Toàn quyền và các người cộng tác dân sự thân cận môtộphía, đã chủ trương hai chính sách xuyên tâm đối nhau. Họ không đồng ý về điều gì cả, ngoài điều thấy rằng tình thế ngày một khó khăn. Dù được Constans[78] che chở và có trách nhiệm thực hiện chính sách tên nầy, Picquet không khiến được giới quân sự chấp nhận ý kiến mình, vai trò và hoạt động của giới nầy chế ngự ở Bắc kỳ có cơ phá hoại “lá bài hòa bình” của y ở Trung kỳ.

Giọng điệu gắt gao và công kích qua thư từ của bộ tham mưu, sự phóng đại của phe quân nhân về các biến cố nhỏ nhặt, các tình trạng khó khăn đủ loại mà các người nầy hình như muốn tạo ra để làm tê liệt hoạt động của quan lại và của viên chức Pháp, các sự cạnh tranh về mọi việc, các nỗi ganh tị hèn mọn hằng ngày, làm cho mọi sự đoàn kết giữa giới dân sự và giới quân sự không thành được trước các khó khăn chung.

Vốn bị chia rẽ, dư luận Pháp cần nhất là ở Bắc kỳ có trên chop bu nền cai trị một nhân vật có uy quyền . Do đó mà Lanessan được cử sang Đông dương .

 

III – PHƯƠNG PHÁP CỦA LANESSAN .

Lanessan  đã đến Đông dương năm 1887, khi còn là dân biểu, để điều tra giúp cho Bộ ngoại giao . Lúc đó, người ta chú ý đến y về các bài báo nỗi tiếng đăng trong tờ “Thông tin Hải Phòng” , trong các bài đó y nghiêm khắc chỉ trích chính sách thôn tính và chinh phục điên cuồng của những người kế tiếp Pail Bert. Với chính sách thay thế, dân biểu hạt Seine đã cuồng nhiệt chủ trương chính sách “bảo hộ thành thật và nhân từ” và khi làm toàn quyền y đem ra áp dụng ở Đông dương

1- Chỉ trich chính sách nô dịch : Trong chuyến ngắn ngủi ở Việt nam năm 1887, chính Lanessan có thể nhận ra tình hình nguy hiểm cho người Pháp. Trông bên ngoài, xứ nầy đã bình định , sự thật nó ở trong một tình trạng hỗn loạn mà mọi người cảm thấy, mà mọi người nói đến nhưng không ai dám nói cho chính quốc biết, vì nỗi lo ngại, nỗi bất mãn trong xứ là hâu quả của chính sách của giới chức Pháp, của thái độ họ, của từng cử chỉ và hành vi của họ.

Trước hết là nỗi lo ngại cùng bất mãn của triều đình Huế và quan lại.

Từ ngày viên tướng Decourcy nghỉ rằng nên dẫn cả đoàn quân hộ tống 1000 người theo khi trình ủy nhiệm thư cho triều đình, người Pháp, ngoại trừ Paul Bert, không bao giờ thôi đối xử với triều đình Huế và quan lại như thế, là các ông chủ nghiêm khắc và dữ tợn. Với các quân nhân, điều nầy không đáng ngạc nhiên lắm nhưng thái độ này cũng có ở một số viên chức dân sự.

“Không biết gì về phong tục của người An nam và cũng không biết gì về chính sách thực sự của các bổn phận mà hiệp ước 1884 đòi hỏi họ, nhiều công sứ tự xem mình như là những ông chủ độc nhấtở các tỉnh và khiến những viên chức An Nam phải chịu những cảnh đối xử làm thương tổn không những viên chức liên hệ, mà còn các viên chức phụ thuộc. Do đó, chúng tax a cách với các quan mà sự giúp đở thật cần thiết cho chúng ta, vì theo hiệp ước, họ vẫn giữ quyền điều hành công việc. Mặt khác, chúng ta chạm đến tự ái và quyền lợi của các nhà Nho khi tìm một phần công chức cao cấp nhất ở ngoài hàng ngủ họ. Thêếlà chúng ta làm theo chính sách cổ truyền của các nhà truyền giáo vốn có mục tiêu hủy diệt Văn Thân, nhưng chúng ta chống lại quyền lợi chính trị trực tiếp của chúng ta, vì chúng ta làm mích lòng phần thông minh nhất, hoạt động nhất và duy nhất có ảnh hưởng đến xứ sở, phần mà thợ thuyền ở thành thị, nông dân ở thôn quê đã mù quáng đi theo, phần đại diện, ngay cả các nhà truyền giáo cũng thú nhận, họ là phe dân tộc An nam.

“Giám mục Puginier, mà hưởng đến chính sách chúng ta tại Bắc kỳ rất lớn từ mấy năm nay và lúc nào cũng thúc dục tiêu diệt Văn Thân, cũng đã thừa nhận với tôi, cách đây mấy hôm rằng “đảng Văn Thân” , đó là cách ông ta gọi thành phần có học trong dân chúng cùng những người theo họ, thực sự là đảng dân tộc.

“về phần các ngài, những nhà truyền giáo, tôi nói với ông, các ngài muốn tiêu diệt giới nho sĩ mà các ngài thấy là một lực lượng chống đối mạnh mẽ cho việc truyền đạo của các ngài, việc đó dễ hiểu, nhưng khi những nhà chính trị chúng tôi làm theo quí ngài, là chúng tôi phạm một lỗi nặng và nguy hiểm, vì chúng tôi đẩy xa ra chúng tôi phần dân chúng thông minh nhất, có thế lực nhất. Khi thúc đẩy họ theo con đường đó, các ngài đã giết chết việc bình định xứ sở cùng việc thiết lập nền bảo hộ kinh tế mà hiệp ước 1884 muốn xây dựng ở Trung và Bắc kỳ, dù cố ý hay không, các ngài cũng thừa nhận rằng không thể làm được nếu không có các chi phí to lớn về người và về của, trở nên cần thiết”[79]

Tại Trung kỳ, Văn Thân đông đảo hơn tại Bắc kỳ nhiều, họ tức giận vì vô số sự làm nhục mà quân đội Pháp gây ra cho quan lại cao cấp nhất, vì tiền phạt mà các Phật tử phải trả cho tín đồ Thiên Chúa giáo và vì thái độ của Thiên Chúa giáo hầu như khắp nơi không chịu nộp thuế, không chịu làm xâu, tóm lại không chịu tuân lệnh các quan. Về việc này Lanessan đã đưa ra một ví dụ tiêu biểu : Viên Tổng đốc và các viên Tri phủ trong một tỉnh Trung kỳ đã kể với y rằng các tín đồ Thiên Chúa giáo không tuân lệnh nộp thuế và làm xâu v.v… của giới chức địa phương, y hỏi tại sao không dùng sức mạnh buộc họ phải theo như đã làm đối với Phật tử, viên tri phủ tại một phủ có nhiều tín đồ Thiên chúa giáo đã trả lời : “chúng tôi thường cố gắng làm như thế, nhưng nhân viên chúng tôi luôn luôn lãnh những phát đạn ”. Hầu như khắp nơi, ở Bắc cũng như ở Trung kỳ, Các tín đồ Thiên chúa giáo đã hoặc ít, hoặc nhiều tránh né các bổn phận mà các người Việt Nam khác phải làm, và trong việc kháng cự này, họ được các kẻ truyền đạo khuyến khích. Kết quả tự nhiên là các mối hiềm thù sâu xa giữa hai hạng dân và là một nguyên nhân hổn loạn địa phương, nhất là tại các tỉnh miền Bắc Trung kỳ. [80]

Trong khi giới chức Pháp tách các quan và các nho sĩ ra xa mình bằng cách làm nhục họ đủ điều, thì nó cũng làm cho dân chúng ghét vì những xâu dịch mà các toán quân và các đồn bót Pháp tại các tỉnh gần nơi hành quân của đạo quân viễn chinh bắt họ phải chịu : Sơn tây, Hà Nội, Hưng yên, và nhất là Bắc Ninh và Hải Dương.

Các viên chức xâu dịch này đã làm cho dân chúng khủng khiếp, Mệt nhọc vì đi bộ hai, ba tháng trường, ăn uống thì thường thiếu thốn và các sự đối xử tàn bạo đã giết chết một số lớn cu ly trong các cuộc hành quân thường có này.

