Thưởng thức danh tác “Tụng Tây Hồ phú” của Nguyễn Huy Lượng

Đã đọc: 7233           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Nét đẹp Hồ Tây Hà Nội

“Có thể nói, trước và sau Nguyễn Huy Lượng, chưa hề có một tác phẩm nào viết về non sông đất nước Thăng Long Hà Nội hay đến thế, đẹp đến thế. Chỉ với một danh tác ấy cũng đủ xếp Nguyễn Huy Lượng vào hàng những văn nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Thăng Long” (1)

“Áng văn Nôm trác tuyệt tân kỳ, dân Hà thành hồi ấy gọi là “Phú ông Lựợng” trong khi đổ xô đi tìm mua bản chép tay này… Người ta mua giấy mực về chép lại khiến cho giá giấy phường Hàng Giấy, Hàng Gai vọt hẳn lên. Nhớ câu chuyện ở Trung Quốc đời Tần, có Tả Tư viết bài Tam đô phú rất nổi tiếng. Người ở kinh đô Lạc Dương tranh nhau chép bài phú này, khiến giấy trở nên khan hiếm và giá  đắt vọt lên (2). (Bản thân chúng tôi cũng được nếm trải tình hình tương tự vào năm 1987, 88 khi báo Văn nghệ Hội nhà văn đang tưng bừng đăng sáng tác ký, truyện ngắn mở đầu cao trào Đổi mới; mỗi sáng thứ Bảy chúng tôi chạy ra sạp báo trên phố Hà Nội mua tờ Văn nghệ 16 trang, tờ báo bán chạy nhất thủ đô những năm ấy, nhưng thức dậy muộn nên chỉ mua được những bản photo mờ mờ từ sạp báo hoặc từ tay những em bé Hà Nội cầm từng xấp đi rao trên hè phố lá sấu lá bàng lác đác…)

Tụng Tây Hồ phú, một áng văn khiến người đọc say mê, rù rì đọc từng chữ từng câu. Cái dư âm của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát ra từ bài văn Nguyễn Huy Lượng và chẳng bao giờ lặp lại nữa. Nghĩ đến văn chương vùng đất Thăng Long, người ta nhớ ngay đến bài văn ấy, tác giả ấy. Và ngẫm suy về bao điều khác nữa…Một vài câu văn, ý thơ được nhớ mãi là một tiêu chuẩn để đánh giá địa vị một áng văn.

Sống trong năm kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội, người viết giở lại Tụng Tây Hồ phú mà thưởng thức. Lại tình cờ đọc thấy trên báo mạng một bài nghiên cứu của tác giả Hoài Nam về Nguyễn Huy Lựợng nên băn khoăn muốn tỏ bày ý kiến. Trước hết người viết trình bày mấy điều tâm đắc tản mạn về bài phú.

 

1. Bài phú của cảnh vật thanh bình, yên ả, nhịp sống ung dung

 Phần đầu Tụng Tây Hồ phú là một cái nhìn bao quát cảnh thiên nhiên đa sắc Hồ Tây:

"Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh,

 ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo

 Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc,

 tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò

 Dư nghìn mẫu nước trời lẫn sắc

           Trải bốn bên hoa cỏ nhiều mùa"

Sau cảnh đẹp thiên nhiên là cảnh làm ăn sinh sống nhộn nhịp của dân chúng ven hồ. Một số phường nghề Thăng Long được miêu tả quanh vùng Hồ Tây, có lẽ là những phường nghề được hình thành sớm nhất Việt Nam. Phường nghề nói lên một cách làm ăn buôn bán hòa hợp như tục ngữ nói “buôn có bạn, bán có phường”. Làm ăn thương mại họp lại bên nhau, cạnh tranh lành mạnh, ganh đua chất lượng. Phường nghề và chợ búa là một nét văn hoá cơ bản của Thăng Long Hà Nội:

Vầy cuộc ẩn, mọi nghề chẳng thiếu,

Muợn thú vui bốn bạn gồm no
…Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút,

…Thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm,

Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng 
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.

 

Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi canh ghẹo hai phường dệt gấm 
Sen vũng nọ nẩy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò.

Khách Ngô Sở chợ tây ngồi san sát,
Người Hy Hoàng song bắc ngáy phi pho.


Bến giặt tơ người vốc nước còn khuya, gương thiềm đựng trong tay lóng lánh,

Bãi cỏ non trâu thả, ngựa buông, nội Chu đã lắm người ca ngợi;

2. Thú giải trí thanh lịch của tao nhân mặc khách Hà thành

 Đọc bài phú, ta thấy những thú vui cầm kỳ thi tửu, ung dung ngoạn cảnh, thưởng trăng… được miêu tả rất sinh động. Hình ảnh tao nhân mặc khách thấp thoáng:

Người ngoạn cảnh thẩn thơ đòi đoạn,
Khách thâu nhàn lai láng từng khu.

Ngang thành thị, ghé yên hà một thú,
Dọc phố phường, tung phong nguyệt hai kho.

Cầm ve gẩy lầu thư ánh ỏi…

Cảnh Khán Sơn  chưa gác cột cờ, lòng thơ đã bôi hồi ban lãnh thỏ 
Làng Võng Thị còn đông tiệc rượu, tiếng cầm đà não nuột buổi tà ô.

Trộm nhớ thiên bát vịnh du hồ, trong tỷ hứng cũng ngụ lời quy phúng,
Lại nhớ khúc liên ngâm thưởng nguyệt, lúc tiếu đàm thường thỏa ý giao phu.

Tòa đá nọ hãi ghi câu canh họa,
Dòng nước kia dường nổi chén tạc thù .

 

Thú cao lưu chếch mác thế cờ, người nhạo thủy ôm cầm khi rạng quế,
Màu yên cảnh bâng khuâng hồn rượu, khách đăng đài gác bút buổi bay ngô


Áng năm mây bày ngọc bạch đôi hàng, thảo mộc hãi ca công Thang, Vũ;
Vang chín bệ nổi tiêu thiều mấy khúc, điểu thú đều vũ đức Đường, Ngu.

3. Nơi đây lịch sử và huyền thoại sống cùng người đương thời.

 

Trong mắt thi nhân Nguyễn Huy Lượng, Tây Hồ là một nơi trú ngụ của quá khứ:

Trước Bạch Hồ vào ở đó làm hang, Long vương trổ nên vùng đại trạch, 
Sau Kim Ngưu do vào đây hóa vực, Cao vương đào chặn mạch hoàng đô 

Tòa thạch tháp, nọ nơi tiên để báu

 Chốn thổ đôi, kia chỗ Khách chôn bùa

 Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời,

 tay lưới phép còn ghi công bắt hổ…

Dấu Bố Cái rêu in nền phủ …

 

Trải Trần trước đã nhiều phen xe ngựa,
Tới Lê sau càng lắm độ tán dù.

Trong bài phú, những dấu ấn lịch sử từ thời Bắc thuộc như Cao Biền, Phùng Hưng qua các triều đại lẫy lừng Lý, Trần, Lê, cùng với huyền thoại đều vang lên trong ký ức thi nhân và được vẽ ra trước mắt.

Và cảnh hiện tại Thăng Long tươi sáng với triều đại Tây Sơn được ước lệ:

Tới Mậu Thân từ rõ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng địch;
Qua Canh Tuất  lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức triêm nhu 
Vũng trì chiểu nước dần dần lặng;
Nơi đình đài hoa phới phới đua.

4. Hồ Tây Thăng Long nơi Phật giáo và Đạo giáo tồn tại hòa bình

   

Thăng Long Hà Nội là nơi chung sống lâu đời của các tôn giáo, tín ngưỡng, suốt nghìn năm lịch sử chưa bao giờ xảy ra các xung đột tôn giáo. Chỉ vài nét phác họa, bài phú cho chúng ta cảm giác đó. Quán Trấn Vũ thờ Đạo thần tiên ở gần bên chùa Trấn Quốc của đạo Phật. Nhà thơ chẳng cần phải thuyết trình giảng giải.

Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển…

Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn

… Mõ cuốc khuya án kệ rì rù.

Nơi phạn vũ để che màu sảng lãng, dọc ngang treo mắc võng tri thù 
Sen chốn chốn đã bay về Tây Vực, vũng du ngư nguyệt hãy tối mò

Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa (…)

Trông mơ màng dường đỉnh Thứu nơi kia, vài tổ thước cuối làng kêu chích chích,
Nghe phảng phất ngỡ động Đào mai nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o .

 

Đạo Phật dành cho quảng đại chúng sinh, cũng cho cả lũ quân xâm lược Mãn Thanh bỏ Thăng Long mà chạy:

Cây quán kia còn đứng dậy thần uy, đoàn Mán tới dám khoe lời “Tây hữu” 
Sen chùa nọ lại bay về Phật cảnh, lũ Ngô về từng niệm chữ Nam mô.

Một ngôi cổ miếu và đám cỏ mọc tần ngần cũng góp phần làm nên cảnh yên bình của Thăng Long Hà Nội:

Chòm cỏ mọc tần vần bên nọ miếu, trống thôi hoa rẽ khóm huân do

 


5. Ngôn từ nghệ thuật trong Tụng Tây Hồ phú

Phàm là nhà văn ai cũng ấp ủ khát vọng sáng tạo từ ngữ, góp phần làm giàu cho tài sản tiếng Việt vô giá của dân tộc… Nhiều cây bút cả đời không để lại được cho hậu thế một bài, một câu, một từ ngữ khả dĩ in đậm trong người đọc (mặc dù không ít trong số đó được tặng những giải thưởng lớn !). Tây Hồ phú bộc lộ một tài năng sáng tạo từ ngữ mới mẻ làm giàu cho quốc văn và cho tiếng Việt. Bài phú là một bản hợp xướng ngữ âm tiếng Việt giàu hình ảnh, âm sắc và gợi cảm mà riêng Hán ngữ khó đáp ứng. Trước hết ta thấy khối lượng nhiều từ láy sinh động là một biểu hiện nghệ thuật rõ ràng.

 

       5.1 Thi pháp từ láy đặc sắc trong bài phú

 

Hầu như tất cả câu văn miêu tả trong bài phú đều dùng từ láy.

Tây Hồ phú chứa đựng một hệ thống từ láy với ý thức sáng tạo nghệ thuật rõ rệt. Từ láy tiếng Việt tượng hình và tượng thanh sinh động vốn đã rất