Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi

Đã đọc: 8043           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Nguyễn Trãi

Bài Những ghi chép chữ nghĩa khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (phần 1) của Nguyễn Hùng Vĩ đã phát hiện và sửa chữa 27 trường hợp, xuất hiện 41 lần chữ phiên sai của các thế hệ học giả từ 1956 đến nay.

Bài này chúng tôi tiếp tục phát hiện và sửa chữa thêm 14 trường hợp, xuất hiện 20 lần nữa như đã hứa với các độc giả trong bài trước. Các bản phiên âm nền mà chúng tôi thực hiện khảo sát nghiên cứu là các bản phiên âm từ trước đến nay, trong đó bản của nhóm Mai Quốc Liên năm 2001 (MQL2001) được chú ý nhiều hơn. Đây là bản phổ biến và có ảnh hưởng đến giới học thuật trong 10 năm trở lại đây. Các văn bản chữ Nôm mà chúng tôi tiến hành phiên âm, khảo sát gồm bản A tại Viện NC Hán Nôm còn bản B chúng tôi phải dựa trên sự mách bảo của bản phiên TVG-PTĐ 1956[1]. Các phương pháp mà chúng tôi sử dụng là văn tự học, ngữ văn học, ngữ âm lịch sử, văn hóa học… Các vị trí được khảo sát sẽ được đánh dấu lần lượt theo số thứ tự bài và thứ tự câu trong từng bài đó, ví dụ: 9.6, nghĩa là bài thứ 9 tại vị trí câu thứ 6 của bài này. Các chữ Nôm tự tạo phần lớn sẽ không dùng font cho chữ Nôm mà sẽ ghép các yếu tố Hán lại với nhau (A: nghĩa phù, B:  âm phù) và đặt trong ngoặc vuông [ A + B], để dễ phân tích cấu trúc cũng như thuận tiện hơn cho việc công bố và xuất bản.

 

 1. Hàu chất so le CỤM cuối làng (9.6)

Về chữ cụm [木+禁] này, các bản phiên của TVG-PTĐ1956, ĐDA1976, BVN1994, nhóm MQL2001, Nhóm NTN2008 đều phiên là khóm. P.S1991 phiên là cụmTừ điển chữ Nôm do GS Nguyễn Quang Hồng chủ biên (2006) cũng phiên cụm trong phần ngữ liệu. Chúng tôi cho rằng phiên khóm là chưa đúng vì những lẽ sau đây:

- Chữ khóm trong toàn văn bản Quốc âm thi tập xuất hiện 4 lần và được ghi bằng chữ và rất hợp nghĩa văn cảnh:

19.1       Thương Lang mấy khóm một thuyền câu.

56.1       Ruộng đôi ba khóm đất con ong.

150.7     Khóm ruộng ăn ngày tháng đủ.

254.5     Khỏe cày ruộng thánh đà nhiều khóm.

Các ngữ cảnh cho ta thấy 3 câu gắn với ruộng và 1 câu gắn với sông. Ở đây chữ thổ để biểu nghĩa và chữ khám để biểu âm nên phiên khóm là ứng hợp. Đồng thời cũng cho ta thấy trong trường hợp này, các nhà cổ học làm sách rất nhất quán, có chủ ý. Từ điển P. de Béhaine (1772-1773) cũng ghi Nôm chữ này và ghi quốc ngữ là khóm với các ngữ liệu ruộng khóm (phần chia ruộng đất, phần đất thuộc về ai) và hoa khóm (một thứ rau thơm) [5, tr.285, 4,tr.227]. P. Của cũng vậy với các từ một khóm, chòm khóm [, tr.499]. Các từ điển này cũng ghi cụm bằng mã chữ [木+禁] [5, tr.146; 4, tr.102], [7, tr.203]

Chữ cụm chúng ta đang nói xuất hiện 4 lần và được ghi bằng mã chữ [bộ mộc + cấm ]. Những văn cảnh xuất hiện như sau:

9.6         Hàu chất so le cụm cuối làng.

18.6       Ngày vắng chim kêu cuối cụm hoa.

126.1     Giậu sưa sưa hai cụm trúc.

234.1     Đất dư dưỡng được cụm hoàng tinh.

Ta thấy trong các ví dụ trên có 3 câu chữ cụm gắn loài cây và 1 câu chữ cụm là một danh từ được đặt trong thế đối với danh từ thuyền. Bình thường có thể giải thích cụm là một nhóm nhỏ các mái nhà lúp xúp ở cuối làng. Nhưng không hẳn đã ấn định được như vậy. Có thể là các đụn rơm rạ, các đống củi, các bụi cây xum xúp, thậm chí có thể các cụm rạ trên mảnh ruộng cuối làng. Đọc cả hai câu này ta thấy không thể ấn định một nghĩa cứng nhắc nào cả:

Tằm ôm lúc nhúc thuyền đầu bãi

Hàu chất so le cụm cuối làng.

Về ngữ âm, chữ cấm theo cách đọc Hán Việt rõ ràng là gần với cụm hơn khóm, ít ra là về thủy âm và chung âm. Trong từ điển của P. de Béhaine nói trên mục chữ cụm cũng viết [ mộc + cấm] với chú thích cụmbụi, với ngữ liệu bụi cây. Lại ở đây nữa, ta thấy các cụ làm bản Nôm rất chọn lọc chữ. Phần biểu ý dùng bộ mộc là hợp lí. Từ điển chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng chủ biên còn ghi cụm với các tự dạng [口+禁], [扌+禁] với các văn cảnh khác như: Một am ở cụm Tây Lâm (Dương từ Hà Mậu, 12), Khu đào cụm liễu trải qua (Dương từ hà mậu, 11), Xảy nghe bên cụm dâu xanh (nt, 20), Khuất cụm câu buông cần nhẹ (Hồng Đức QATT, 29a), Ít nhiều hương cụm nhặt thưa bóng cành (Hoa Tiên, b), Rễ cụm tóc trên (Đại Nam quốc ngữ, 68a) [15, tr.214-215]. Từ điển chữ Nôm trích dẫn của Viện Việt học thì lại đánh đồng giữa cụm khóm, coi khóm là hình thức chính thức hơn. Tuy nhiên, ngay trong một mục từ thì các soạn giả lại có các phương án phiên khác nhau (thành khóm, cụm, cắm) [17, tr.615]. Thiết nghĩ, nên chuyển tất cả các ngữ liệu trên về dạng cụm cho chuẩn. Từ điển này cung cấp thêm một số ngữ liệu như sau: Kỳ viên mấy cụm đào hồng, nùm hoa sim dại con ong ước thầm (Thiên Nam ngữ lục, c.5717-5718), Ngọn nguồn kia lai láng mái ghềnh kia, Đèn chiếu thủy vốn chia dòng Kinh Vị; chòm cỏ mọc tần vần bên miếu nọ, trống thôi hoa từng ghẽ cụm lan du (Tây Hồ, 51a), sực nhìn dưới cụm phù dung, phấn môi nắng ánh áo hồng gió bay (Song tinh bất dạ, c.893-894),ngoài ra, chữ này, chúng tôi còn phát hiện dùng để ghi âm động từ cặm hoặc cắm vì gần âm hơn: nhác trông sao đẩu về đông, chị em ra sức cho xong mẫu này, lom lem tay cặm(cắm) chân dày, năng trồng cây ngọc cũng ngày hữu thu (Thanh Hóa quan phong, 19a) [17, tr.615]. Ngữ liệu đến đây đã tạm đủ. Chúng ta có thể tiến hành phân suất nghĩa để phân biệt từ cụm khóm như sau. Với tiếng Việt cổ từ thế kỷ XVIII trở về trước, cụm có nghĩa là tập hợp các tán lá của các loài cây (đây là nghĩa phổ dụng nhất), nhưng cũng đã bắt đầu mở rộng trường nghĩa để chỉ một tập hợp khác lớn hơn (như trong câu cụm cuối làng), ngoài ra cụm còn là một động từ (cụ thể xin xem trường hợp dưới); từ khóm là từ trỏ các không gian lớn hơn nhưng có sự phân cắt, ví dụ: khóm đất, khóm ruộng, khóm nước, khóm Thương Lang. Một số ngữ liệu bổ sung như sau: trời trời xanh, nước nước biếc, làu làu muôn khóm pha lê (Thúy sơn, 1a), thức xuân rước gió như cười, chòm thanh khóm dật khác vời chân du (Mai đình mộng ký, c.153-154). Thế nhưng, đến cuối thế kỷ XIX, cụm khóm đã nhập vào dùng chung: có khách đưa cho một khóm trà, say nhè nào có bé