Về vấn đề nầy, các đội quân Lạng Sơn đã để nhiều kỷ niệm đau buồn trong tâm trí dân chúng Bắc Ninh. Thường thường thiếu muối, vì ban quản lý lơ là, những người cu ly phải ăn cơm lạt, sau mấy hôm họ mắc chứng tháo dọ, rồi chứng kiết lỵ, có khi thiếu gạo và người ta phát lúa cho họ, sau một ngày đi bộ mệt nhọc, họ không có cách gì để giả, và đa số cam đành cất lại trong khi có cơ chết đói. Họ chết rất nhiều, tỉnh Bắc Ninh hết sạch người vì chuyện bắt phu, và dân chúng nhiều làng đã bỏ trấn đi để khỏi tiếp xúc với người Pháp. Những người khoẻ bị bắt đi, bỏ việc cày cấy, gia đình họ bị đói khổ. Trên đường người ta thấy được cảnh điêu tàn của nhiều làng và vết tích ruộng nương biến thành đồng lầy.

Đồn lính - rất nhiều – cũng cần cu ly như các toán quân và một phần lớn dân chúng không ngừng bị trưng tập để mang thực phẩm và sung đạn. Việc giới quân sự gia tăng có hệ thống các toán quân và các đồn bót vì thế đã có hậu quả đã gia tăng lớn lao sự xáo trộn trong dân chúng khi tăng gia các xâu dịch, và bắt người dân hiền lành nhất phải chịu đủ thứ nhọc nhằn.

Trong tình cảnh như thế, không có gì phải ngạc nhiên khi thấy lãnh thổ bị “những kẻ làm loạn “ quấy phá và gần như không hề bị bắt vì sự đồng lõa hay sự im lặng của dân chúng mà họ sống với. Trong phần lớn thời gian, người Pháp buộc phải sống đằng sau các hàng rào của đồn bót, và họ không biết gì cả về một việc xảy ra cách đó độ vài cây số.[81]

Ác cảm và bất mản của dân chúng càng lớn mạnh hơn lên do việc đánh thuế nặng nề để giảm nhẹ bớt các khó khăn ngân sách. Các khó khăn đó đã buộc người Pháp lập thêm hay giữ nguyên các độc quyền mà sự vơ vét của những kẻ được nhượng quyền tham lam còn làm cho đặc biệt đáng ghét.

Cảm thấy lòng oán thù của dân chúng đe dọa , người Pháp buộc phải duy trì tại Bắc kỳ, cả sau khi đã bình định xong về mặt vật chất một số lớn quân đội, gia tăng thêm đồn bót, các toán do thám, các toán lính, làm mệt nhọc và kiệt sức lính tráng, mỗi năm chi phí lớn lao mà không thu được lợi gì, gia tăng sự bất mãn của dân chúng bởi các việc bắt xâu, bởi các việc can thiệp không những của giới quân nhân và đời sống dân bản xứ.

Để quân bình ngân sách quân sự khổng lồ do chính sách đó đòi hỏi, cần phải bỏ các công tác công cộng cần thiết nhất, tạo nên các sắc thuế quan tai hại. Tóm lại, hy sinh canh nông, buôn bán, kỷ nghệ, tất cả mọi tài nguyên phong phú của xứ sở.

“Để làm cho nền bảo hộ của chúng ta được chấp nhận trong các hoàn cảnh bất lợi như thế, chúng ta quá thuờng có các nhân viên thiếu chuẩn bị cho công việc rất nặng và đồng thời cũng rất tế nhị được giao cho họ. Không biết gì hết về xứ này, họ đã dần dần giảm bớt, tiêu diệt uy quyền các quan mà họ không xử dụng được sự giúp đở hay kiểm soát được các hành động, không uy tín, không phương tiện hoạt động, các viên chức bản xứ này càng lơ là với bổn phận, khi họ không lấy cớ thi hành mệnh lệnh của các công sứ chúng ta, nhân danh chúng ta mà lạm thuvà thúc đẩy những người họ cai trị ác cảm chống lại chúng ta…

“Kết quả trực tiếp của một tình trạng như thế, là tại các tỉnh rối loạn, thuế mà trước hết được nộp cho trộm cướp rồi mới đến chính phủ bảo hộ, Nhưng rất thường, các viên chức bản xứ không có uy quyền, lại không có phương tiện làm cho người tuân lệnh, cũng không có phương tiện bảo vệ nhân viên mình, đôi khi phải phó mặc cho trộm cướp và lại còn bị mắc vào vòng liên ụy gọi đích danh là sự phản bội và bị trừng trị như thế. Nhưng cũng phải thú nhận rằng các hành xử của chính phủ bảo hộ thuờng biện giải phần nào cho các việc liên lụy thuộc loại đó.[82]

Đúng lúc Lanessan nắm lấy chức vụ toàn quyền, triều đình Huế bị làm nhục, các quan chới với, phong trào khởi nghĩa bành trường đáng ngại. Hoàn cảnh đã làm cho giới chức “bảo hộ” phải biến quân đội Pháp và lính bảo an thành một quân đội cai trị thực sự, nó đương đâ ầvới các toán, nói chung, võ trang đầy đủ lại có lợi hơn Pháp là biết rõ tình hình, và chiến thuật thật là tuyệt, họ phân tán thành từng toán nhỏ rồi lại tập hợp cho một trận đánh chung, rồi lại phân tán, né tránh có phương pháp trước các toán quân Pháp mà nó làm cho mệt mõi và kiệt lực, buộc quân đội Pháp phải xử dụng vô ích lực lượng mình.[83] Hoạt động của các toán này có tầm vóc một phong trào khởi nghĩa thực sự, nhưng may cho người Pháp, nó thiếu nhất trí trong hành động, thiếu sự hoà hợp chặt chẽ giữa các chỉ huy cấpdướivà thiếu một tinh thần dân tộc thật sự.

Đó, theo lời Lanessan là di sản thảm hại mà những người trước ông đã để lại vì họ đã phạm lỗi lầm to lớn khi theo đuổi các kẻ truyền đạo.

2- Chính sách “ bảo hộ thành thực và nhân từ ” :Biết nguyên  nhân căn bệnh , Lanessan đề trị phương thuốc trị liệu: “thay vì đi theo chính sách của các nhà truyền giáo, đã từng làm những công việc đáng buồn cho chúng ta”phải theo đúng [84], mà không hạn chế gì cả, đường lối duy nhất thích hợp cho một chính sách bảo hộ, tức là cai trị Trung kỳ và Bắc kỳ bằng cách dựa vào toàn thể lực lượng sống động trong xứ : Vua, triều đình, viện cơ mật, quan lại và Văn thân.

Các kẻ truyền đạo hứa với giới chức Pháp rằng bằng cách đánh đổ quan lại Huế tại Bắc kỳ, Pháp sẽ thu phục cảm tình của người Bắc, họ làm cho giới chức Pháp hy vọng rằng chiến tranh với Văn thân sẽ làm cho dân chúng biết ơn. Không có gì sai lầm hơn, theo lời của Lanessan, tuyệt đối sai lầm khi tả rằng dân chúng bị quan lại chà đạp và đè nén đến độ muốn thoát đi và thay đổi nền cai trị lâu đời bằng nền cai trị của viên chức Pháp. Thực tế luôn luôn phủ nhận lý thuyết, chỉ tai hạicho Pháp.

“Các lạm dụng của quan lại, quả có đó, nhưng nhờ phong tục mà giảm bớt, và đã làm cho người Âu Châu chúng ta xúc động hơn là người An nam. Chúng còn xa vời với các điều thái quá mà một số người nói đến, và đù thế, dân chúng vẫn bám chặt sâu xa vào quốc tính của họ và vàp tất cả những gì khẳng định quốc tinh đó, họ luôn luôn tuân theo triều đình và các người lãnh đạo hợp pháp của nó. Họ có thể chỉ trích quan lạivì họ có tinh thần lanh lẹnhư người Pháp, nhưng họ vẫn tôn trọng, vì những người này có tiền bạc, học hành, và một uy thế tinh thần từ hàng bao thế kỷ. Họ cũng còn tôn trọng và tuân theo những người này vì họ cùng một giống nòi, và nói chung thì việc xử dụng quyền hành nhẹ nhàng hơn và tôi xin thành thật nói rằng, thân mật hơn, vì tính chất này vốn là của tinh thần dân An nam, cùng tất cả thể chế xã hội, chính trị và hành chính của nó. Tin rằng dân chúng thích việc thay thế các lãnh tụ của họ bằng các người Âu, bằng các người nước ngoài không cùng tiếng nói, phong tục, cùng tôn giáo, cùng tập quán, cùng quan niệm, về nhân sinh, về xã hội, và về việc cai trị với họ, thì quả thật là điên rồ, vì đó là ý tưởng trái nghịch nhấtvới mọi định luật của lòng người. Bởi vì, dù người ta có nói gì đi nữa, dân tộc An Nam hiện tại không có hai phe chống đối nhau mà một phe gồm có Văn thân và viên chức, phe kia gồm phần còn lại, nhưng chúng ta thấy, khi thì cả hai phe cùng đứng dậy chống chúng ta , khi thì họ yên lặng. Vã lạilàm sao mà các phe đó có thể khác biệt nhaunhư người ta nói, trong một xứ mà giáo dục đưa đến mọi địa vị, và nhờ vào việc làm, mỗi người đều có thể lên đến địa vị xã hội cao nhất và trách nhiệm quan trọng nhất ? Trái lại, vì uy quyền triều đình Huế được mọi người ở Bắc kỳ cũng như ở Trung kỳ, Nhà Nho cũng như dân chúng chấp nhận và tuân theo, mà mới đây chúng ta thấy vùng đồng bằng được bình định mau chóng và mộ cách gần như không tưởngđược từ ngày mà triều đình và quan lại tin tưởng vào nước Pháp nhờ một chính sách mới.”[85] Cắt đứt với hệ thống cũ mà y cho là trái với quyền lợi của chính nước Pháp nữa, Lanessan thành thật sử dụng mọi lực lượng có sẵn trong một xứ mà từ lâu đã có một tổ chức cai trị toàn vẹn. Phương pháp của y vì thế dựa nhiều hơn nữa vào triều đình Huế, bằng cách trả lại cho giới chức bản xứ uy quyền và trách nhiệm hữu hiệu mà họ đã mất đi một phần lớn từ khi chế độ bảo hộ được thành lập.

Không thể có sự phản kháng quan trọng nàoLanessan nói, chống lại chính sách đó. Bảo rằng triều đình Huế có một vai trò nào đó trong các phong trào khởi nghĩa ở Bắc kỳ là chứng tỏ rằng không biết gì hết về sự việc ở Trung kỳ. Thật vậy, triều này chỉ có nghĩa là chỉ nghỉ đến việc bảo vệ quyền lợi riêng tư của nó dù phải hy sinh quyền lợi dân tộc. Từ trong chốn cung son, Hoàng thái hậu già nua, lúc nào cũng ôm ấp hy vọng rằng một ngày nào đó, Pháp sẽ bỏ Trung kỳ để đổi lấy trọn vẹn Bắc kỳ. [86] Đồng Kháng chết, người kế vị là Thành Thái quá nhỏ, mới được 10 tuổi, để mà có được tí ý chí để kháng cự nào ?

Việc nhà Vua quá nhỏ, làm cho mọi quyền hành nằm trong tay các phụ chính, mà người thứ ba là Nguyễn trọng Hiệp, có vai trò thật sự là ông  chủ triều đình. Nhưng ông này cũng như đình thần khác, từ lâu đã biết rằng quyền lợi của y buộc y phải theo chính phủ bảo hộ vì đó là con đường duy nhât phù hợp với việc bảo vệ quyền lợi của vua, quan. Một số người với sẵn lòng nghi ngại xem Nguyễn trọng Hiệp như là kẻ tử thù của nước Pháp, lúc nào cũng nghiền ngẩm, mặc dù y có vờ phản đối, một âm mưu nào đó chống lại người Pháp. Nhưng nỡi lo sợ này không dựa vào bằng chứng nào cả. Quả thật viên quan phụ chính là kẻ bảo vệ hăng say uy quyền nhà vua ở Trung kỳ, nhưng tham vọng y không bao giờ đi quá giới hạn đó. Tất cả những điều y muốn là bảo vệ uy quyền của vua và các quan, dành cho văn minh dân tộc ví như sự thờ cúng, lễ nghi, cùng các tập tục lâu đời, một lãnh vực bất khả tranh, thoát khỏi các tư tưởng mới và ảnh hưởng nước ngoài, cũng chính ý tưởng đó đã làm cho triềuđình Huế, ngay từ đầu đã nghỉ đến việc hy sinh vĩnh viễn một phần lãng thổ của đất nước để được thừa nhận là chủ các tỉnh xưa, nơi phát tích của nhà Nguyễn.[87] Vì thế, các đại diện của triều đình Huế, trong khi hoàn toàn không lưu ý đến các việc Bắc kỳ mà vẫn dễ dàng xúc động trước mọi hành vi và trước mọi biện pháp có thể làm thương tổn đến quyền lợi riêng của họ, ví như việc sửa đổi tại Trung kỳ các tổ chức, việc giảm bớt hay giới hạn quyền lực các quan để nhường cho các nhân viên Pháp, nhất là là khi động đến quyền lợi của triều đình và tôn thất, người ta thấy họ hết sức xúc động cũng như họ ấp ủ sự căm tức và oán hờn nữa .[88]

Những ý tưởng giải phóng đất nước ra khỏi sự thống trị của Pháp không hề vướng bận đến đầu óc Nguyễn trọng Hiệp và đồng liêu của y. Bo bo giữ lấy quyền lợi của nền quân chủ nhà Nguyễn ở Trung kỳ, Nguyễn trọng Hiệp tỏ rat rung thành với chế độ “bảo hộ” hơn ai hết “ bản chức hứa với ngài, y nói với De Lanessan trong chuyến đi Bắc kỳ năm 1891, là bản chức hy sinh những năm còn lại trong đời để giúp ngài trong công trình văn minh hóa của nước Pháp”.[89]

Lỗi lầm lớn nhất của các người Pháp trước y, theo Lanessan, là không hiểu rằng không thể có mâu thuẩn về quyền lợi nào giữa triều đình cùng quan lại đã đầu hành mình và quyền lợi của một chính phủ bảo hộ biết xử dụng một cách khôn khéo cẩn thận, không xúc phạm đến tự ái và nể vị chúng : “Trong tất cả những mối giao thiệp của chúng ta với triều đình Huế cùng các đại diện cao cấpcủa chính phủ An nam, chúng ta đừng quên rằng dù có vua, chinh phủ An Nam trên hết vẫn là một chính phủ dân chủ mà ý kiến dân chúng có một ảnh hưởng rất lớn. Vì thế chúng ta phải cẩn thận đừng bao giờ đòi hỏi ở các quan thượng thư và các quan phụ chính quá những điều mà dư luận cho phép họ. Cũng như mọi nước trên thế giới, những nhà chánh trị tất nhiên sẵn sàng hy sinh hơn dân chúng khi họ thấy phải làm và quan trọng hoặc vì họ thấy quyền lợi của họ bắt họ phải làm, nhưng trong việc nầy họ không thể đi xa hơn mức độ tinh thần dân tộc chịu đựng được mà không bị mất uy thế và ảnh hưởng. Nếu chúng ta muốn lợi dụng ảnh hưởng và uy quyền đó, chúng ta cần phải cẩn thận duy trì chúng mạnh mẽ trong phạm vi có thể. Vì thế tôi chủ trương cai trị với những người của phe bảo thủvà quốc gia với những người được xem là các đại diện của đất nước và những người bảo vệ sự toàn vẹn của đế quốc An Nam. Chúng ta sẽ có thì giờ và phương tiện để hòa hợp với những người, chỉ vì tham vọng cá nhân tự động lăn vào trong tay chúng ta. Có thể những người đó trung thành với chúng ta, nhưng họ chỉ có ích cho chúng ta rất nhiều vì họ không hề được tyrong nước xem trọng và không ảnh hưởng gì đến tâm trí đồng bào họ. Cũng chính nhận thức chính tyrị đó đã khiến tôi, trong việc cai trị thích tìm những người An Nam có học, có thi cử và đâu đạt, được bạn bè họ và dân chúng kính nể, chứ tôi không chú trọng mấy đến việc tìm hiểu tình trạng kính đáo của họ đối với chúng ta. Tôi tìm kiếm được rất nhiều, Chắc chắn những tổng đốc giỏi nhất ở Bắc kỳ là các quan cũ, cáf người có đủ điều kiện mà phong tục An Nam đòi hỏi. Họ được kính nể nhất, được tuân lệnh nhất và bây giờ được chúng ta đối xử tử tế, họ cũng trung thành với chúng ta như những người khác. Khi tôi phải trừng phạt vì thiếu hạnh kiểm hay biếng nhác, thì lúc nào người bị trừng phạt cũng là quan của “tầng lớp mới”. Họ uống rươu sâm banh, hút thuốc phi5ên, và quyến rũ công chức cùng sĩ quan chúng ta hút nhưng không còn tôn trọng uy quyền chúng ta và không còn làm cho kẻ phụ thuộc kính nể họ”.[90]

Lại cón một sai lầm khác, không kém phần to lớn, khi chủ trương dùng vua cai trị để chống lại các quan, Lanessan xác nhận, ông vua không có thế lực gì hơn Hoàng thái hậu trong việc lãnh đạo chính phủ. Tổ chức xã hội và chính trị Việt nam, theo y, quá dân chủ để cho vua có có được quyền hành tuyệt đối mà một số người Âu tự ý gán cho họ, sự thực có rất ít . Vua là hiện thân mẫu mực của đế quốc, là “cha mẹ” con dân, nhưng dù gọi là Minh Mạng, là Thiệu Trị, là Tự Đức, vua chỉ nắm giữ một phần hành khá nhỏ bé trong sự điều hành việc công. Tại Việt Nam, Lanessan nhắc lại mãi chính “giai cấp tư sản - tức là quan lại và Văn Thân – cai trị chứ không phải vua, như người ta tin. Muốn cai trị với một mình vua thôi, như Richaud đã làm, là thi hành một chính sách trái ngược với mọi phong tục dân Việt, và khi Brière khâm sứ Trung kỳ bày tỏ ý định muốn biến Thành Thái thành một Louis XI để tiêu diệt tầng lớp quí tộc, quan lại, để có lợi cho Pháp, y đã phạm một sai lầm to lớn, trước tiên vì Việt nam không có tầng lớp quí tộc, kế đến vì xứ nầy đã quá dân chủ để muốn lùi về chế độ Louis XI.

Bằng phương pháp dự trù, Lanessan hy vọng diệt trừ các lực lượng nỗi loạn ngay từ gốc rể. Ngoài ra, nó còn giúp cho Pháp giảm bớt rất nhiều đoàn quân chiếm đóng và vì thế san phẳng mọi khó khăn tài chánh và tìm ngay ra được cho xứ này các tài nguyên đầy đủ để nuôi sống nền hành chính giảm thiểu của nước bảo hộ.

Vì tin cậy vào quan lại như thế, với mục đích giảm bớt đạo quân chiếm đóng, Lanessan giao cho tri phủ, tri huyện sử dụng lực lượng cảnh sát địa phương  (lính cơ) mà tập tục Việt nam xưa nay vẫn giao cho họ : các công chức này có quyền và có bổn phận duy trì trật tự trong quản hạt, họ hoàn toàn chịa tráchnhiệm về cảnh rối loạn mà vì lơ là hay bất lực họ không dập tắt được ngay . Số lính cơ trong các tỉnh Trung Châu lên đến 4000 người.

Mặt khác, Lanessan lại còn đặc biệt đánh giá cao việc mở lại các kỳ thi 3 năm một lần để chọn cử nhân và tú tài “để chứng tỏ cho từng lớp có học và thống trị thấy rằng hiện nay chính quyền người Âusẳn sản không bít lối xuất thân làm quan của họ, trái lại còn muốn tìm ở họ những kẻ giúp việc thông minh nhất và trung thành nhất” [91]  9000 sĩ tủ đã từ mọi nơi ở Bắc kỳ kéo đến để thi, kỳ thi được tổ chức vô cùng trọng thể vì viên toàn quyền, các viên nhiếp chính quan kinh lược đã cùng chủ tọa buổi lễ khai mạc. Số thí sinh đông đảo nầy tuồng như xác nhận sự đúng đắn chính sách Lanessan.

3- Kết quả phương pháp Lanessan : Các kẻ truyền đạo muốn lợi dụng các nỗ bất mãn của nông dân để xúi dục họ nổi dậy chốn lại quan lại, tầng lớp đại diện cho một nền văn minh và trật tự xã hội, làm bất lợi cho việc bành trướng thế lực Thiên chúa. Ở các người nông dân bị bốc lột nầy, họ thấy một lực lượng xã hội có thể làm một thứ cách mạng nào đó dưới sự che chở của họ. Vì yêu, vì tự hào và nhất là vì hiếu thảo, đa số nông dân đã không theo họ như họ tính toán.

Lanessan chống lại các kẻ truyền đạo, y muốn cai trị xứ nầy bằng cách giữ nó trong trạng thái hiện giờ, với phong tục, thể chế, tôn giáo, giai cấp thống trị, và bằng cách xử dụng tối đa các lực lượng tinh thần và vật chất lâu đời. Quan lại, theo y, không hề là kẻ tử thù, mà lại là nếu biết nể nang quyền lợi họ, sẽ là nền móng xã hội tuyệt hảo của chế độ thực dân. Lịch sử hình như chứng thực cho lối nhìn nầy.

Thật vậy, không khó gì mà Lanessan không gây được lòng tin cậy và giúp đở của triều đình Huế. Viện cơ mật không đợi y đến Huế để bày tỏ cảm tình. Vừa bước chân đến Sai gòn, và cả khi y báo cho triều dình biết việc y nhận chức, Lanessan nhận được của viện cơ mật môt văn thư đầy tình cảm tang bốc nhất đối với viên toàn quyền mới.

Ngày 26-7-1891, ít ngày sau khi Lanessan đến, triều đình công bố khắp nơi một “bố cáo của Hoàng thượng gởi các quan nho sĩ và dân chúng Đông dương “ kêu gọi các chiến sĩ ở Bắc kỳ hãy thôi kháng chiến và mọi người hãy giúp đỡ vị đại diện mới của “chính phủ Pháp cao cấp” trong sứ mệnh “bảo hộ” và “bình định”.

“Đại nhân đã tuyên bố với chúng ta rằng, ngài đến đây với ý định cương quyết và thành thật bảo hộ chúng ta, củng cố quyền bính và uy tín triều đình, bình định xứ sở, chính phủ Pháp cao quý không có tham vọng nào kháchơn là làm người bảo hộ chúng ta trước mắt mọi người, bằng cách đêm ngày làm việc một cách hòa hợp với chúng ta để hoàn thành công việc đó…Tất cả những gì mà quan toàn quyền sẽ làm đều nhằm mục đích đem lại cho dân ta sự bình yên và hạnh phúc.

“Nếu loạn lạc vẫn tiếp diển sau đạo dụ này, Trẩm buộc phải dùng đến mọi thứ nghiêm khắc, các người không phải không biết rằng khó mà nhổ cỏ dại trong ruộng mà không làm hại một phần lúa mạ…”[92]

Để chứng tỏ “lòng biết ơn sâu xa” đối với chính sách nhân từ của Lanessan, vào tháng 10 năm đó, triều đình phái Hoàng tử Hoài Đức cùng quan nhị trụ Nguyễn trọng Hiệpđương làm nhiếp chính, đến gặp toàn quyền “để bày tỏ với ngài tất cả lòng biết ơn, và để biết ngài có nhận được sự giúp đở chân thành mà các quan phải có với ngài chưa. Bản triều cũng nhân dịp này, để tin ngài biết rằng bản triều hoàn toàn tin cậy nơi ngài để làm cho dân bản triều được hạnh phúc và quốc gia bản triều được thịnh vượng, để ngày càng thắt chặt các dây thân ái giữa hai chính phủ. bản triều sẽ sung sướng khi thấy tâm hồn cao quí của đại nhân được mọi tấm lòng của nước An nam tôn trọng cùng sức mạnh và vinh quang của nước Pháp được to lớn giữa hoàn vũ”[93]

Tiếp theo lời bố cáo vủa Vua là các chỉ thị nghiêm khắc của quan Kinh lược gởi cho tất cả công chức, ra lệnh từ nay họ phải chăm lo bổn phận và một dạ trung thành, tận tụy với viên chức Pháp.

“Cho đến nay, các quan phủ, quan huyện vì lười biếng, vẫn cứ nằm ngủ yên trong khi tại phủ huyện có trộm cướp xảy ra, họ không thèm tìm biết quân trộm từ đâu đến và rút đi về đâu. Nhưng khi trộm cướp đi rồi, họ thức dậy và nghiêm khắc hỏi : “tụi chúng nó ở đâu đến ? tụi chúng nó đi đâu ?” , bắt buộc dân chúng phải cung khai và lợi dụng cả các dịp này để bóp hầu, bóp cổ dân chúng. Sai đó còn tìm đủ mưu kế, khi thì viết báo cáo gửi các quan tỉnh , hoặc họ nói không đủ lính cơ để đuổi bắt quân cướp, hoặc họ việng dẫn việc khó khăn kêu cứu kịp thời các đồn lân cận. Thế là họ tìm đủ các câu trả lời cho mọi việc… Ngày nay, ở đâu cũng có lính cơ dưới quyền xử dụng của họ. Họ sẽ không còn nói được rằng không có binh lính hay binh lính đến quá trể, họ sẽ không còn chổ biện giải nữa”. Từ nay, nếu các vụ “trộm cướp” quan trọng xảy ra ba lần tại một nơi mà Tri phủ hay Tri huyện vùng đó không bắt được “thủ phạm”, y sẽ bị cách chức vì thiếu cương quyết và các tỉnh không biết khuyến khích hay ép buộc thuộc hạ mình làm đầy đủ bổn phận sẽ bị xét xử ( giảm tiền lương hay giáng cấp ) [94]

Về phần mình, toàn quyền cũng vạch cho công sứ và phó sứ, trong thông tư ngày 6-10-1891, đường lối mới phải theovà bảo họ cho các quan chủ động phần lớn công việc và chỉ kiểm soát hành vi cai trị của họ thôi.

Việc áp dụng hệ thống chính sách mới này có hiệu quả, nếu chúng ta tin theo báo cáo của Lanessan  và các người cộng sự, làm cho các quan tin cậy, đánh thức thiện chí và hăng hái của họ dậy, cải thiện rõ rệt tình hình Bắc kỳ.

“Nếu có một thực tế đã xảy ra, mà chúng ta có thể dùng làm lý lẻ tốt nhất, để ủng hộ sự có ích của các cải cách đầu tiên do tân chính quyền 1891 công bố, đó là sự biến đổi triệt để trong thái độ của quan lại, sự thay đổi mà chúng ta có thể nói là đã đóng góp rất nhiều cho việc bình định xứ này” (báo cáo của Thông sứ Bắc kỳ , 11-2-1893 .[95]

“Các công chức An Nam đã ngoan ngoãn và nhiệt thành giúp đở chúng ta, không có một công sứ nào than phiền về Tổng đốc hay Tuần vũ của mình, tất cả đều nói rằng họ sống hòa hợp với các quan, những quan này lúc nào cũng tham khảo họ, không làm việc gì mà không được phép họ và thi hành mệnh lệnh, càng trung thành hơn khi họ vừa ra lệnh vừa kiểm soát, nhưng vẫn đối xử với các quan một cách thích đáng hơn, làm cho những người này tôn trọng uy quyền họ hơn” (báo cáo của toàn quyền , 16-9-1892).[96]

Các đối thủ của Lanessan cũng phải công nhận chính sách y hữu hiệu, Chavassieux xử lý thường vụ khi Lanessan bị cách chức, trong các báo cáo “rất mật” gửi thứ trưởng ngoại giao Lebon đã chỉ trích gắt gao chính sách cá nhân của người chỉ huy củ của y, cũng không thể không tỏ lòng khâm phục công trình của Lanessan :

“Tại vùng Trung Châu, việc bình định đã xong, chỉ còn phải duy trì và củng cố. Đó là một nền cai trị tốt đã làm cho các kết quả đã đạt sẽ được lâu dài nhờ một chính sách tốt. Tình hình đã rõ rệt, con đường đã vạch ra, mỗi giờ trôi đi lại củng cố thêm nền cai trị của chúng ta ….Sau một vài do dự của cả hai bên, các quan tỉnh đã reở thành đúng với những gì mà họ phải trở thành, những kẻ cộng sự trung thành của các công sứ và là kẻ trung gian bên cạnh dân chúng. Không nghi ngờ gì, có những lạm dụng nhưng tôi không tin là dân chúng lầm lẫn như người ta nói về những người có trách nhiệm và rồi chỉ có thời gian mới có thể giúp chúng ta nới rộng kiểm soát, khi làm cho hiệu nghiệm hơn và làm cho chúng ta khoan nhu hơn. Những ai mơ ước dẹp bỏ tức khắc một tình trạng lâu đời, sẽ phải thay đổi lập tức không những quan lại mà còn cả giống nòi An Nam. Hãy thực tế, chúng ta đang làm chủ tình hình và chỉ còn cần phải cải thiện. Tôi không sợ gì ngoài việc cắt đứt công khai với chính phủ Huế hay một thay đổi rõ rệt trong các mối giao thiệp, chỉ có lỗi lầm nàymới làm sống lại sự nổi loạn mà hiện giờ đã chết. Tôi xin nói rằng, theo các kết quả mà tôi vừa nói đó là công trình của ông Lanessan, ông có quyền đòi hỏi vinh dự đó.[97]

Nhưng chính sách Lanessan làm phật lòng đến cao độ giới quân sự và các tên kiều dân ở Bắc kỳ, Tướng Reste tổng tư lệnh đạo quân chiếm đóng, đã hòa điệu với tờ báo bảo hoàng phái Orléniste tại Hà Nội, tờ “L’Avenir du Tonkin” – sau này thành cơ quan của những kẻ truyền đạo- đã mở một chiến dịch báo nguy một cách có hệ thống nhằm đè nặng lên dư luận ở Bắc kỳ và các giới chính trị ở chính quốc về mối đe dọa của một sự xâm lăng khẩn cấp của các đạo quân chính qui nhà Thanh tại các vùng thượng du Bắc kỳ, mối đe dọa mà sự thực chỉ có trong trí tưởng tượng của họ.[98]

Lanessan cũng không được các công chức cao cấp cộng sự của y yêu mến, y được sự giúp đở rất tồi tệ trong chính sách mình bởi Brière, khâm sứ Huế, tên này vì vụng về mà bị triều đình Huế ghét [99], y bèn trả thù, không bỏ qua dịp nào có thể làm nhục các viên nhiếp chính, các Thượng thư, các hội viên viện cơ mật và làm biến tính hành vi họ, đồng thời y dùng đủ cách, kể cả báo chí để đánh đổ tại Đông dương cũng như tại pháp, chính sách của người chỉ huy mình [100] Boulloche, người thay thế Brière, không ngần ngại tuyên bố công khai y tính về Pháp để mở tiếp chiến dịch, sau tướng Reste, chống Lanessan, Challassieux Thống sứ bắc kỳ, được Thứ trưởng Ngoại giao Lebon bổ nhiệm làm xử lý thường vụ toàn quyền Đông dương đi ngược lại ý muốn của Lanessan, đã không tán thành “tính chất cá nhân và gần như chuyên chế rất đáng ngại” trong chính phủ của người trước y [101]

Còn Rheinart mà các nhà viết sử người Pháp đã trình bày như là “kẻ chủ trương một nền bảo hộ tôn trọng giới chức bản xứ” [102], sau đây là ý kiến của y về chính sách Lanessan :

“Có hai cách hiểu về chế độ bảo hộ, một cách chủ trương biến kẻ bảo hộ thành kẻ hợp tác, kẻ cộng tác của người bảo hộ, một cách nữa, trái lại, biền kẻ được bảo hộ chỉ còn là một dụng cụ đơn giản trong tay người bảo hộ, người này giữ hết mọi quyền hành mà không chia sớt gì và chỉ để cho kẻ được bảo hộ moôt cái quyền bề ngoài, vẫn còn có sự cộng tác như trong trường hợp đầu, nhưng nó chỉ thuộc về một ý chí duy nhất, một ông chủ duy nhất.

“Phương pháp đầu quả là bậy, hiển nhiên một chính phủ không bao giờ tự ý và không có hậu ý khi từ bỏ sự độc lập của mình. Vì thế, nếu trong một cuộc hợp tác giống như cái đang làm tôi bận tâm, chúng ta để cho họ một phần ý muốn uy quyền thực sự, nhất định họ sẽ dùng uy quyền này để nơi lỏng các dây làm họ tê liệt đi một nửa, với hậu ý sẽ trở lại sự độc lập nếu có cơ hội thuận tiện. Chính đó là phương pháp mà ông Lanessan theo, và vì thế người ta đã có lý trách ông đã nhượng quá nhiều cho triều đình Huế, đã giải phóng nó quá một nửa, Vì những lý do đó mà tôi không muốn tìm hiểu, ông lanessan hình như muốn đặt triều đình Huế ra ngoài hành động trực tiếp, ra ngoài sự kiểm saót thường xuyên của chúng ta. Vì thế ông đã dần dần thu hẹp quyền hạn của khâm sứ đến độ không còn gì nữa, cho thấy rõ ràng triều đình Huế không đếm xỉa gì đến khâm sứ cả.

“Hình thức bảo hộ thực sự là hình thức chúng ta nhất thiết phải trở lại, đó là hình thức phải biến triều đình huế thành công cụ của ý muốn chúng ta, hình thức phải duy trì nó trong tình trạng phụ thộc chặt chẽ nhất, dưới sự kiểm soát trực tiếp, không ngừng của chúng ta mà vẫn giữ thể diện cho nó và dành cho nó một uy tín vừa đủ trước mắt dân bản xứ…”[103]

Bị tấn công từ mọi phía, rút cục Lanessan bị gọi về Pháp vào tháng 3-1894, Lanessan đi rồi, viên khâm sứ tại Huế hiện nguyên hình như củ, nghĩa là ông chủ cứng rắn và tàn bạo [104] Paul Doumer, đến Đông dương năm 1897, sẽ lập một chế độ hoàn toàn trái ngược với chế độ Lanessan.

IV- TRỞ LẠI CHÍNH SÁCH ÁP CHẾ CỦA PAUL DOUMER

Doumer đi Đông dương với ý đồ rõ rệt làm lớn và mau, y có một khả năng đã đặc biệt giúp cho y được dễ dàng trong việc đó, y là một nhà tài chánh có giá trị, chình y đã đặt nền móng cho bộ máy chặt chẽ giữa việc khai thác tài chánh và việc áp chế chính trị, bộ máy nầy trong thực tế vẫn còn nguyên cho đến năm 1945.

Vì muốn đạt được những kết quả mau lẹ, dĩ nhiên Doumer, không thể nghỉ đến giải pháp của Lanessan, tức là duy trì chặt chẻ chế độ bảo hộ. Ngay khi hôm sau đến Hà Nội, viên toàn quyền mới liền trình bày kế hoạch của y, trong một báo cáo gởi Bộ trưởng : tăng cường sự tập quyền cai trị, và cấp cho thuộc địa khí cụ kinh tế “cần thiết cho việc khai thác” phát triển khai phá thuộc địa cùng lao động bản xứ, tăng cường lục quân và hải quân để bành trướng thế lực Pháp ở Đông Á.

Tại Bắc kỳ, chức kinh lược mà năm 1886, Paul bert đã đặt ra vi phạm hiệp ước bảo hộ, Doumer thấy ngay là vô ích cho chình sách thuộc áp chế của Pháp. Vì thế do sắc lệnh 26-7-1897, các chức vụ của viên kinh lược bị bãi bỏ, và Hoàng cao Khải được đưa về Huế để tham dự việc nhiếp chính với tư cách là quan nhiếp chính, Các quyền của viên kinh lược được chuyển sang cho Thống sứ Bắc kỳ, các nhân viên, vẫn giữ lương bổng cũ, được giao cho văn phòng sự vụ bản xứ của tòa Thống sứ Bắc kỳ. Thế là sợi dây cuối cùng ràng buộc Bắc kỳ với triều đình biến mất.

Tại Trung kỳ, Doumer nghỉ đến việc “mỗi ngày tiến thêm một bước mới trên đường chiếm hữu”. Trước sự độc lập hoặc ít hoặc nhiều còn lại cho triều đình Huế, y muôn thay thế bằng một “sự giám hộ mà chúng ta cần phải làm cho trực tiếp hơn, xác thực hơn…mà vẫn để cho chính phủ nầy tất cả quyền bính giả hiệu”[105] Vì thế y ép buộc Thành Thái, vừa mới trưởng thành, phải ký ngày 27-9-1897 một chỉ dụ tổ chức lại bộ máy cai trị, viện cơ mật bị dẹp, biến thành hội đồng thượng thư, do khâm sứ chủ tọa, các quyết định của hội đồng, sau khi được khâm sứ đồng ý, sẽ được thi hành bằng ấn triện nhà vua đóng vào, Các viên nhiếp chính, đảm trách những trách vụ hàng đầucủa nội các, Các công chức Pháp bên cạnh các Thượng thư và giúp đở họ trong việc cai trị. Số công sứ Pháp đến lúc đó vẫn còn ít, được gia tăng đến mức độ mỗi tỉnh có một viên.

Tại Bắc kỳ cũng như tại Trung kỳ, các quan chức đầu tỉnh nhận trực tiếp mệnh lệnh của công sứ, là những người, trong thực tế, đã cai trị qua trung gian.

Lấy lại ý kiến của Paul Bert, nhưng không đi xa hơn Paul Bert, Doumer lập lại, do một nghị định ngày 32-3-1898, các ủy ban tư vấn hàng tỉnh mà số nhân viên do quan đầu tỉnh chọn, cứ một hay hai người cho mỗi huyện, do y triệu tập mỗi năm hai lần, mỗi khi y thấy cần. Những người nầy được yêu cầu cho ý kiến về việc lập ngân sách tỉnh và công chánh. Doumer, do sự định chế đó, rõ rệt tiến gần đến quan điểm của Paul bert : bỏ qua các quan và Văn thân mà chú ý đến thành phần dân chúng do thân hào đại diện.

Doumer thất các biện pháp đó cũng đủ hiệu nghiệm, y tin rằng quyền bính của Pháp tại Trung kỳ chỉ vững vàng khi nào người Pháp nắm giữ lấy tài chánh của xứ này. Y đạt và thực hiện mục đích đó bằng đạo dụ của Hoàng đế ngày 15-4-1898, giao hoàn toàn việc điều hành tài chánh của xứ này cho giới chức Pháp. Cho đến ngày đó, các quan thu thuế cho triều đình, từ nay giới chức Pháp sẽ đứng ra thu mọi thứ thuế và nộp vào kho bạc của triều đình một số để vua và triều đình chi dụng.

Thế là xong đời các quyền hạn cuối cùng của triều đình Huế : Doumer đã thay thế sự cai trị trực tiếp bằng nền bảo hộ mà các văn kiện qui định. Việc thay thế này lại càng trầm trọng vì sự giả định nền tài chánh của Đông dương , Dần dần Doumer làm mọi người thừa nhận cá thể duy nhất của liện hiệp Đông dương. Liên hiệp này gồm có Nam kỳ, Cambodge, Lào, Bắc kỳ và Trung kỳ, mọi người chỉ còn thấy có Đông dương mà quên mất hai xứ bảo hộ.

Doumer xây dựng chính sách mình trên lý thuyết mạnh mẽ và cũ kỹ cho rằng Văn thân và quan lại đại diện cho tinh thần truyền thống không bao giờ chịu khuất phục, chỉ có điều, muốn áp dụng tốt chính sách đó ít nhất y cần có thể dựa vào sự tôn trọng tự nhiên ở Trung kỳ chống lại uy thế các quan, vào thôn xã nhưng quan niệm thuần túy Pháp về tập quyền hành chánh do Doumer nhập cảng đã làm cho thôn xã mất hết sức mạnh, điều đó đương nhiên làm cho biện pháp của y hết sức thất nhân tâm, vì chúng làm bất mãn vừa các quan, vùa các thân hào trong làng là những kẽ vẫn giúp việc trung thành cho sự áp chế của người pháp [106]

Doumer,”người xây dựng đế quốc” như một số người viết sử người Pháp đã tự hào gọi thế, đã nghĩ đến chính sách y “bằng những ngôn từ vinh quang đế quốc” [107] Tất cả mọi hoạt động của y đều nhằm mục đích “chuẩn bị cho Pháp bước vào hàng đại cường Châu Á”.”dó là thời kỳ Pháp chế mà vấn đề bản xứ không được đặt ra”[108]

Rời Đông dương, Doumer đã cung cấp cho thuộc địa một tổ chức vững vàng và một ngân sách quân bình, nhờ đó mà cắt đứt những lời chỉ trích của phe hữu chống thuộc địa, đồng thời y cũng gây ra một bất mãn toàn diện mà hậu quả nặng nề trong những năm trước chiến tranh thế giới thứ nhất.   

 

 

 


[1] - F. Perret, La Société Annamite, sách đã dẫn tr 136

[2] - như trên

[3] - La République, số 13.11.1886 , thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A 82 (6) hộp 26 kép.

[4] - J. Chailley, Paul Bert au Tonkin, sách đã dẫn.

[5] - như trên

[6] - như trên

[7] - J. Chailley , tr 130-134 sách đã dẫn

[8] - Rheinart gửi toàn quyền Richaud 9-2-1889 , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A 30 (85) hộp 20

[9] - F. Perret , sách đã dẫn , tr 137

[10] - Văn thư về Bắc kỳ , 3-1887 , tài liệu Đông dương

[11] - Monel . “Tài chánh Bắc kỳ” tạp chí Đông dương , 1909

[12] - J. Chailley , sách đã dẫn , tr 146

[13] - Các nhận xét về văn thư của M. de Lanessan của Klobukowski, thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại, A00 (22) hộp 2

[14] - J. Chailley, sách đã dẫn , tr 25

[15] - Thư mật gởi thứ trưởng thuộc địa D’ Laporte 10-6-1888 , Thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A 20 (26) hộp 6

[16] - “Le Voltaire” 12, 13, 14, 15, 16, và 17 tháng 4 1988 . thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A 30 (85) hộp 20

[17] - Richaud gửi thứ trưởng thuộc địa 16-1-1889 cùng chỉ dẫn.

[18] - như trên (rất mật) 10-3-1889 , cùng chỉ dẫn

[19] - Thư rất mật , 10-6-1888 dã dẫn.

[20] - như trên

[21] - như trên

[22] - như trên

[23] - như trên

[24] - Richaud gửi Thứ trưởng Bộ Thuộc địa , 18-10-1888, thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại, A30 (84) hộp 19

[25] - Thư rất mật 10-6-1888 đã dẫn

[26] - như trên

[27] - như trên

[28] - như trên

[29] - Thư 18-10-1888

[30] - Thư rất mật của Richaud gửi Thứ trưởng Thuộc địa 10-3-1889 , Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại  A30 (85) hộp 20

[31] - Công báo, thảo luận quốc nội 29-2-1889

[32] -“ nếu quí vị muốn đặt bên cạnh mỗi quan phủ, quan huyện một viên chức dân sự Pháp để canh chừng, rõ ràng là quí vị làm cho cả xứ nổi dậy.”

[33] - Administrateurs d’Indochine – Revue d’Histoire des Colonies số 137 , 1932

[34] - trung bộ mà người Pháp gọi là An Nam gồm có, từ ngày Nguyễn Huệ tái thống nhất đất nước, phần đất từ Thanh Hóa ở phía bắc đến Bình Thuận ở phía Nam. Nhưng các kẻ truyền đạo vẫn cứ tiếp tục xem ba tỉnh phía Bắc Trung kỳ như thuộc về Bắc kỳ, thật vậy, phái bộ họ tại các tỉnh đó mang tên “Phái bộ miền nam Bắc kỳ”

Năm 1884, khi đề cập đến việc trả lại triều đình Huế 5 tỉnh mà hiệp ước 1883 đã lấy đi, giám mục freppel đã phản đối quyết liệt sự trả lại đó, trong một phiên thảo luận tại quốc hội: “ há không sợ, ông ta nói, miền Nam Bắc kỳ đó được trả về cho Trung kỳ, sẽ không trở thành như việc mới xảy ra đây, nơi đã đàn áp tàn bạo các con chiên, những người theo Pháp sao ?” (Công báo, thảo luận quốc hội, 8-5-1885)

[35] - Văn thư của Thống đốc nam kỳ Filippine gửi bộ trưởng Hải quânvà thuộc địa 22-8-1887 , Thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A00 (22) hộp 2 . Cũng như bao giờ, Việc “đàn áp” con chiên là một lý do tuyệt hảo để biện minh cho các can thiệp vũ trang.

[36] - Văn trhư bổ túc cho báo cáo Lanessan , thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, cùng chỉ dẫn.

[37] - Aymonier gửi thống đốc nam kỳ 21-12-1884 , thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại , A30 (75) hộp 19

[38] - Aymonier gửi thống sứ La Merre và thống đốc nam kỳ 27-1-1885, thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A3(75) hộp 19

[39] - Aymonier gửi thống đốc Nam kỳ  27-1-1885, cùng chỉ dẫn

[40] - Công điện thống đốc Nam kỳ gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa 24-8-1885 . cùng chỉ dẫn

[41] - Văn thư (do Aymonier) về các biện pháp để tránh cho Nam bộ lọt ra ngoài cuộc khởi nghĩa Khánh Hòa và Bình Thuận, cùng chỉ dẫn.

[42] - Như trên

[43] - Thống đốc nam kỳ gửi cho Bộ trưởng hải quân và thuộc địa 22-8-1885. cùng chỉ dẫn.

[44] - Filippine gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa 22-8-1887 , thư khố Bộ pháp quốc hải ngoại , A00 (22) hộp 2

[45] - như trên

[46] - báo cáo của dân biểu Lanessan gửi cho Flomens, Bộ trưởng Ngoại giao , thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại A00 (22) hộp 2

[47] - Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại A30 (75) hộp 19

[48] - Trong một thư gửi Philippine, sau khi chiếm Bình Thuận, Paul Bert viết :”Tôi rất sung sướng về tình trạng mà nhờ ông, các việc xãy ra ở Bình Thuận …không nghi ngờ gì nữa, hành động của ông ít hôm nữ sẽ đứ đến kết quả giống như hiệp ước Harmand là hiệp ước mà tôi thấy thật là khôn khéo.” 

[49] - Báo cáo của dân biểu Lanessan, đã dẫn

[50] - báo cáo của Aymonier gửi Bộ trưởng, thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại . A30 (75) hộp 19

[51]  Như trên

[52] - như trên

[53] - như trên

[54] - Các viên chức nầy được lựa chọn trong số tín đồ Thiên chúa giáo. những tên được biết nhiều nhất là : phủ Nghiêm ở Phan thiết, phủ Học ở Hòn khói, huyện Miên ở Cam ranh.

[55] - báo cáo của Lanessan gửi Bộ trưởng ngoai giao , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (22) hộp 2.

[56] - Các nhà cai trị Đông dương , tạp chí lịch sử thuộc địa , số 137 1952.

[57] - như trên

[58] - Bihard gưỉ Fillippini 6-5-1887 , thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại A30  (75) hộp 19

[59] - Bộ trưởng Ngoại giao gửi boô trưởng hải quân và thuộc địa 17-10-1887, cùng chỉ dẫn

[60] - Fillippini gửi bộ trưởng hải quân và Thuộc địa 22-8-1887 , A00 (22) hộp 2.

[61] - Thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (32) hộp 2

[62] - Viên tướng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương thuộc quyền bộ Hải Quân , các thuộc địa dưới quyền cai trị của các toàn quyền lại thuộc bộ Thương mại.

[63] - Chỉ thị của toàn quyền Picquet gửi thống sứ Bắc kỳ 18-8-1890 , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại, A12 (3) hộp 3.

[64] - Báo cáo mật của Picquet gửi thứ trưởng thuộc địa 26-12-1890, thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại A30 (92) hộp 20.

[65] - Văn thư 2-9-1889  thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại A30 (92) hộp 20

[66] - Picquet gửi thứ trưởng Thuộc địa 25-8-1889 , cùng chỉ dẫn.

[67] - Richaud gửi Picquet 5-8-1889, cùng chỉ dẫn.

[68] - Picquet gửi thứ trưởng thuộc địa 16-9-1889

[69] - văn thư của Picquet 25-8-1889 , đã dẫn.

[70] - như trên.

[71] - Đối chiếu văn thư mật của Picquet gửi thứ trưởng thuộc địa 26-12-1890 , đã dẫn.

[72] - Văn thư của Picquet 26-4-1890, thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A00 (30) hộp 2.

[73] - Văn thư của Picquet 29-11-1890, thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại A20 (32) hộp 6

[74] - Báo cáo của khâm sứ Trung kỳ gởi toàn quyền 17-10-1890, thư khố bộ PQHN  A30 (93) hộp 20   

[75] - Báo cáo của Khâm sứ gửi toàn quyền 9-7-1890 , thư khố  Bộ PQHN  A20 (34) hộp 7

[76] - như trên

[77] -  Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A20 (32) hộp 6

[78] -  như trên

[79] - Văn thư về tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc kỳ và Trung kỳ 13-7-1887 , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại A 00 (22) hộp 2.

[80] - như trên

[81] - như trên

[82] - Báo cáo chính trị hàng tháng của thống sứ Bắc kỳ  2, 3, 3-1891, thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A 20 (35) hộp 7

[83] - như trên

[84] - Văn thư về tình hình chính trị, kinh tế ở Bắc và Trung kỳ , đã dẫn .

[85] - Báo cáo Lanessan 2-4-1892 , thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại A 20 (37) hộp 7

[86] -Bà đã giao Nguễn trọng Hiệp, nhân khi tên nàyở Paris, trách nhiệm thăm dò chính phủ Pháp về vấn đề này.

[87] - Báo cáo của Chavassieux, xử lý thường vụ toàn quyền gửi tổng trưởng Thuộc địa, 26-7-1894 thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại , A 20 (41) hộp 7. Môt hôm Nguyễn trọng hiệp nói với Khâm sứ Boulloche “các ông đã chiếm Bắc kỳ rồi, ít nhất thì cũng chừa lại nhà chúng tôi chứ ! “

[88] - như trên

[89] - Báo cáo Lanessan , 28-11-1891 , Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A 20 (36) hộp 7

[90] - Thư riêng và mật của Lanessan gửi tổng trưởng Thuộ địa 26-9-1894. Thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A 30 (101) hộp 21

[91] - như trên

[92] - Báo cáo Lanessan , 28-11-1891, thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại, A 20 (36) hộp 7

[93] - Thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại , A 20 (36) hộp 7

[94] - Thư của vua gửi cho Lanessan, đối chiếu báo cáo ngày 30-10-1891. , Thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại  A 20 (36) hộp 6

[95] - Thư Lanessan 30-10-1891 , A 20 (30) hộp 6

[96] - Thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại , A 20 (39) hộp 7

[97] - như trên A 20 (37) hộp 7

[98] - Thư rất mật, gởi thứ trưởng ngoại giao Lebon 18-2-1894,  thư khố bộ Pháp quốc hải bgoại , À0 (40) hộp 7

[99] - Xin xem báo cáo Lanessan gửi thứ trưởng Bộ thuộc địa 30-9-1892 , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại A 30 (92) hộp 20

[100] - xem báo cáo Lanessan  11-11-1893

[101] - Thư riêng và mật của Lanessan  gửi thứ trưởng bộ Thuộc địa 26-9-1894 , đã dẫn

[102] - Thư rất mật của Chavassieux gửi thứ trưởng ngoại giao , 15-3-1894 , A 20 (40) hộp 7

[103] - Thư từ Félix Faure, tạp chí “ d’Histoire des Colonies” tập XI , 11-1955, tam cá nguệt đầu

[104] - Thư của Rheinart, nguyên khâm sứ Trung kỳ và Bắc kỳ, gởi bộ trưởng, 4-3-1895, thư khố bộ Pháp quốc Hải ngoại , A 00 (35) hộp 2. Cũng xin xem thư mật 7-2-1894 của Chavassieux gửi thứ trưởng ngoại giao Lebon, cũng được viết theo chiều hướng đó. Sự kiểm soát phải theo viên xử lý thường vụ toàn quyền “trực tiếp, liên tục, không dứt khoảng, không gián đoạn, không yếu ớt, với tất cả quyền bính của một đại diện nước Pháp bên cạnh một chánh phủ Châu á.”

[105] - Tiếp theo buổi họi kiến long trọng mà y nói với Thành Thái về việc tuyển chọn Casimir Renier, Boulloche bảo người ta nói với ông vua trẻ rằng y muốn ông nấy đến thăm y vào thứ hai tới, Những người trước y không bao giờ làm thế cả, và chờ đợi triều đình tự quyết định lấy ngày giờ đén thăm, Các viên chức phụ chính không bao giờ sơ sót bổn phận . Ngày thứ hai được ấn định cho chuyến xuất hành, vua bị cảm, và ra lệnh viên khâm sứ hoản lại một ngày khác, Boulloche được báo truớc lúc 7 giờ, y đến hoàng cung và thấy vua bị cảm nặng, nhưng y tức giận đi ra và nói rằng y sẽ khiếu nại về việc thiếu lịch sự của Thành Thái. Một việc khác làm Boulloche tức giận, đó là y phải đợi một lúc sau y mới gặp được vua, y cho rằng bất cứ lúc nào, đem cũng như ngày, y đều có quyền đến tại giường vua. Đối với các Thái hậu, Boulloche cũng làm xách và cố tâm xác nhận uy quyền mình như thế. Y buộc họ tiếp y ngay khi y đến Huế, mặc dù không có gì làm cho họ khó chịu cho bằng sự phá lệ trước các tập tục lâu đời đó.

         Đối với triều đình, y quyết định mỗi tuần các nhân viên viện cơ mật phải đến tòa khâm một lần, rồi viên khâm sứ cũng đến viện cơ mật một lần, để các phiên họp đều phải có mặt khâm sứ và phó khâm sứ. Từ Pháp trở về, Nguyễn trọng Hiệp liền đến vấn an vua và các hoàng hậu, hôm sai y lại đến chào khâm sứ, tên nầy tỏ vẻ bực mình về việc viên phụ chính không đến tòa khâm sứ ngay ( thư riêng và mật của Lanessan gởi Bộ trưởng ngày 26-9-1894, đã dẫn )

         Rousseau toàn quyền từ 1895-1896, dùng mọi kẻ chống lại Lanessan làm cộng sự viên, vì thế Brière, mà Lanessan đã cho về hưu, được bổ làm khâm sứ ở Huế, Bouloche được cử sang Lào làm một công tác quan trọng và Chassieux đã về Pháp được gọi là Đổng lý văn phòng phủ toàn quyền .

[106] - Chesneaux , sách đã dẫn, tr 151

[107] - Kế hoạch tổng quát của toàn quền Doumer 22-3-1897 , thư khố bộ Pháp quốc hải ngoại , A 20 (46) hộp 8

[108] - F.Ferrot, sách đã dẫn , tr 148

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (3 đã gửi)

avatar
Amen 07/10/2010 18:50:23
Maria có 7 đứa con mà đây sao chỉ thấy còn 3 đứa vậy?
Reply Tán thành Không tán thành
-1
Cảnh báo nội dung không phù hợp
avatar
Trịnh Hoài Anh Tú 09/10/2010 04:19:29
Chúa Giêsu nói :Mẹ ta là mẹ của cả trần gian.
Vào nắm 1945 đa số các linh mục và tu sĩ đã về phe giải phóng đất nước họ cầu xin cho giải phóng nhanh chóng
avatar
09/10/2010 06:45:46
Xạo quá ! Bà Mary có cha mẹ hẳn hoi , nói thế thì Mary cũng là mẹ của bố mẹ ruột à ? Chỉ có chiên mới tin chuyện lộn tùng phèo đến thế !

Anh Tú thử kể tên vài chư vị linh mục nào kháng chiến chống Pháp . Đừng có hàm hồ "đa số" !
tổng số: 2 | đang hiển thị: 1 - 2

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

4.75

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập