Trang chủ PG Việt Nam Sự kiện & Vấn đề Cần thiết có quy định về tài sản của người tu hành theo đạo Phật

Cần thiết có quy định về tài sản của người tu hành theo đạo Phật

Đã đọc: 3151           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền tự do của các hoạt động này theo quy định của pháp luật.

1. Các căn cứ pháp lý về tài sản của người tu hành, cơ sở tín ngưỡng và tổ chức tôn giáo:

Theo điều 15 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS năm 2005) quy định cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản. Điều 5 BLDS năm 2005 có quy định “trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”.

Pháp luật dân sự Việt Nam không có chế định về tài sản cho riêng với những người tu hành, mà theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng và có quyền tài sản bình đẳng như nhau.

Điều 2 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 (sau đây gọi tắt là PLTNTG năm 2004) có quy định “Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân”. Điều 26 của PLTNTG năm 2004 có quy định “Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó”, và điều 28 của Pháp lệnh này cũng quy định:

 “1. Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài nước theo quy định của pháp luật.

2. Việc tổ chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải công khai, rõ ràng mục đích sử dụng và trước khi quyên góp phải thông báo với Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức quyên góp.

3. Không được lợi dụng việc quyên góp để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc thực hiện những mục đích trái pháp luật”.

Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền tự do của các hoạt động này theo quy định của pháp luật.

Ở phạm vi hẹp của bài viết, xin được đề cập đến tài sản của người xuất gia tu hành theo đạo Phật viên tịch và bảo vệ tài sản của người tu hành hoạt động tôn giáo.

2. Trường hợp cụ thể:

Là trường hợp của Ni sư Thích Huệ Tịnh: Tóm tắt vụ việc như sau, trong thời gian làm trụ trì chùa Thiên Chánh (đường Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú, TP.HCM) ni sư Huệ Tịnh, thế danh Đỗ Thị Thiềng, có gửi số tiền số tiền 138.850 USD (thể hiện qua 5 cuốn sổ tiết kiệm) và số tiền mặt 423 USD, gần 42 triệu đồng tại ngân hàng Vietcombank. Tháng 5/2008, ni sư Huệ Tịnh qua đời. Ban đại diện Phật giáo Tân Phú đến tổ chức tang lễ, tình cờ mới phát hiện 5 cuốn sổ tiết kiệm nêu trên, nên tổ chức niêm phong, cất giữ… Sau đó, bà Đỗ Thị Thanh (em ruột ni sư) nộp đơn khởi kiện đòi thừa kế ra TAND quận Tân Phú. Bị đơn của vụ kiện dân sự này là Ban đại diện Phật giáo quận Tân Phú. Sau nhiều lần hòa giải, bà Thanh vẫn một mực cho rằng tài sản mang tên bà Đỗ Thị Thiềng gửi tại ngân hàng Vietcombank là tài sản của cá nhân bà Đỗ Thị Thiềng, nên căn cứ vào pháp luật dân sự thì bà Thanh là người thừa kế hợp pháp của bà Thiềng.

Theo các chứng cứ hiện có và theo cách nhìn dân sự thông thường thì các sổ tiết kiệm nêu trên đứng tên bà Thiềng, là tài sản thuộc về của bà Thiềng. Khi bà Thiềng mất không có di chúc thì những người thừa kế của bà Thiềng sẽ được hưởng tài sản này (di sản) của bà Thiềng để lại theo quy định của pháp luật về dân sự.

Mặc dù những tài sản mang tên bà Đỗ Thị Thiềng, nhưng rất cần xem xét đến nguồn gốc hình thành những tài sản nêu trên.

Về nguồn gốc của những tài sản này: Ni sư Thích Huệ Tịnh là người đã xuất gia tu hành theo đạo Phật, không hoạt động sản xuất, kinh doanh nào làm ra các sản phẩm thương mại hoặc phát sinh lợi nhuận, cũng không phải là người làm việc hưởng tiền công hay lương. Ni sư Huệ Tịnh là người không có thu nhập, mạng sống duy trì dựa vào đồ cúng dường của các tín thí, có cuộc sống đạm bạc (việc này những người trong chùa Thiên Chánh và những thí chủ cúng dường cho chùa có thể xác minh làm chứng).

Điều 170 BLDS năm 2005 quy định về những căn cứ xác lập quyền sở hữu như sau:

“Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

1. Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;

2. Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

3. Thu hoa lợi, lợi tức;

4. Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

5. Được thừa kế tài sản;

6. Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên;

7. Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;

8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định”.

Điều 170 nêu trên không quy định về trường hợp tạo lập tài sản của ni sư Huệ Tĩnh và các trường hợp tạo lập tài sản tương tự của người tu hành như ni sư Huệ Tịnh. Những tài sản nêu trên tuy đứng tên ni sư Huệ Tịnh, nhưng không được hình thành từ bất kỳ căn cứ nào theo điều 170 BLDS năm 2005 nêu trên, do đó không thể khẳng định có căn cứ để xác lập quyền sở hữu của ni sư Huệ Tịnh. Có chăng là ni sư Huệ Tịnh được thừa kế từ những người thân (điểm này có thể xác minh, làm rõ được) hoặc thừa kế theo di chúc. Nếu không phải thì đây phải là nguồn tài sản từ các đồ vật và tài sản cúng dường của các thí chủ cho chùa mà ni sư Huệ Tịnh đại diện.

Hơn nữa xuất phát từ thực tế chùa chiền là nơi các phật tử, tín thí tìm đến để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân. Thực tế có những trường hợp, họ đóng góp, cúng dường cho nhà chùa những tài sản không nhỏ. Những tài sản này thường được sử dụng để tu bổ chùa, làm việc thiện, hoặc các phật sự khác. Các phật tử, tín thí cúng dường cho nhà chùa với mục đích dâng lễ, cúng dường cho tam bảo chứ không phải cúng riêng cho vị tu hành nào cả.

Vì vậy nếu số tiền này là của các phật tử đóng góp cho chùa thì phải là tài sản của nhà chùa mà cụ thể là của tổ chức tôn giáo – Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chứ không phải của cá nhân ni sư Huệ Tịnh.

Lý do ni sư Huệ Tịnh đứng tên trong các cuốn sổ tiết kiệm gửi ngân hàng cần phải xem xét đến những điều kiện thực tiễn của nhà chùa. Chùa và các cơ sở thờ tự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam rất nhiều rải rác ở khắp miền đất nước, nhưng đều thuộc về tổ chức tôn giáo – Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Một chùa cụ thể nào đó thì không phải là tổ chức tôn giáo, mà chỉ là cơ sở tôn giáo, địa điểm thường xuyên diễn ra các hoạt động tôn giáo của Phật giáo.

Do đó bản thân nhà chùa không thể tham gia giao dịch với tư cách một chủ thể độc lập bình thường (pháp nhân hay tổ chức) mà thường sẽ do vị trụ trì thực hiện. Điều đó dễ hiểu là tại sao ni sư Huệ Tịnh là người đứng tên trên các cuốn sổ tiết kiệm tại ngân hàng với thế danh (tên trong giấy Chứng minh nhân dân) là Đỗ Thị Thiềng.

Tại điều 3 BLDS năm 2005 có quy định “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”. Trên thực tế thì phápluật Việt Nam chưa có quy định liên quan đến vụ việc như trên. Nếu áp dụng theo tập quán, thì ta cần xem xét những gì được gọi là tập quán. Tập quán có thể được hiểu nôm na là những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát lâu đời trong đời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừa nhận như là quy tắc xử sự chung. Tập quán được tuân thủ chủ yếu bằng thói quen và dư luận xã hội nhưng cũng có thể được vận dụng như trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán.

Tại điều 45 của Hiến Chương giáo hội Việt Nam có quy định: “Tài sản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có: Động sản, bất động sản hợp pháp:

1. Do Giáo hội xây dựng, tạo mãi hoặc tư nhân trong và ngoài nước hiến cúng hợp pháp.

2. Do các thành viên Tăng ni, Phật tử của Giáo hội xây dựng, tạo mãi hợp pháp, được Giáo hội bảo hộ”.

Hiến chương này không có quy định về tài sản riêng của những người đã xuất gia (Hiến chương này gồm có 11 Chương và 48 Điều được Hội nghị đại biểu thống nhất Việt Nam cả nước soạn, duyệt, nhất trí thông qua và biểu quyết năm 1981, được tu chỉnh lần thứ nhất tại Đại hội toàn quốc kỳ II năm 1987, lần thứ hai tại Đại hội toàn quốc vào năm 1992 và lần thứ ba được tu chỉnh, thông qua tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ IV ngày 23/11/1997).

Đồng thời theo giáo lý nhà Phật thì người xuất gia có những tài sản gì?

Theo Đại tạng kinh Việt Nam (Tăng Chi Bộ III, chương 7, phẩm Tài sản, phần Các tài sản rộng thuyết, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.280):

“Một thời, Thế tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có bảy tài sản này, thế nào là bảy ?

Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài và tuệ tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng vào sự giác ngộ của Như Lai, gọi là tín tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, trộm cắp….say sưa, gọi là giới tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử có xấu hổ đối với thân, miệng, ý làm ác, gọi là tàm tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử có sợ hãi đới với thân, miệng, ý làm ác, gọi là quý tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, giữ gìn những gì đã nghe, đề cao đời sống phạm hạnh, đọc tụng nhiều lần, chuyên tâm quán sát, thành tựu chánh chiến, gọi là văn tài

Ở đây, vị Thánh đệ tử với tâm từ bỏ xan tham, ưa thích xả bỏ, san sẻ vật bố thí, gọi là thí tài.

Ở đây, vị Thánh đệ tử có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau, gọi là tuệ tài.

Này các Tỷ kheo, đây gọi là bảy tài sản, ai có được những tài sản này, được gọi là không nghèo khổ”.

Như vậy đối với người tu thì “xả phú cầu bần” là một trong những điều kiện cần để góp phần tích lũy, thăng hoa gia sản tinh thần. Tài sản tinh thần tuy vô hình nhưng rất đồ sộ và không khó để tạo dựng. Chẳng cần phải cạnh tranh khốc liệt “thương trường là chiến trường” vẫn kiến tạo được tài sản tinh thần tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ.

Tài sản tinh thần là tặng phẩm của tạo hóa vốn dĩ hào phóng ban tặng đầy đủ cho mỗi người. Tìm lại những gì thánh thiện uyên nguyên đã lãng quên và đánh mất là cách làm giàu của người tu. Tài sản này một khi đã tích lũy được sẽ làm cho những ai sở hữu nó thật sự giàu có, hạnh phúc và bền vững trước mọi biến động của thời cuộc. Tài sản của người tu hành khác với tài sản của người thế tục. Họ thường theo tam thường bất túc (là 3 cái ăn, mặc và ngủ không được sung túc, thừa thãi). Người tu hành thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước và kỷ cương, họ không thu góp, cất chứa vàng bạc, châu báu, tiền tệ làm của riêng mình (ngoại trừ trường hợp gìn giữ cho tăng đoàn). Ni sư Huệ Tịnh là người tu hành, hướng thoát tục, muốn tránh bụi trần, lòng coi vật chất không là tài sản, không tích lũy tiền riêng cho bản thân nên số tiền này không thể được coi là tài sản riêng của ni sư Huệ Tịnh, là hợp đạo, hợp lý, đễ được các phật tử, tín thí đồng lòng chấp nhận.

Tuy nhiên trong thực tế để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra khi có sự tranh chấp tài sản giữa người tu hành đạo Phật với người khác, đề nghị Giáo hội Phật Giáo Việt Nam bổ sung thêm trong hiến chương hoặc ban văn bản có giá trị pháp lý quy định về tài sản của người tu hành theo đạo Phật thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng nên có kiến nghị Quốc hội khi sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005 có quy định về tài sản của người tu hành.

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (1 đã gửi)

avatar
nguyễn đông đông 15/04/2011 21:38:32
Lòng tham đưa con người đến chổ tối tăm, không phân đâu là chánh đâu là tà, cuộc tranh chấp này không phải là sự tranh giành mà là giúp người thoát khỏi vòng tăm tối mà cái chổ ở đã có sẳn trong tâm thức rồi
A DI Đà Phật
tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Đăng nhập