Trang chủ | PG Việt Nam | Lịch sử | Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý

Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý

Đã đọc: 2206           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Chùa Trấn Quốc

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội.

  ThS. Trần Thị Hạnh

Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn

Đại học Quốc gia Hà Nội

 

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng Đế, đặc niên hiệu là Thuận Thiên, khởi nghiệp nhà Lý. Khoảng thời gian 216 năm trị vì của triều đại nhà Lý, nền quân chủ Đại Việt dần hàon thiện và phát triển. nhà Lý đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách và biện pháp tích cực nhằm thự chiện nhiệm vụ Độc lập dân tộc và Thống nhất quốc gia, phát triển nền văn minh Đại Việt. Xã hội Đại Việt dưới triều Lý phát triển về mọi mặt: cơ cấu nhà nước được thiết lập theo lối chính quy với mô hình nhà nước trung ương tập quyền, pháp luật được coi trọng, giáo dục văn hoá được mở mang, quân đội được củng cố, tư tưởng triết học và tôn giáo đặc biệt là Phật giáo.

Phật giáo thời Lý có vị trí, vai trò trong cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Phật giáo tham gia vào nhiều công việc tổ chức của xã hội: hoạt động tôn giáo tính ngưỡng trong làng xã, xây chùa, dựng tháp, tô tượng, đúc chuông; tham gia và giữ vị trí chủ đạo trong hoạt động chính trị, giáo dục, xây dựng các chuẩn mực đạo đức xã hội. Các chùa, tháp, tô tượng, đúc chuông, dịch kinh, phát triển đội ngũ sư tăng… để tỏ lòng sùng kính Phật.

Phật giáo thời Lý phát triển mạnh các dòng thiền. Hai phái thiền Lưu Chi và Vô Ngôn Thông từ thời Bắc thuộc, tiếp tục được phát triển. Thời Lý hình thành dòng thiền Thảo Đường.

Thiền Lưu Chi phát triển ở thời Lý từ thế hệ 11 đến thế hệ 19 với các thiền sư lưu danh sử sách: Vạn Hạnh (938-1025), Đạo Hạnh (?-1115), Viên Thông (?-1151)…

Thiền Vô Ngôn Thông thời Lý từ thê 1hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 17. Các thiền sư nổi tiếng của dòng thiền này: Khuông Việt (933-1011), Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông (1000-1054)…

Thiền Thảo Đường thời Lý phát triển được 6 thế hệ. Trong sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi tên 19 người, trong số đó: Lý Thánh Tông, Không Lộ, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông…

Tư tưởng của các phái thiền có một chiều sâu triết lý, tâm linh, đạo đức. Thiền Lưu Chi ảnh hưởng tư tưởng Bát Nhã. Khi thiền định hành giả phải làm cho trí huệ bát nhã bừng sáng mới có thể nhập được các pháp. Để đạt được mụch đích đó, kinh dạy về pháp thiền quán trong ngoài để phá trừ kiến chấp, Kinh mang tính văn hệ Bát Nhã nên bản chất của giác ngộ vượt ngoài phạm vi ngôn ngữ, văn tự, siêu việt hữu vô. Tư tưởng của phái thiền này còn tiếp thu cả tư tưởng sẫm vĩ, phong thuỷ. Thiền Vô Ngôn Thông nhấn mạnh thuey61t đốn ngộ tâm địa, chù trương con người có thể trong một giấy lát đạt được quả vị giác ngộ, không cần phải tiệm tiến. Sự giác ngộ là do tự tính thực hành, do sử dụng phương pháp thoại đầu để phát khởi sự đạt ngộ nơi tâm tư. Thiền Vô Ngôn Thông còn chịu ảnh hưởng của Mật Tông sử dụng các thế lực siêu nhiên để mau chóng gáic ngộ, ảnh hưởng của Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật để đạt tới nhứt tâm bất loạn, vãng sinh vào thế giới cực lạc của phật A Di Đà. Chủ trương của thiền Thảo Đường là thống nhất tư tưởng và tông phái phật giáo cùng với Nho và Đạo, thiên về chú trọng tri thức và văn chương, nên không lan toả được trong đại chúng mà chỉ ảnh hưởng được trong giới quý tộc, trí thức. Tư tưởng triết lý của các phái thiền và hoạt động truyền giáo, hoạt động xã hội của các thiền sư ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị, văn hoá xã hội thời Lý. Để có được những thành tựu đáng kể, tư tưởng Phật giáo thời Lý đã có những đặc trưng như khả năng dung thông linh hoạt, tính nhập thế sâu sắc. Tuy nhiê, sức sống, sức mạnh của Phật giáo là ở triết lý. Phật giáo thời Lý đóng góp vào văn hiến Đại Việt không chỉ ở vai trò với thức tiễn xã hội mà còn ở vai trò xây dựng nền triết học Phật giáo.

  1. 1.      Quan niệm về thế giới của các thiền sư thời Lý

Thiền tông chủ trương vạn vật nhất thể nhưng biến hoá khôn lường dưới các dạng khác nhau. Những dạng này luôn luôn thay đồi gọi là pháp tướng vô thường. Thế giới, con người cũng như muôn loài luôn thay đổi, không dễ gì nắm bắt được. Vạn vật tuy sắc thân, sắc tướng không còn nhưng bản thể qua pháp tướng vô thường vẫn còn, không hề mất, có thể tìm thấy ở khắp nơi. Một đã thành Vạn trong trời đất núi non. Khoảng cách không gian, thời gian gần mà xa, xa mà gần.

Vòng tuần hoàn của vũ trụ: xuân, hạ, thu, đông được các thiền sư thể hiện như nguồn sốngbất diệt; xuân sinh, hạ trưởng, thu liễn, đồng tàn, vạn vật sinh-trụ-dị-diệt vô thỷ vô chung. Lý vô thỷ vô chung là lý để từ đó có thể đồng nhất thể vũ trụ.

Vô ngã, vô thường

Triết lý vô thường, vô ngã cũa Phật giáo từ thời nguyên thuỷ được các thiền sư thời Lý biểu đạt bằng những hình ảnh của tự nhiên và con người. Thiền sư Mãn Giác (1052-1096):

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, đêm qua một nhành mai đã nở trước sân)

Thiền sư đã giác ngộ được cảnh vô thường của vạn vật, thân người như bóng chớp, vô ngã và vô thường như vạn vật. Từ đó, các thiền sư chủ trương an nhiên tự tại sống, thoát khỏi sắc dục, sống “mình vì mọi người”, xả hỷ lợi tha cao thượng.

Sắc – Không

Giáo sắc không của các thiền sư thời Lý được thể hiện qua các phạm trù “có – không”, “còn – mất”, “sống – chết”. Lịch sử đã ghi danh các thiền sư cống hiến trí tuệ và cuộc đời mình cho đạo pháp, dân tộc. Trước tác các vị để lại đã phần nào giải thích cho chúng sinh quá trình gíc ngộ của mình, giải thích lý sắc – không theo phong cách nghệ thuật độc đáo:

Thiền sư Đạo Hạnh (1072-1116) đã viết:

Tác hữu trần sa hữu

Vị không nhất thiết không

Hữu, không như thuỷ nguyệt

Vật trước hữu không không

Trong thế giới nếu có thì trời đất cho đến hạt cát đều là có. Nhưng con mắt trí tuệ soi chân tướng các pháp, nhận thấy có chỉ là ảo giả, hợp rồi tan.

Thiền sư Huệ Sinh (?-1063) trả lời Lý Thái Tông về tâm nguyện:

Pháp bản như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không

Nhược nhân tri thử pháp,

Chúng sanh dữ Phật đồng

Tịch tịch lăng già nguyệt

Không không độ hải chu.

Tri không, không giác hữu

Tam muội nhậm thông chu

Thực tướng có và không của các pháp giống nhau. Người nào không rõ cũng như người mơ màng không nhận ra được thế nào là có và thế nào là không. Người giác ngộ nhận ra thì được coi là đồng với Phật.

Linh Nhân hoàng thái hậu (Lê Thị Ỷ Lan, 1044-1117) có bài kệ bàn về sắc – không:

Sắc thị không, không tức sắc,

Không thị sắc, sắc tức không

Sắc, không câu bất quản,

Phương đắc kế chân tông

(Sắc là không, không tức sắc

Không là sắc, sắc tức không

Sắc không đều chẳng quản

Mới khế hợp chân tông).

Các thiền sư thời Lý coi bản thể của thế giới thường còn bất sinh, bất diệt, như như bất động nhưng nó lại tuỳ duyên mà biến ra mọi nơi, mọi vật.

Sự vật thiên hình vạn trạng, các pháp, là một dạng của thế giới bản thể. Các thiền sư thường ca ngợi cảnh trăm hoa đua nở, chim hót chào xuân, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, cành mai nở trong đêm xuân, trăng lặng soi bóng thuyền,… vừa là những cảnh vật của đời thường, mà cũng là hình tượng thể hiện bản thể. Các thiền sư đồng thời là thi sĩ đã hoà tan cảm xúc của mình với thiên nhiên, đất nước và con người. Họ đã diễn tả được những khái niệ, phạm trù triết họcrất trừu tượng chỉ trong những câu thơ, câu kệ rất ngắn.

Chúng sinh bị vô minh che lấp không nhận thức được bản thể nên coi thế giới hiện tượng là có thật, do nghiệp nên nhìn thế giới thành một thế giới đầy phiền não. Do vậy, chúng sanh cần được giác ngộ. Chính trong đời sống hiện tại, con người tu dưỡng đạt được cảnh giới Chân như, cảnh giới Niết bàn, con người tự giải thoát mà không rời sinh tử. Giác ngộ không phải do ai trao truyền mà phải tự mình thực hành lấy.

  1. 2.      Nhân sinh quan của các thiền sư thời Lý

Phật giáo là học thuyết mang tinh thần nhân văn, gí trị nhân đạo cao cả. Phật giáo đề cao yếu tố con người. Xã hội là do con người tạo nên, tốt hay xấu là do con người. Tư tưởng triết học thiền tông thời Lý đề cập tới con người trong lẽ vô thường của thế giới. Con người là một phần của vũ trụ, hoà đồng với vũ trụ nhưng con người vì không hhiểu lẽ đó nên muốn có sự trường sinh vĩnh hằng, từ đó lo sợ đau khổ, sợ hãi. Thế giới là ảo ảnh, con người cũng như bóng chớp có rồi lại không.

Thiền sư Viên Chiếu (999-1090), thiền sư Vạn Hạnh đã khẳng định điều này trong các bại kệ:

Thân như tường bích dĩ đồi thì,

Cử thể thông thông thục bất bi.

Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,

Sắc không ẩn hiện nhậm thôi di”.

(Thân thể người ta như vách đến lúc đỗ nát,

Tất cả người đời đều vội vả, ai mà chẳng buồn

Nhận thức được rằng tâm là không, vô sắc tướng

Sắc không ẩn hiện mặc nó đổi dời)

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Người đời như bóng chớp, có rồi lại không.

Như cây cối mùa xuân tươi tốt, mùa thu khô héo.

Mặc cho vận đời dù thịnh hay suy, đừng sợ hãi.

Thịnh suy cũng mong manh như giọt sương đầu ngọn cỏ)

Các vị thiền giả tu luyện bản lĩnh, vượt lên trên sự phân biệt, không còn cái ta và không ta, hoà đồng nội tâm và ngoiạ giới, không lo ngại sự thay đổi khôn lường của vũ trụ. Thiền sư phải là tấm gương cho chúng sinh, là người giác ngộ, là người đốt ngọn đuốc để soi tỏ con đường giải thoát khỏi sự mê lầm. Từ đó, lý lẽ chung của thiền tông là không câu nệ vào con đường tu tập mà Như lai đã từng đi. Thiền sư Quảng Nghiêm (1121-1190) đã từng lập luận:

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên khí,

Hưuu hướng Như lai hành xứ hành

(Thoát ly được lòng ham muốn niết bàn mới có thể bàn tới niết bàn,

Sinh vào cõi vô sinh mới nói vô sinh

Nam nhi tự có chí tung trời

Đừng đi theo bước chân của Như Lai)

Tư tưởng của Ni sư Diệu Nhân (1041-1113) đạt đến đỉnh cao của phương pháp tu tập giải thoát của thiền tông thời Lý. Ni sư khẳng định tinh thần độc lập, tự lực giải thoát, không lệ thuộc vào ngoại cảnh:

Sinh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên.

Dục cầu xuất ly,

Giải phọc thiệm triền.

Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu Thiền

Thiền, Phật bất cầu,

Đỗ khẩu vô nghiêm.

(Sinh lão bệnh tử

Lẽ thường xưa nay

Muốn cầu siêu thoát,

Nhưng cỡi trói cũng chính là buộc chặt thêm.

Mê muội thì mới cầu Phật

Nhầm lẫn thì mới cầu Thiền.

Chẳng cầu Phật chẳng cầu Thiền,

Mím môi, Vô ngôn)

Phật giáo thời Lý đã tôn vinh giá trị con người lên tới địa vị Phật. Tôn vinh con người, phục vụ con người, đáp ứng những nhu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người để giải thoát mọi khổ đau, nghiệp chướng là tôn chỉ, mụch đích trong suy nghĩ và hành động của các thiền sư thời Lý.

Từ bi

Lòng từ bi của các Thiền sư, vua quan nhà Lý qua các suy nghĩ và hành động rất đa dạng phong phú. Do hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc lúc bấy giờ, nhà nước độc lập non trẻ, thù trong, giặc ngoài, đệ tử Phật không thể thủ tiêu đấu tranh mà phải giác ngộ rằng quyền lợi của mình hoà đồng vào quyền lợi của dân tộc.

Thiền sư Viên Thông (1080-1151) đã trình bày với vua Lý Nhân Tông:

Thiên hạ cũng giống như đồ dùng, đặt yên thì được yên, đặt chỗ nguy ắt gặp nguy; cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi. Nếu đức hiếu sinh hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ, ngữa trông như mặt trời mặt trăng: đó là đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy”.

Đức tính thương người như thể thương thân của các minh quân, thiền sư thời Lý đã được sử sách ghi chép, ca ngợi nhiều. Chúng tôi muốn kiến giải suy nghĩ và hành động của các vị minh quân và thiền sư từ góc độ triết lý nhân sinh của triết học Phật giáo. Phật giáo không bàn đến phạm trù bình đẳng một cách độc lập như các thuyết khác, nhưng trong triết lý nhân sinh Phật giáo, không có sự phân biệt giữa những con người, Phật giáo chủ trương mọi người đều được giải thoát khỏi mê lầm. Từ bi và bình đẳng không có ranh giới. Từ bi là đem lại an lạc, hạnh phúc cho mọi loài, cho mọi người, cứu khổ cưu 1nạn không phân biệt. Phật là hiện thân của từ bi, người tu theo Phật là hực hành từ bi suốt đời, không gây đau khổ cho người khác và đương nhiên không thờ ơ trước sự đau khổ của người khác, tự giúp mình và giúp người thoát khỏi đau khổ, không câu nệ, cố chấp.

Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo thời Lý nói riêng không chỉ đề cao triết lý từ bi bình đẳng trong nhận thức mà trong thực tế, Phật giáo Việt Nam là một trong số ít quốc gia Phật giáo có sự bình đẳng trong tu tập, trong vị trí của các thiền sư, cư sĩ nữ đối với xã hội.

Giải thoát

Phật giáo thời Lý không chủ trương xuất thế để cầu giác ngộ. các thiền sư chủ trương giải thoát ngay trong chính cuộc đời, lấy nhân quần xã hội làm thử thách, từng trãi mà giải thoát. Phật gaió thời Lý kết hợp nhiều phương thức giải thoát trong các tông phái, chủ trương “tuỳ duyên” rất uyển chuyền nhưng cũng hàm chứa triết lý sâu sắc.

Phật không phải là đối tượng cho ý thức cầu tìm bên ngoài. Phật là tự tính chân như, một trình độ của ý thức, là biết giác ngộ, thường trụ bất biến tiềm tàng nơi chúng sinh. Chúng sinh phát hiện được tự tính chân như là ngộ đạo. Như vậy, con người muốn giải thoát không có gì bí ẩn, chỉ cần thay đổi suy nghĩ và hành động của mình từ chỗ mê lầm sang trong sáng, an nhiên tự tại. đó là sự ngộ đạo được thực hiện ngay khi con người đang hiệns inh trong cuộc đời, đang gắn mình trong hằng hà sa số các mối quan hệ. Con người sẽ không phải tách rời cõi sinh tử, mà sống trong cõi sinh tử nhưng khôngc ần sợ sự sinh tử, không bi quan, yếm thế mà lại nhập thế hành đạo, yêu đời, ung dung, tự tại. Kiều Bản Tịnh (1100-1176), tinh thông cả Nho - Phật - Đạo, đã từng theo học thiền sư Mãn Giác, cùng với Bảo Giám và Không Lộ làm thành thế hệ thứ chín dòng thiền Quan Bích, trong bài kệ đã nêu đường lối tự giác, giác tha:

Thế thế sinh sinh

Bất muội Phật chỉ.

Tự giác giác tha,

Vô gian bỉ thử.

Phương tiện đề huề,

Nhập ư nhất quỹ.

(Đời đời kiếp kiếp

Chẳng bao giờ làm mờ tối ý hcí của Phật

Mình tự giác ngộ để giác ngộ cho người,

Không phân biệt kẻ này, người khác.

Sẵn sàng dìu dắt, cùng đi vào một lối chung)

Triết lý giải thoát uyển chuyển của các thiền sư đã đưa họ đến với phương thức hoạt động tích cực trong cuộc sống xã hội. Các thiền sư là hiện thân cho chủ trương đã ngộ đạo khi gắn mình vào cuộc đời bình thường cũng phải hành động và suy nghĩ theo những đạo lý của cuộc sống; giải thoát trước hết là làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với con người. Điều này thật có giá trị lý luận và thực tiễn đối với chúng ta.

Một số nội dung cơ bản của triết học Phật giáo thời Lý đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống triết học Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng đến sinh hoạt tư tưởng của người Việt. Đặc biệt, sự phát triển của Thiền tông thời Lý đã bổ sung và làm sâu sắc hơn hệ thống các phạm trù triết học Việt Nam với nhiều khái niệm, phạm trù cơ bản về thế giới quan và nhâns inh quan. Bằng triết lý của mình, các thiền sư thời Lý nhập thế tích cực cứu đời, cứu nước, cứu dân, “kiến tính thành Phật” ngay trên thế gian này. Nền độc lập và văn hei61n của Việt Nam không bao giờ thiếu vắng sự dày công gây dựng và vun đắp của các vị./.

Nguồn: GHPGVN

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập