Trang chủ PG Việt Nam Danh lam Giá Trị Kho Mộc Bản Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)

Giá Trị Kho Mộc Bản Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)

Đã đọc: 2810           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Chùa Vĩnh Nghiêm từ xa xưa có tên gọi là Chúc Thánh thiền tự, trong dân gian gọi là chùa La, hay chùa Đức La, vì chùa tọa lạc trên phần đất thuộc xã Đức La, huyện Phượng Nhãn xưa, nay là thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đây một đại danh lam cổ tự do sư tổ Thiền phái Trúc Lâm là Giác hoàng Điều ngự Trần Nhân Tông xây dựng thành thiền viện, đào luyện tăng đồ từ cuối thế kỷ XIII. Chùa Vĩnh Nghiêm đã được các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa xem như một bảo tàng văn hoá Phật giáo Đại thừa khá tiêu biểu ở miền Bắc Việt Nam. Ngoài công trình kiến trúc, một trong những di sản văn hoá đặc biệt quý giá ở chùa Vĩnh Nghiêm là kho mộc bản kinh phật do các vị sư Thiền phái Trúc Lâm cho san khắc còn lưu giữ đến ngày nay.

Bản sách được in bằng mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm- Ảnh: Thu Hường

 

Theo lịch sử Thiền phái Trúc lâm, để phục vụ việc truyền giảng và lưu hành giáo lý, tư tưởng của dòng phái phật pháp, từ những năm đầu thế kỷ XIV, sư tổ đệ nhị của Thiền phái đã cho san khắc các bộ kinh luật tại chùa Vĩnh Nghiêm như: Đại tạng kinh, Tứ phần luật, Kim cương tràng đà la ni kinh khoa chú, Tuệ trung thượng sĩ, Tham thiền chí yếu, Niết bàn đại kinh khoa sớ, Pháp hoa kinh khoa sớ… Tuy nhiên, do chính sách "hoại thư" của nhà Minh nên đầu thế kỷ XV các mộc bản này bị huỷ hoại. Vào cuối thế kỷ XVI, các sư tổ chùa Vĩnh Nghiêm tiếp tục cho san khắc một số mộc kinh song hầu hết cũng bị thất lạc, chỉ còn lưu giữ một số ít. Phải đến những năm giữa thế kỷ XVIII (triều vua Lê Cảnh Hưng) đến đầu thế kỷ XX, các bản mộc kinh mới được san khắc nhiều, trên chất liệu gỗ thị, được bảo quản chu đáo đến ngày nay.

Trải qua nhiều thế kỷ đến nay, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn là nơi tàng lưu một lượng di sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam, bao gồm: hệ thống tượng thờ gồm trên 100 pho, hệ thống văn bia (8 bia) cơ bản được soạn khắc ở giai đoạn Lê-Nguyễn (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) ghi lại toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Vĩnh Nghiêm, hệ thống hoành phi-câu đối, đồ thờ… Đặc biệt là kho mộc bản kinh Phật và những thư tịch khác do thiền sư Thiền phái Trúc Lâm tổ chức san khắc ở nhiều giai đoạn khác nhau. Di sản này không chỉ là báu vật của đất nước mà còn là tài sản văn hóa chung của nhân loại. Nội dung của kho mộc bản là chiếc chìa khóa vạn năng để nghiên cứu về nhiều mặt trong đời sống xã hội. Tiêu biểu có tư tưởng triết học, nhân văn của người phương Đông suốt từ những năm đầu thế kỷ XIII đến nay.

Trong nhiều năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu, các vị thiền sư Việt Nam và một số nước trên thế giới đã tìm về Vĩnh Nghiêm để xem xét, nghiên cứu, phát huy những giá trị của kho mộc bản ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Một số vị thiền sư Việt Nam đã về chùa Vĩnh Nghiêm xin toàn bộ bản dập kho mộc bản để nghiên cứu, biên tập thành sách, giáo trình thể hiện giáo lý Phật giáo của thiền phái Trúc Lâm và lấy đó làm sách giảng giải kinh phật cho các tăng ni, Phật tử. Từ đó khiến cho tư tưởng, giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm được các thế hệ người Việt Nam gìn giữ, truyền dạy lại và ngày càng phát triển mở rộng, hoà nhịp với cuộc sống đương đại.

Việc truyền bá tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm thông qua hệ thống tài liệu, giáo trình, sách vở, bài giảng của các thiền sư có uy tín trong và ngoài nước. Tất cả những tư tưởng ấy đều được biên soạn thành sách và được biên dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về đạo Phật của mọi người. Nội dung những cuốn sách này đều dựa trên nền tảng cốt yếu đã có trong kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Người có công trong việc truyền tải những thông điệp Phật pháp này ra thế giới không ai khác chính là những vị thiền sư người Việt Nam có uy tín với các Phật tử. Tiêu biểu có Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh và Thiền sư Thích Huyền Diệu… Các nhà sư này vừa truyền bá tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm qua việc biên soạn sách và dịch ra tiếng nước ngoài, vừa truyền giảng tinh thần thiền Việt Nam cũng như trực tiếp xây dựng nên các thiền viện để đào tạo tăng ni, Phật tử theo kiểu thiền phái Trúc Lâm ở trong nước và trên thế giới. Các ngài đã đem tâm thức thiền Việt Nam cứ từ thời Tam Tổ quảng bá và giao lưu với nhiều hệ tôn giáo khác trên thế giới trong tinh thần dung hợp bác ái. Chính vì vậy, việc truyền bá tư tưởng, giáo lý thiền phái Trúc Lâm không chỉ dừng lại ở phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà tiếp tục được truyền bá rộng rãi khắp trên thế giới.

Theo số liệu tổng kiểm kê của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Giang năm 2009 thì kho mộc bản tàng trữ tại chùa Vĩnh Nghiêm có 3050 mộc bản, với 9 đầu sách lớn thuộc hai loại kinh, sách chính: Loại kinh sách có nguồn gốc từ Trung Hoa, Ấn Độ được các Phật tổ thiền phái Trúc Lâm kế truyền, chú dẫn theo tư tưởng Việt Nam và loại kinh sách của các Tổ sư thiền phái Trúc Lâm sáng tác truyền lại, có thể kể tên một số loại kinh, sách chính như sau:

- Về kinh Phật có: Hai bộ kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh (cả phần kinh và phần chú giải); A Di Đà kinh. Đây là 2 bộ kinh chủ yếu dùng trong Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

- Về luật giới Phật có: Đại thừa chỉ quán, Tỳ khâu ni giới, Sa di ni giới kinh. Ba quyển này là giới luật tu và thiền cho các tăng ni của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

- Về sách có: Thần du Tây phương ký, Tây phương mỹ nhân truyện, Kính tín lục, Yên Tử nhật trình (bài Hạnh Thiền tông chỉ nam truyền tâm quốc ngữ, bài phú Cư trần lạc đạo, bài phú Giáo tử, bài Du Yên Tử sơn nhật trình, bài phú Thiếu thất, bài phú Thiện tịch). Trong đó Thần du Tây phương ký và Tây phương mỹ nhân truyện là sách nói về nguồn gốc của đạo Phật Ấn Độ. Tập Nhật trình Yên Tử nói về sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm và phương pháp tu thiền tâm của phái này. Tất cả các tăng ni, phật tử theo dòng Đại thừa ở Việt Nam cũng như hải ngoại đều sử dụng các bộ kinh, luật, sách trên để tu trì hành đạo. Vì vậy, mộc bản chính là di sản văn hóa quý giá của Phật giáo Đại thừa trên toàn thế giới nói chung và thiền phái Trúc Lâm ở Việt Nam nói riêng. Từ các tư tưởng và giáo lý đó, các thiền sư đã tiếp thu biên soạn thành sách để phát hành, truyền giảng trong toàn quốc và ở trên thế giới.

Các mộc bản này đều được khắc trên vật liệu là gỗ thị, được khai thác chủ yếu trong vườn chùa. Đây là loại gỗ quý với đặc tính mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ rất phù hợp với việc khắc ván in. Chữ trên các mộc bản đều được dùng bằng chữ Hán Nôm. Chữ khắc ngược (âm bản) để khi in ra giấy sẽ thành chữ xuôi. Sách được đóng, sử dụng theo truyền thống của người phương Đông (đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới). Kích thước các mộc bản không đồng đều, tùy theo từng kinh sách, bản khắc lớn nhất có chiều dài hơn 1m, rộng 40-50cm, bản nhỏ nhất chỉ khoảng 15x20cm. Do đã qua nhiều lần in dập nên các ván in đều có màu đen bóng, bề mặt phủ một lớp dầu mực in khá dày, lớp dầu mực thấm vào gỗ có tác dụng chống thấm nước, ẩm mốc, mối mọt rất hiệu quả. Đa phần các mộc bản được khắc trên 2 mặt, kiểu chữ chân phương, sắc nét. Mỗi mặt là hai trang sách. Nhiều trang được khắc đan xen thêm những hình minh họa với bố cục chặt chẽ, hài hòa, đường nét tinh tế. Vì vậy, mỗi mộc bản còn được coi như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ hoàn chỉnh. Mỗi bản in trong kho mộc bản còn xứng đáng là tác phẩm đồ họa đẹp.

Theo các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được coi là bộ sưu tập mộc bản kinh sách Phật duy nhất còn được lưu giữ về thiền phái Trúc Lâm-một trong những thiền phái tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam. Có thể nói, nội dung kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm mang “giá trị vượt thời gian”, được thể hiện ở những điểm sau:

Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là một bảo vật đặc biệt quý hiếm của quốc gia Việt Nam. Tổng tập “mộc bản kinh, sách Hán Nôm” này chính là những tác phẩm lớn chứa đựng nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân văn Việt Nam. Đây cũng là nguồn di sản tư liệu phong phú, đa lĩnh vực giúp các nhà nghiên cứu hiểu được cơ sở phát triển của Thiền học Trúc Lâm Yên Tử, lịch sử Phật giáo Việt Nam, văn hóa giáo dục, văn học, ngôn ngữ học, sinh thái môi trường, tâm linh học, lịch sử, nghề khắc in mộc bản, nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ truyền, xã hội học, y học, cùng các lĩnh vực khác thuộc về khoa học xã hội của Việt Nam từ giai đoạn đầu thế kỷ XIII đến những năm đầu thế kỷ XX.

Cái lớn của mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm không chỉ là số lượng con chữ mà là giá trị nhân văn to lớn. Nó được chuyển tải qua mặt chữ Hán Nôm theo tư duy logic của cộng đồng các dân tộc Việt từ những năm đầu công nguyên cho đến thế kỷ XIII. Từ đó, tư tưởng nhân văn được chắt lọc và phát triển thành lời thông qua trí tuệ của các nhà vị Vua, Thiền sư, quan lại, nhân sĩ, trí thức thời Trần rồi được lưu truyền sang thời Lê, Nguyễn và tiếp tục trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống, đạo đức của người Việt.

Đan xen giữa các mộc bản về kinh Phật là các mộc bản về luật giới, sách thuốc… qua đó răn dạy các tăng ni Phật tử, giáo dục người đời sống khoan dung độ lượng, nhân ái vị tha theo giáo lý nhà Phật cùng những phương thuốc quý để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cứu giúp người đời. Ngoài các bài phú, kệ, nhật ký trong kho bảo vật này còn là trước tác của vị minh quân, anh hùng dân tộc Trần Nhân Tông và các danh nhân lịch sử văn hóa của đất nước mà người dân Việt đời đời tôn vinh. Điều này khẳng định thêm rằng Phật giáo là một tôn giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.

Từ những tư liệu trong kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm còn giúp các nhà nghiên cứu có thêm nguồn sử liệu quý giá về sự phát triển của hệ thống văn tự Việt Nam: Chuyển từ chỗ chủ yếu sử dụng chữ Hán sang coi trọng và chủ động sử dụng chữ Nôm. Từ chỗ chỉ sử dụng số ít thời kỳ trước đó, chữ Nôm bắt đầu hình thành có hệ thống và phát triển mạnh trong dòng văn học Việt Nam. Điển hình là trong trước tác của các cao tăng Thiền phái Trúc Lâm thường sử dụng văn Nôm khi viết lời thuyết pháp dưới dạng văn vần, thơ hoặc các bài diễn giải tư tưởng Phật học như” “Thiền Tông bản hạnh”, “Yên Tử nhật trình”, bài phú “Cư trần lạc đạo”, phú “Giáo tử”, phú “Thiền tịch” và các thể loại văn Nôm Việt Nam.

Qua các tác phẩm chữ Nôm ghi chép về phong cảnh thiên nhiên, địa chí và chất vùng quanh khu vực Yên Tử-Vĩnh Nghiêm cho biết: Yên Tử là nơi hội tụ nhiều yếu tố “địa linh nhân kiệt” để tạo nên một kinh đô Phật giáo thời Trần. Đồng thời khẳng định mối quan hệ mật thiết không thể tách rời giữa Yên Tử-Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) mỗi khi nghiên cứu về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa văn hóa của nhân loại hiện nay, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đóng một vai trò quan trọng. Việc này không chỉ giáo dục ý thức giữ gìn văn hóa truyền thống của dân tộc mà còn giúp cho cộng đồng các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, Châu Á bảo tồn nét văn hóa phương Đông trong quá trình thế giới cùng hội nhập và phát triển. Đồng thời, những tư tưởng nhân văn, bác ái, cư trần lạc đạo của tư tưởng thiền phái Trúc Lâm đã đưa vị thế của Phật giáo Việt Nam ngày càng lên cao trên trường quốc tế.

                                                                                    

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập