Trang chủ PG Việt Nam Danh lam Hà Nội: Từ chùa Báo Thiên đến nhà thờ Lớn

Hà Nội: Từ chùa Báo Thiên đến nhà thờ Lớn

Đã đọc: 8445           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image Hình và chú thích của Nguyễn An Tiêm, Khởi Hành.

Chùa Báo Ân và Nhà Thờ Lớn Hà Nội (nhà thờ Saint Joseph) chụp lại trên bưu thiếp in năm 1905, do bác sĩ Ch. E. Hocquard chụp vào khoảng 1884-1885. Chùa Báo Thiên, chùa Báo Ân … bị Pháp tàn phá trong khoảng thời gian ngay sau khi chụp, hoặc môt hai năm kế tiếp. Nhà thờ lớn Hà Nội xây trên nền chùa Báo Thiên cũ.

KHỞI HÀNH, năm thứ XI - số 122 – tháng 12.2006 (Midway City, California - USA) xin được là một lời nhắc nhở, và cũng là một cảnh báo, cho những ai còn nặng lòng với sự sống còn văn hóa của dân tộc ta.

Chùa Báo Ân và Nhà Thờ Lớn Hà Nội (nhà thờ Saint Joseph) chụp lại trên bưu thiếp in năm 1905, do bác sĩ Ch. E. Hocquard chụp vào khoảng 1884-1885. Chùa Báo Thiên, chùa Báo Ân … bị Pháp tàn phá trong khoảng thời gian ngay sau khi chụp, hoặc môt hai năm kế tiếp. Nhà thờ lớn Hà Nội xây trên nền chùa Báo Thiên cũ.

¨

- Nhà thờ lớn Hà Nội có từ bao giờ?

- Nhà thờ lớn Hà Nội hay nhà thờ Saint Joseph bắt đầu xây từ năm 1884, khánh thành ngày 24.12.1986.

- Đất xây nhà thờ St Joseph là đất công hay đất tư?

- Tại địa điểm này, năm 1057, thế kỷ XI, vua Lý Thánh Tông cho khởi công xây tháp Đại Thắng  Tư Thiên, gọi tắt là Tháp Báo Thiên, thuộc nền Chùa Sùng Khánh, hay Chùa Báo Thiên, kinh đô Thăng Long. Theo nhiều tài liệu khác nhau thì trong khi Tháp Báo Thiên bị phá để xây Nhà thờ lớn thì Chùa Báo Ân cũng bị phá để xây Nhà Bưu Điện Hà Nội. Cả hai ngôi chùa này đều là hai chùa lớn bên hồ Hoàn Kiếm.

- Có tài liệu nào viết về vụ phá chùa để xây cất nhà thờ này không?

- Có. Gần nhất là một bản tin trong Thời Sự Khởi Hành số 66, tháng 4.2002 (số báo đặc biệt in màu nguyên hai trang KH Bản Đồ Việt Nam 1838 là năm lúc Pháp chưa đánh chiếm Việt Nam.)

 Xin trích dẫn lại như sau:

“Thực dân Pháp cũng như bọn bành trướng phương Bắc luôn luôn muốn hủy diệt văn minh sông Hồng (cái nôi của Việt Nam), bằng cách này hay cách khác, kể cả việc o bế, bắt tay với các bộ lạc sau lưng miền Bắc, sau lưng các triều đại giòng dõi Hai Bà, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lý Trần Lê, … [là các triều đại đã nổi lên dựng nền độc lập cho V.N.] để chọc vào cạnh sườn Phong Châu, Tản Viên, lấp sông Tô Lịch, đổi dòng sông Hồng, sông Bạch Đằng … và phá Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, xiết nợ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc …[Không phải vô tình mà cả Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào (tháng 11.06) khi đến Việt Nam đã đáp xuống Đà Nẵng, xuống bơi ở China Beach Đà Nẵng]...

“Đọc lại sách vỡ cũ, người Việt yêu nước Việt thở dài: biết bao đền đài kiến trúc cổ bị phá sập, … như ngôi chùa Báo Thiên nguy nga và tôn nghiêm ở thủ đô Thăng Long đã bị giám mục Puginier chọn, và trên đó mọc lên một nhà thờ công giáo.

“Trong bài nói về vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp với các di tích lịch sử Thăng Long, viết bởi France Mangin, có đọan sau đây của André Masson (Hà Nội dưới thời kỳ chinh phục 1873-1888):

“Phải hủy ngối chùa và chiếm đất vào cái thời gọi là chinh phục mà chúng ta đã trải qua đó, nhìn bề ngoài thì không có gì dễ dàng bằng, nhưng tôi cảm thấy một sự ghê tởm nào đó khi phải lạm dụng quyền lực một cách như vậy.”

“Bài báo viết: “Sự đắn đo của ông Bonal đã được xoa dịu nhờ sự giúp đỡ của tổng đốc Nguyễn Hữu Độ và những trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa đã được giải quyết nhanh chóng … Tiếp đó miếng đất đã được cho không Đoàn Truyền Giáo, và ông Bonal đã “hài lòng giao lại cho vị giám mục giấy tờ chính thức xác nhận quyền sỡ hữu (miếng đất).”

“Giám mục Puginier mở cuộc Xổ Số lấy tiền xây ngôi nhà thờ trên nền Chùa Báo Thiên, và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886: đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội.”

Thấy việc này thành công, trong những năm tiếp theo, nhiều ngôi chùa khác tại Hà Nội bị phá hủy: chùa Táo (xây vào thế kỷ X, chùa Liên Trì (hay chùa Báo Ân, xem hình) đền Huyền Trân (xây thế kỷ XVI)...” [Phần dịch bài của France Mangin là của Đào Hùng.]

- Được gọi là một trong “tứ đại khí” của Việt Nam, tháp Báo Thiên như thế nào, và vì sao nay không còn nữa?

- Tháp Báo Thiên cao 20 trượng, gồm 12 tầng, ngọn bằng đồng hình tựa ngọn núi, cao chót vót trên nền trời Thăng Long. Tháp được xếp vào một trong bốn Đại Nam Tứ Khí, bốn vật báu của đất nước; mà ba (kiến trúc điêu khắc) qúi giá khác là chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh, và chuông Quy Điền. Sự tích tháp Báo Thiên đã được hai danh sĩ Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án viết như sau trong sách Tang Thương Ngẫu Lục:

“Cây Tháp Đại Thắng Tư Thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng … Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái Tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành-sơn-hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra sung đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên … Năm Giáp dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá.

Những hòn gạch hoa, hòn nào cũng thấy khắc những chữ “Lý gia đệ tam đế, Long thụy Thái Bình [1054-1058], tứ niên tạo,” tức là “Đúc trong năm thứ tư niên hiệu Long thụy Thái Bình đời vua thứ ba triều nhà Lý.”

- Có sử sách gì khác viết về Tháp Báo Thiên không?

- Có. Nhà thơ Phạm Sư Mạnh (thế kỷ XIV), người Hải Dương, tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông [1314-1329], người cực kỳ hay chữ, đã làm bài thơ như sau về Tháp Báo Thiên:

Trấn áp đông tây củng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kình thiên bút
Kim cổ nam ma lập địa chùy
Phong bãi chung linh thời ứng đáp
Tinh di đăng chúc dạ quang huy
Ngã lai dục tủy đề thi bút
Quản lãnh xuân giang tác nghiễn trì.

Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm thoát dịch như sau trong tập Thơ Văn Lý Trần mà ông đang biên soạn:

 ĐỀ THÁP BÁO THIÊN

Trấn áp đông tây giữ đế kỳ
Một mình cao ngất tháp uy nghi
Chống trời cột trụ non sông vững
Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy
Chuông khánh gió đưa vang đối đáp
Đèn sao đêm đến rực quang huy
Đến đây những muốn lưu danh tính
Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.

 Các tài liệu sau này cũng có, song chỉ có tính cách địa dư chí. Ví dụ, trong Từ điển đường phố Hà Nội của Đại Học Hà Nội xuất bản có cho biết rằng Chùa Báo Thiên thuộc thôn Báo Thiên, tổng Tiên Túc, (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Sách này viết:

“Nền nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất nổi tiếng, ở đây có ngôi tháp gọi là Tháp Báo Thiên. Ngoài ra tại phố này (Phố Nhà Thờ, Avenue de la Cathédrale), còn có một ngôi chùa cổ, là Chùa Bà Đá. Tương truyền vào đời Lê Thánh Tông ở thôn Báo Thiên Tự có một người đào được một pho tượng Phật Bà bằng đá. Người đó liền lập một miếu nhỏ để thờ. Sau dân làng thấy thiêng mới xây thành ngôi chùa và gọi là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang Tự. Pho tượng đã bị mất trong một vụ cháy thời Pháp thuộc.”

Nguyễn An Tiêm

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Bá Lăng: Chùa Xưa Tích Củ, Lá Bối, S. Di.,1988; Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam, Hoa Cau,1989.
Phạm Ðình Hỗ-Nguyễn Án: Tang Thương Ngẫu Lục, Sài gòn, 1962.
Trần Văn Giáp: Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam, Hà nội, 1962.
Nguyễn Khắc Cần: - Nguyễn Ngọc Ðiệp:  Encyclopedia, Hà Nội, Việt Nam, 2000.
Nguyễn Hoài - Nguyễn Loan - Nguyễn Tuệ: Từ Ðiển Ðường Phố Hà Nội, 2000.
Tô Hoài, Nguyễn Vĩnh Phúc: 1000 năm Thăng Long, Hà Nội, 2000
Charles Edouard Hocquard: Các Carte Postales      về Tonkin, 1884-1885. Ðào Hùng, Tạp chí Xưa và Nay, 2002

Nguồn: thuvienhoasen.org

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (8 đã gửi)

avatar
Le Thuy 03/03/2010 03:39:37
Luật rừng!
(Sơn Dã Bần Phu)

Gửi bài này cho bạn bè09 tháng 4, 2008, hiệu đính 18 tháng 5, 2008

“Luật rừng! Đồ luật rừng!”
“Luật rừng” là những chữ mà người ta thường dùng để chỉ những hành động xâm phạm đến quyền lợi, tài sản và mạng sống của kẻ khác một cách táo bạo mà không cần biết đến đạo đức, lẻ phải hay pháp luật nào can thiệp vào, khi nhu cầu, hay lòng tham nổi lên mà lý trí con người không kềm chế được.
Vì sao lại dùng chữ “Luật Rừng” để ám chỉ những hành động trên?
Thú vật trong rừng khi đói thì ăn, không đợi giờ giấc, không cần biết trái cây ngọn cỏ này của ai, không cần biết những con thú nhỏ hay lớn cũng có đời sống của nó, đói thì cứ ăn cái đã. Không cần biết làm như vậy là xâm phạm đến tài sản, tính mệnh của kẻ khác. Đó là luật rừng.
Còn loài người thì sao?
-“Chúng em là thú vật, không biết đọc chữ nghĩa của loài người nên chúng em phạm vào luật pháp của loài người các bác đặt ra.”
-“Chúng em là những kẻ thất học nên không biết đâu là luật. Chúng em không biết suy nghĩ nên không biết đâu là lẻ phải trái mà tránh khi hành động. Còn quý bác quý cô biết đọc biết viết thì sao? Các bác hành động đạo đức hơn chúng em chăng?”
Nếu thú vật trên rừng mà biết nói, chắc chắn sẽ hỏi những câu hỏi như vầy.
Thực vậy, nhờ có luật pháp được đặt ra để ngăn cấm, răn đe những ai lấp ló muốn trộm cắp, cướp của, giết người. Nếu xã hội loài người mà không có luật pháp bảo vệ, chắc chắn sẽ không còn tồn tại đến ngày nay. Mà loài người lại thông minh giỏi giang, đa mưu, lắm kế. Bao nhiêu là vũ khí tối tân, bao nhiêu chất độc nguy hiểm mà tung ra thì những kẻ yếu thế ắt phải chết ngay.
Tuy nhiên, luật pháp của mỗi quốc gia, hay công pháp quốc tế được đặt ra để áp dụng với người dân thấp cổ bé miệng, và với những quốc gia bé nhỏ thôi. Còn đối với những quan chức, bọn tu sĩ có thế lực mạnh mà làm nhiều điều gian ác thì sao? Với những quốc gia mạnh thế thì sao? Chúng cũng xài luật rừng tuốt. Mạnh được yếu thua.
Để chúng em đi ngược dòng lịch sử nhân loại mà dẫn chứng những biến cố lịch sử có ảnh hưởng lớn đến loài người cho các bác biết nghe:
-*- Bên trời Âu, Cận Đông, các vùng Tiểu Á, một trong bốn cái nôi văn minh cổ của nhân loại Alexandre Le Grand/Alexander The Great, (356-323 BC) thiết lập một đế quốc rộng lớn chạy dài từ Macédonia (quê hương của ông ấy) dọc theo phía bắc Địa-trung-hải cho đến tận Á-Phú-Hán, Ấn-Độ, 1 phần Á-Rập, và bên kia bờ Địa-trung-hải là Ai-Cập với một sa mạc mênh mông.
-Julius Caesar (100?-44 BC), anh hùng của đế quốc La-Mã, chinh phục Âu-Châu từ năm 49 đến 44 BC, Tiểu-Á, rồi qua đến Ai-Cập.
-Bonaparte Napoléon I (1769-1821) sắp sửa thâu trọn gần Âu-châu thì thất trận ở Mạc-Tư-Khoa, rồi bị bại trận cuối cùng ở Waterloo bởi liên minh Áo, Phổ (Đức bây giờ), Nga, Tây-ban-nha….
Và xa hơn có “Người Aryen ào ạt xâm lăng người Dravidien, người Achéen và người Dorien xâm lăng người Crétois và Egéen, người Germain xâm lăng người La-Mã, người Lombard xâm lăng người Ý và người Anh xâm chiếm khắp thế giới. (Will Durant, Lịch Sử Văn Minh Ấn-Độ, N-h-Lê dịch, tr. 46).
-*- Còn Á-châu thì sao?
Từ ngàn xưa, ở cái xứ “Trung-hoa vĩ đại” của loài người các bác, cũng là một trong bốn cái nôi văn minh cổ của nhân loại, các chư hầu đua nhau dành dân lấn đất. Ai thắng thì nhân danh “Mệnh Trời” mà “Thế thiên hành đạo” làm cho dân Tàu trên ngàn năm chinh chiến. Đến đời Tần-Thủy-Hoàng yên được vài chục năm, nhưng mà xương rơi máu đổ cũng nhiều. Sau khi Hán Sở tranh hùng trong 5 năm chinh chiến điêu linh, dân chúng yên ổn được gần 400 năm. Rồi Tấn triều, Nam triều, Bắc triều, Đại Đường, Ngũ đại tàn Đường, Bắc Tống, Nam Tống, Nguyên Mông, Đại Minh, rồi Thanh triều. Chưa hết, Bát quốc Liên-Minh xâu xé cái nôi văn minh của các bác ra nhiều mãnh. “Cái nôi văn minh” này xâu xé “cái nôi văn minh” kia. Những dân tộc hấp thụ nền văn hóa, giáo lý Kitô xâu xé dân tộc của nền văn minh Á-Đông ra từng mảnh để gặm nhắm cả gần trăm năm! Mỗi lần các “Thiên-Tử” thay nhau mà “thế thiên hành đạo”, thì các cuộc giao tranh giữa hai triều đại làm cho dân Tàu xang bang xất bất, ai oán lên tận mây xanh, dân tình ta thán.
-Thành-Cát-Tư-Hãn với “vó ngựa đoàn quân viễn chinh đi đến đâu thì cỏ không mọc, gà không gáy, chó không sủa, trẻ con không dám khóc”. Vó ngựa chiến chinh Mông-Cổ chỉ bị chùn bước trước sức kháng cự của dân An-Nam nhỏ bé và của con cháu Thái-Dương Thần nữ mà thôi. Xin nhớ là khi chiến thuyền Mông-Cổ vượt bể để qua hòn đảo Phù-Tang thì không may bị bảo đánh chìm hơn một nửa, nên quân Mông bị thua to. Thiếu “thiên thời” rồi!
Vào thời cận đại, con cháu của các Đức Lão-Tử, Khổng-Tử đã rủ lòng nhơn nghĩa, ra tay tế độ, bảo bọc trọn gói Tây-Tạng, Mãn-Châu và một số quần đảo Việt-Nam để che chở khi nắng mưa. Anh hùng hảo hán quá !
Các vị trên là những anh hùng của xứ họ. Nhưng đối với các nước bị xâm lăng thì họ là kẻ cướp nước, kẻ dã man tàn bạo, kẻ hung tàn khát máu, kẻ tham lam đê tiện … Họ có tài quân sự để cướp bóc, và cái tâm của quỷ Sa-tan, quỷ Lu-xi-phe (nếu có các quỷ loại này).
“Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” và sau một ngàn năm độc lập nhưng phải triều cống cho con cháu có nền đạo lý Khổng Mạnh thì gần “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Những cái đó đã nói lên cái văn minh của kẻ không phải luật rừng đấy ư ?
Trên đây chỉ là những hành động tiêu biểu của một số trong muôn vàn sự bạo tàn khát máu bỉ ổi vô cùng của loài người các bác.
Trong hai trận Thế-chiến, các bác nhân danh đủ thứ chuyện để xâu xé nhau. Đầu sỏ này cấu kết đầu sỏ kia, đầu sỏ kia cấu kết đầu sỏ nọ, lập ra cái Đại-đồng này, cái Đại-Đông-Á kia mà thống trị kẻ yếu thế.
Rồi vấn đề nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp cũng được các bác nêu ra một cách sốt sắng. Dân Da Trắng thương Dân Da Vàng quá !!!!! Khi quyền lợi kinh tế chưa tương đồng trên thị trường thế giới, tài nguyên trên địa cầu chia chác không đều, các bác Da Trắng đem bày cái trò quyền này quyền kia ra mà làm khó nhau.
Nhưng một khi “đôi bên đều có lợi” thì không sao! Không sao! Các Chú không tôn trọng nhân quyền thì dân “Các Chú” chịu lấy.
“Các Chú” không có tự do tín ngưỡng hả? Không cho theo Đạo Thiên Chúa thì dân “Các Chú” không được lên thiên-đàng, thiên-đàng càng rộng chổ. Nếu có lên thì “Các Chú” get in line bên Đông, ta đây get in line bên Tây, đâu có sợ “Các Chú” dành đi đau.
Không có tự do ngôn luận hả? Không sao! Không sao! Ta đây khỏi sợ nhức óc vì “Các Chú” nói ngách nói cạnh ta, khỏi lo!
Không có tự do hội họp hả? Cũng không sao tuốt! Khỏi mất thì giờ đình công, lãng việc. Dồn hết thì giờ sản xuất hàng hóa được nhiều mà rẻ, ta mua cho.
Thế đấy! Dùng nhơn nghĩa để làm bình phong, cái cớ hù dọa, đòi hỏi lẫn nhau thôi. Bây giờ “Các Chú” bên trời Đông vẫn chính sách đó, vẫn chế độ đó sao Chú Sam không lên tiếng eo xèo này nọ nữa đi? Chẳng qua là giả nhơn giả nghĩa cả đấy thôi các bác ạ!
-Các bác đã nghe nói đến chế độ APARTHEID chưa? Nhờ sự can thiệp của Mỷ mà Nam Phi đã miễn cưỡng, cay đắng bãi bỏ chế độ Apartheid. Một chế độ ghê gớm của bọn thực dân da trắng Anh và Hòa-Lan đã áp đặt, dày xéo lên mãnh đất phì nhiêu vĩ đại, và tài nguyên phong phú ở tận cùng Nam châu Phi lục địa từ năm 1910. (Thực sự thì người Hoà-Lan đã đến đây từ 1652, và người Hòa-Lan lâu dần có tên gọi là Afrikaner, ngôn ngữ là Afrikaans). Luật pháp bất công và dã man đến độ mà chính người da trắng, ông W.W. Howitt trong cuốn Colonisationi Christianity (Londre 1938) đã phải phẩn uất thốt lên rằng “Trên khắp thế giới, từ cổ tới kim không có một dân tộc nào đối xử với một dân tộc bị chinh phục lại mọi rợ thô bạo, tàn nhẫn đáng phỉ nhổ như những dân tộc tự cho là theo Kitô giáo đó. (René Dumont, L’Afric du noire est mal partie…Ed du Seuil, 1652. Đọc Alan Paton, “Pleure ô Pays Bien Aimé”, Ed. Albin Michel, 1950/Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu, Nguyễn-hiến-Lê dịch. Tác giả là một người da trắng, thấy luật pháp được đặt ra để bóc lột dã man người bản xứ, mà còn không chịu được, huống hồ là dân bản xứ Da Đen.
Một số luật này cũng được áp dụng cho người An-Nam các bác dưới thời Pháp thuộc đó. Đều là thực dân cả thôi!
Trong số loài người của các bác, còn có kẻ có lương tri đặt ra cái luật bảo vệ môi sinh. Nhờ luật bảo vệ môi sinh của Liên-hiệp-quốc mà rừng cây được bảo vệ, nhiều loài động vật quý hiếm chúng em khỏi bị diệt chủng. Nếu không thì chúng em bị diệt chủng từ lâu bởi “thiện chí đi khai hóa” cho nhau của loài người các bác. Rồi công pháp quốc tế được ai tôn trọng không?
Nói về công pháp quốc tế, khoảng năm 1978, ông Đoàn-Thêm (cựu Đổng-lý văn phòng Phủ tổng-thống thời ông Diệm) kể cho tôi rằng, "mặc dù hải phận quốc tế chỉ quy định từ bờ biển ra chưa đầy 200 hải lý, nhưng các tàu biển của Mỷ bỏ neo ngày đêm khai thác mỏ thiếc ở ngoài khơi Thái-bình-Dương. Rồi các nước quanh đó đâm đơn lên tòa án quốc tế Lahay kiện Mỷ. Kiện cáo chưa ngã ngủ đến đâu và Mỷ vẫn tiếp tục khai thác tỉnh bơ, ai làm gì được. Mỏ thiếc này có trử lượng khai thác đến 600 năm, với năng xuất khai thác lúc bấy giờ! "
“Le colt fait la loi” (Cây súng làm nên luật pháp), "Le plus fort fait la loi " ( Kẻ mạnh làm ra pháp luật ), " La loi du plus fort " - " La raison du plus fort " ( Luật của kẻ mạnh- Cái lý của kẻ mạnh), “Thượng-Đế đứng về phe có các tiểu đoàn mạnh “ (Napoléon I) mà các bác!
Chưa hết đâu, gần đây nghe các bác gấu ó nhau về việc có kẻ ỷ mạnh, đem tàu chiến đến lập thành phố mới ở cái nơi đâu tận ngoài bể khơi Việt-Nam vì nghe nói có khí mê-tan (metal), acétylène, métylène ở dưới chân dưới bụng người dân ngoài đó. Đấy, luật này là luật gì vậy hở các bác của loài người văn minh?
Cũng ở Việt-Nam nửa:
Nhiều người nhắc đi nhắc lại rằng nhờ có thực dân (trá hình dưới chiêu bài giảng đạo) đã sáng chế ra chữ Việt từ chữ La-tinh nên bây giờ các bác mới có được chữ viết dể dàng. Điều đó quá đúng đi thôi. Nhưng thưa các bác, đừng vội mừng! “Lợi bất cập hại!” Với chiêu bài giảng đạo làm bình phong, quân ăn cướp đã vơ vét biết bao tài nguyên, bao nhiêu xương máu, mồ hôi nước mắt của dân đen An-Nam đã đổ ra để có đuợc những chữ La-tin này. Thử nhìn lại các nước Nhật, Trung-Hoa, Đài-Loan, Nam, Bắc Hàn, Ấn-Độ, Pakistan có cần vần chữ La-tin cướp nước đó không mà bây giờ có nước thì đã có lò nguyên tử, có nước thì kinh tế dồi dào như 4 con rồng Á-châu.
Cũng vẫn nhiều người rêu rao lên rằng“ Tại sao vua tôi nhà Nguyễn lại kỳ thị, giết chóc các cố đạo, giáo dân?” Thì đây là câu trả lời: Lấy danh nghĩa đi giảng đạo lý Ki-Tô, Charles Gosselin, một tên sĩ quan Pháp đã viết trong cuốn Đế-quốc An-Nam như sau: “Các cha đạo thực ra là cái cớ để chúng ta ra tay hành động với nước Nam …. nước Anh địch thủ của chúng ta đã nhanh chóng phát triển ở Viễn-Đông buộc chúng ta phải đặt chân vào vùng biển Trung-Hoa……. Nước Nam đã giúp chúng ta có cơ hội đó. Việc họ giết các giáo sĩ người Pháp đã cho chúng ta cái cớ để can thiệp….” (Trần-đức-Minh, Một Thời Nhiễu Nhương 1945-1975, tr 53). Vì “khai hóa cho dân bản xứ An-Nam” nên họ đã khai thác dùm luôn tài nguyên từ những cánh rừng bạt ngàn trù phú, đến những cao nguyên màu mở để trồng cao su, café, trà. Chưa hết, quặng mỏ dưới đất chúng cũng moi lên để làm giàu cho đám người văn minh da trắng. Đương nhiên đâu có dể dàng mà ăn cướp những tài nguyên này. Chúng gặp phải sự đề kháng của dân bản xứ, dù yếu thế. Để sự cướp bóc được dể dàng và an toàn hơn, chúng phải thương lượng. Văn minh như các bác mà Francois Harmand, một tên sĩ quan Đại-lang-sa đứng trên một chiến hạm rập rình ở cửa Sông Hương ngang nhiên thốt ra lời đe dọa: “The word Vietnam will be erased from history” (Cái tên Việt-Nam sẽ bị xóa khỏi lịch sử.) Karnow Stanley, Vietnam A History, Ed. Viking Press, Newyork, 1983, page 85). Và “Năm 1847 dưới triều Vua Thiệu-Trị quân ăn cướp đưa 2 chiến hạm đến Đà-Nẳng yêu cầu bỏ dụ cấm Đạo. Trong lúc hai bên còn thương nghị thì 2 tàu Pháp đó nổ súng vào thuyền của ta rồi bỏ chạy.” (Trần-đức-Minh, sđd, tr. 48); Hoặc là chúng không muốn điều đình: Toàn quyền D’Argenlieu nói với tên tư lệnh Valluy rằng “ I am amazed, mon Général, yes amazed, that France should have such a fine expeditionary corps in Indo-China and that its leaders should prefer to negotiate rather than fight.” (Vietnam A Complete Photographic History, Michael Maclear, page 11); Cựu Đại-tá Trần-đức-Minh tạm dịch: “tôi ngạc nhiên, phải nói là ngạc nhiên thấy rằng Pháp có một đạo quân viễn chinh giỏi mà giới lảnh đạo của nó lại tính chuyện điều đình”. Thế là cuộc bắn phá của Pháp ở Hải-Phòng rất kịch liệt và tàn khốc làm cho 6000 người dân Việt-Nam thiệt mạng. (Trần-đức-Minh, sđd, tr. 118) Đó, các bác thấy chưa!
Đó là cái văn minh của một dân tộc đã hấp thụ một nền giáo lý từ đâu? Có người nói rằng “chiếc áo đen đi trước, súng cà-nông theo sau.” Rỏ ràng bằng chứng rành rành: “Giáo sĩ Đắc-Lộ (Alexandre de Rhodes) sau hơn 20 năm truyền giáo ở nước ta đã đưa ra nhận xét: ” Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiếm được vị trí này thì thương nhân Châu Âu sẽ tìm được nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”. (Nguyễn phan Quang, Lịch sử Việt-Nam 1427-1858, nhà xuất bản Giáo Dục Tp. HCM, quyền 2, tập 2, trang 210; Trích từ sách của Bạch Hạc Trần-đức-Minh, sđd, tr. 11).
Cũng Alexandre de Rhodes:
“Tôi tin rằng vì nước Pháp ngoan đạo nhất trong tất cả các vương quốc nên sẽ cung cấp cho tôi nhiều quân lính để đi chinh phục toàn thể Đông Phương …” (Helen B. Lamb: Vietnam’s Will to Live, 1985, trang 38 và 39).
Lúc mới qua Mỷ, hằng tuần có 2 người phụ nữ đến tận nhà truyền giáo cho kẻ hèn này, đạo của Jéhovah. Ban đầu kẻ hèn cũng bắt chước một nhà văn nọ (xin được dấu tên) lợi dụng họ để học Anh ngữ. Sau đó họ tiến xa hơn, kẻ hèn bèn nói thẳng “Quý vị đến quốc gia nào thì sau đó dân chúng biến thành nô lệ của quý vị đến đó, cuốn Kinh thánh đi trước, súng cà-nông theo sau”. Họ dong một lèo không trở lại.
Các bác hãy nghe Đô-đốc Page và cũng là lời khẳng định của Giám Mục Puginier: "Si sans les missionaires et les chrétiens, écrit Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassetoutes les pattes." Bác Bửu-Biền (tác giả cuốn TÔN GIÁO CHIẾN TRANH HÒA BÌNH) dịch: " Nếu không có các thừa sai và giáo dân, thì người Pháp khác nào như những con cua gảy càng." Đoạn văn nàyđược trích từ cuốn Catholicisme et la sociétes Asiatiques của hai tác giả Alain Forrest & Yoshiharu Tsuboi. Bùi-Kha và Trần-Chung-Ngọc, Linh Mục Trần-Lục: Thực Chất Con Người & Sự Nghiệp (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999), tr. 27. Trần-Chung-Ngọc, Công-Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999, tr. 399.)
Toàn bộ những bằng chứng lịch sử trên có đủ để trả lời cho những thắc mắc về việc Vua tôi nhà Nguyễn giết các cố đạo, giáo dân, hay sự làm ơn của Alexandre de Rhodes chưa, thưa các bác? Hay là các bác cần có thêm những tài liệu nữa? Nhiều lắm! Số giáo dân và giáo sĩ bị giết dưới triều Nguyễn, e không thấm vào đâu so với 250 triệu người bị giết bởi La-Mã từ thời Trung-cổ. (Lloyd M. Graham, trong Deceptions and Myths of the Bible (Secausus, N.J: Carol Publishing Group, 1999, page 464) số nạn nhân bị giết bởi giáo hội La-Mã là 250 triệu người.).
Giáo hội Da Trắng thương yêu loài người quá! Nếu ai không muốn lên thiên đàng thì máy chém, giây treo cổ, giàn hỏa là những phương tiện giúp cho họ lên thiên đàng nhanh chóng và dể dàng lắm!
Nếu các bác đọc cuốn Lịch Sử Văn Minh Ấn-Độ trong bộ The Story of Civilisation, sẽ thấy Will Durant đã mỉa mai: “… Bồ-Đào-Nha phái một hạm đội tới truyền bá Kitô giáo và gây chiến ở Ấn. Thế kỷ XVII người Hòa-Lan tới đuổi người Bồ-Đào-Nha đi. Thế kỷ XVIII, Pháp và Anh tới đuổi người Hòa-Lan đi. HỌ GIAO CHIẾN VỚI NHAU KỊCH LỆT ĐỂ XEM CHÚA CHO BÊN NÀO ĐƯỢC CÁI VINH DỰ KHAI HÓA ẤN-ĐỘ VÀ …. BẮT NGƯỜI ẤN NỘP THUẾ.” (Will Durant, The Story of Civilisation, Lịch Sử Văn Minh Ấn-Độ, Nguyễn-hiến-Lê dịch, trang 484.)
Đấy, chỉ trừ một số nhà tu hành chơn chính, ngoài ra các bác văn minh lợi dụng lá bài “truyền giáo” để ăn thịt lẫn nhau thôi. Thực dân lợi dụng tôn giáo để đi “khai hóa” mà cướp bóc. Tôn giáo lợi dụng thực dân yểm trợ để truyền bá giáo-lý Kitô. Tín đồ càng đông, tiền bạc càng dồi dào, thế lực càng lớn. Người ta nói rằng “quyền hành của giáo hoàng rất lớn….” Lớn để làm gì nhỉ? Có cần quyền hành cho tu sỉ đi tu vì đạo đức không? Nếu đạo đức thì đã không tranh dành nhau chức giáo hoàng. Trước khi lên được chức giáo hoàng, bao nhiêu là máu đổ thịt rơi. Xin đơn cử vài thí dụ các phe phái trong giáo hội La-Mã thanh toán nhau như thế nào mà dành được chức giáo-hoàng. Chuyện này được sách Vicars of Christ của Giáo-sĩ Peter de Rosa (New York: Crown Publishers, Inc., 1988, hay Dublin, Ireland: Pooleg Press Ltd., 2000) ghi lại như sau:
“Bitter rivalries often showed themselves on the death of a pope. For example, when Liberius (352-366) died in 366, two factions elected a successor. Ursinus was one pope. Damasus was the other. After a lot of street fighting, Ursinus ‘ followers locked themselves in the recently completed basilica of St Mary Major, known as “Our Lady of Snow”. Damasus’ supporters climed on the roof, made a hole in it and bombarded the occupants with tiles and stones. Others meanwhile were attacking the main door. When this caved in, a bloody fight ensued for three days. At the end of it, 137 bodies were carried out, all of them followers of Ursinus. Ursinus was sent into exile by the emperor’s representative, but the crime in Mary Major was a permanent blot on Damasus’ copybook.”
Nhà sử học Nguyễn-mạnh-Quang dịch: "Sự thù nghịch bộc phát thành những cuộc chiến tiêu diệt lẫn nhau thường xẩy ra vào khi có giáo hoàng qua đời. Thi dụ, khi (Giáo Hoàng) Liberius (352-366) chết vào năm 366, giáo triều chia làm hai phe, mỗi phe chọn một người của phe mình lên kế vị. Ursinus là giáo hoàng của một phe và Damasus là giáo hoàng của phe khác. Sau khi đánh nhau ở ngoài đường phố, phe Ursinus yếu thế, chạy vào trong nhà thờ St. Mary Major (thường gọi là Thánh Đường Đức Bà Bạch Tuyết) rồi đóng cửa lại tử thủ. Phe Damasus tiến tới, trèo lên nóc nhà thờ đục lỗ, rồi dùng ngói và đá liệng xuống tấn công phe Ursinus. Đồng thời, một toán khác của phe Damasus tấn công vào trong qua cửa chính. Khi lọt được vào trong, hai bên ra sức chém giết lẫn nhau liên tiếp trong ba ngày. Cuối cùng, có tới 137 xác chết khiêng ra ngoài. Tất cả xác chết này đều là người của phe Ursinus. Ursinus bị bắt cho đi sống lưu vong, nhưng tội ác ở trong thánh đường Mary Major là vết nhơ trong thời Giáo Hoàng Damasus mãi mãi vẫn còn ghi trong sách sử."
Trên đây chỉ là 1 thí dụ cụ thể. Có tất cả 37 lần tranh nhau để 37 ông NGỤY giáo hoàng lên ngôi. Muốn biết rỏ, xin xem sách đã dẫn. Nếu kể ra đây thì rất dài, đọc mãi e làm các bác chán thôi. Nếu ngày xưa Chúa Kitô biết con chiên của mình sẽ lợi dụng Chúa mà làm vậy, chẳng thà Ngài đã chẳng tự xưng ngài là “Thiên-Chúa giáng sinh” cho rồi. Nói làm gì để tụi nó lợi dụng mình mà làm bậy!
Duới thời “Ngô tổng-thống anh minh”, Tổng-giám-mục Ngô-đình-Thục, một người mà ông Diệm tin rằng gương mẫu, đặt hết lòng tin đức độ, đã ăn cắp gỗ Chiến khu Đ do Việt-cộng kiểm soát. Trong khi các chiến sĩ quân lực Việt-Nam Cộng-hòa ngày đêm đổ xương máu ra chiến đấu chống Cộng, Thục lại đút tiền cho Việt Cộng để dể bề khai thác gỗ (Trần-văn-Đôn, Nhân Chứng Lịch Sử; Nguyễn-chánh-Thi, Việt-Nam Một Trời Tâm Sự; Trần-đức-Minh, Một Thời nhiểu nhương 1945-1975, tr. 578). Ngoài ra còn ăn cắp tiền đóng góp của các con chiên ngoan đạo cúng dường trong những ngày lể, Chủ-nhật tại các nhà thờ. Những số tiền này tổng cộng là 70 ngàn đô la (khoảng đầu thập niên 60, nhiều lắm!) được gửi trong trương mục của một linh mục người Ý bên Vatican và bị ông này đớp mất. (Hoàng-Ngọc-Thanh & Thân-thị-Nhân-Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm, trang 191; Nguyễn-mạnh-Quang, Việt-Nam Đệ Nhất Cộng-Hòa Toàn Thư 1954-1963, ấn bản 2000, Chương 19, trang 420). Thục còn nói: “Chỉ có Tư-bản và Công-giáo là thực sự chống Cộng và thắng Cộng mà thôi”, (Trần-đức-Minh, sđd. Tr. 579). Thực trạng Việt-Nam bây giờ thì sao?
Nếu có thì giờ, xin các bác hãy đọc cuốn “Thập Giá Và Lưỡi Gươm” của Linh-mục Trần-Tam-Tỉnh, trang 123, 125, 129 sẽ hiểu nhiều về Đức Tổng họ Ngô đã ăn chặn tiền viện trợ của Công-giáo Hoa-Kỳ, Pháp, và Caritas quốc tế… Tổng-giám-mục họ Ngô đâu có đói mà phải ăn cắp. Kẻ hèn này có hỏi một người bà con của Cha Thích rằng tại sao Cha Thích không lên giám-mục mà suốt đời làm linh-mục vậy. Được trả lời rằng “phải đạo cao đức trọng lắm mới được chớ không dể mô”. TGM họ Ngô đạo cao đức trọng quá sao! Như vậy mà được làm tổng-giám-mục, vậy những linh mục suốt đời không được lên chức cao hơn thì sao? Đạo đức ít hơn? Hay là “something wrong” khi phong cho Thục chức này chức kia?
Ông bà cố vấn Ngô-đình-Nhu đâu có đói mà ăn cắp 18 tỷ đôla tiền viện trợ của Mỷ để mở nhà băng tại Ý? (Our Own Worst Enemy, New York, W.W Norton & Company Inc. 1968, page 165, tác giả William J. Lederer. Dữ kiện này được ghi nơi trang 424 Chương 19 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 lần tái bản (Houston, TX Văn Hóa, năm 2000, Nguyễn-mạnh-Quang). Chưa kể các biệt thự ở Nam Phi, Âu-Châu, Nam Mỷ. Chưa hết, ông Nhu còn độc quyền bán thuốc phiện cho 2500 tiệm hút ở vùng Sài-gòn, Chợ-lớn, chưa kể các tỉnh lẻ. Thuốc phiện là thứ quốc cấm trên đất Việt-Nam vào thời đó mà các bác! (Nguyễn-mạnh-Quang, Vấn Nạn Buôn Bán Nha Phiến Ở Miền Nam Việt-Nam, chương 91. giaodiemonline.com). Tiền viện trợ Mỷ làm ấp chiến lược, ông Nhu đã bỏ túi thay vì phải trả công và vật liệu. Bắt nông dân làm không công, lấy tre vườn ra mà cống hiến cho Ấp Chiến Lược. (Nguyễn-Trân, Công và Tội, 1992, tr. 373, 374.)
Đạo cao đức trọng như thế mà còn ăn cắp nữa là … Ôi thôi lắm chuyện của loài người các bác.
Đến thời Đệ nhị Cộng-hòa, Đặng-văn-Quang, mỗi học sinh du học là một Tê (1 triệu đồng tiền hối lộ. Trần-văn-Đôn, Nhân Chứng Lịch Sử). Ông tướng Râu Dê tiền đâu mà ký một ngân phiếu hai triệu đồng cho bà vợ (lúc đó chưa ly dị) của Tướng Râu Kẽm, khi bà này lái xe Peugeot chở con đến trương biểu ngữ trước khách sạn Caravel để làm tiền ông tướng đang làm lể cưới bà vợ sau ("Tao tưỡng nó dàn xếp với nhau xong rồi chớ!" Lời tướng Râu Dê). Để biết rỏ những vị trong các bác có những hành động đạo đức hơn chúng em hay không, nếu kể ra đây thì dài lắm. Xin xem cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt-Nam Cộng-Hòa Foundation từ trang 140 đến hết trang 142, do Stephano Nguyễn-mạnh-Quang viết, Đa Nguyên phát hành năm 2004 (Stephano là tên Thánh trong Thiên-chúa-giáo đó các bác ạ!).
Chúng em chỉ ăn lẩn nhau vì chúng em đói. Bất quá có vài loài vì lòng tham mà cố ăn. Bắt được con mồi, chúng em ăn công khai, cùng nhau đều ăn, đứa nào tham lam thì bị chúng em gầm gừ vài tiếng, cũng biết ríu ríu nghe theo. Đâu có đứa nào đem con mồi bắt được đi gửi ngân hàng bên Ý, bên Pháp. Hay là nhờ đứa khác đứng tên chủ quyền đâu.
Còn các bác thì sao? Đã quyền cao chức trọng, tiền bạc ê hề, vậy mà vẫn còn có kẻ đục khoét công khố, ăn cắp của công, tài sản quốc gia (trước và sau năm 75 cũng vậy). Ăn trộm tài nguyên đất nước đem ra bán nước ngoài bỏ túi riêng, không chia cho nhau như chúng em. Bằng chứng là bao nhiêu tay cán bộ Cộng-sản ở tù, tổng-giám-mục thì bị mất phép Thông-công. Những tay có thế lực thì bắt nạt dân, sâu dân mọt nước. Ngoài ra các bác còn tìm cách hại nhau để dành chức tước địa vị. Hoặc là chụp mủ cho nhau để thằng này đè bẹp thằng kia. Các bác là loài người nên trí thông minh có thừa, mưu mô có đủ. Nước lớn xâm lăng nước nhỏ. Kẻ mạnh hiếp kẻ yếu. Các bác thường hay dùng chữ “Cá nhớn nuốt cá bé”, vậy thì ông nhớn này đè bẹp ông nhớn kia để tranh nhau một cái ghế trống thơm tho đang chờ … Chúng em vì đói mà nuốt nhau. Có bác đã là tổng-giám-mục rồi, đâu có đói mà vì muốn vòi lên chiếc Áo Đỏ (chức Hồng-Y) nên cơ đồ của dòng họ nhà bác mới ra cơ sự này!
Rồi sao nữa? Thời gian Tướng Râu Dê chỉnh lý nhóm “Năm tướng Đà-Lạt”, tôn giáo xuýt choảng nhau. Nếu mà xảy ra thì đổ máu lớn. May mà trong số các tín đồ Phật-giáo và Thiên-chúa-giáo có người sáng suốt kịp ngăn cản. Nếu không thì Tướng Râu Dê được lợi to. Đúng là “Thời lai đồ điếu thành công dị”.
Chưa hết, cũng thời gian này, Việt-Nam Quốc-Tự và Ấn-Quang lại “đồng sàng mà dị mộng” rồi. Viện-hóa-đạo (?) xây nhà dọc đường Trần-quốc-Toản (bây giờ đã bị bỏ tên, đổi tên khác rồi thì phải). Ông Thích Tâm-Giác (võ sư giám đốc võ đường Judo Quang-Trung ở Đa-Kao), đại-tá tuyên-úy Phật-giáo đem xe tăng đến ủi sập. Cùng là “con Phật” cả mà tranh nhau cái gì? Thua xa bên Catholic Việt-Nam. “Khôn ngoan đá đáp người ngoài, cùng là con Phật chớ ghè đá nhau” (ca dao lảy). Nói về sự tranh chấp trong nội bộ Phật giáo thì dài lắm.
Cũng may Phật-giáo mới chỉ tranh nhau trong nội bộ của giáo hội, chưa đến nỗi xây chùa trên đất nhà thờ như là Công-giáo đã xây nhà thờ trên đất nhà chùa của Phật-giáo.
Thí dụ như Nhà Thờ Lớn ở Hà-Nội, Vương-Cung Thánh-đường (Nhà Thờ Đức-Bà) ở Sài-gòn, Tiểu Vương-Cung Thánh-Đường ở La-vang … ngày xưa trên đó là các chùa đó các bác ạ. Nói có sách, mách có chứng. Thế này nha:
--Nhà Thờ Lớn, Nhà Chung, Tòa Khâm-sứ Hà-Nội: …“Công sứ Pháp thời đó là Bonnal đã tường thuật sự cướp đoạt chùa Báo Thiên, một đệ nhất quốc tự đời Lý Trần, đệ nhất danh lam của Hà Nội, như sau: " San bằng cái chùa và tịch thu miếng đất thật không có gì dễ bằng trong thời chiếm đóng...., tuy nhiên công bình mà nói, tôi cảm thấy ít nhiều ái ngại khi phạm một sự lạm quyền kiểu đó. Thấy rằng nên nhờ ông Tổng đốc Nguyễn-hữu-Độ. Ông ấy rất tâm đầu ý hợp với giám mục (Puginier) và muốn làm vừa lòng ngài cũng như tôi vậy". (André Masson, The Transformation of Hanoi 1873-1888, Madison, 1983, trích từ Vụ "tòa khâm": Lương Tâm Cầu Nguyện? trong phattuvietnam.net và giaodiemonline.com). France Mangin, trong bài viết về Viện Viễn-Đông Bác Cổ Pháp với các di tích lịch sử Thăng Long viết rằng: "Nhờ sự giúp đỡ của Tổng đốc Nguyễn-hữu-Độ mà những trở ngại trong việc phá dỡ ngôi chùa Báo Thiên đã đựơc giải quyết nhanh chóng...Tiếp đó lô đất (chùa Báo Thiên) đã đựơc cho không Đòan Truyền Giáo, và (công sứ) Bonnal đã hài lòng giao cho vị Giám mục (Puginier) giấy tờ chính thức xác nhận quyền sở hữu lô đất " (chùa Báo Thiên). Giám mục Puginier mở cuộc xổ số lấy tiền xây ngôi nhà thờ trên nền chùa Báo Thiên và hoàn thành ngôi nhà thờ năm 1886: Nhà Thờ Lớn Hà Nội đựơc khánh thành ngày 24-12-1886 (Nguyễn-An-Tiêm, đã trích dẫn ở trên). Đó là Nhà Thờ Lớn hiện nay tại Hà Nội, mặt tiền nhìn ra đường Lý-quốc-Sư. Kẻ hèn này đã đến viếng và chụp hình vào Mùa Thu năm 2007 trong dịp ra thăm chốn “ngàn năm văn vật”.
--Vương-Cung Thánh Đường Sàigòn: Theo tài liệu của báo L’indochine Moderne, hai tác giả Pháp Testeron và Percheron viết từ năm 1931, trang 237: “ Từ ngày Pháp chiếm Saigon, Đức Cha hành lể tại một ngôi chùa, và sửa tạm dùng làm thánh đường”. Nhà thầu từ Pháp là ông Bourard được mời qua xây cất. Lể đặt viên đá đầu tiên do Đức Cha Colombert. Khánh thành ngày 11-4-1880. Lễ xức dầu đền thánh, đặt làm Vương-Cung Thánh-Đường ngày 7 và 8 tháng 12 năm 1959, (Trích Báo Cách Mạng Quốc Gia, số 406, xuất bản ngày 6 và 7 tháng 12 năm 1959).
--Tiểu Vương Cung Thánh Đường La-Vang, Quãng-Trị: Trong sách Linh-Địa La-Vang, linh mục Xitanilao Nguyễn-văn-Ngọc cho biết: “… Vào khoảng đầu Minh-Mạng, 3 làng Thạch-Hãn, Cổ-Thành và Ba-Trừ chung nhau làm một cái chùa ở gốc cây đa Lá-Vằng … là bên Lương (thờ thần, thờ Ông Bà Tổ Tiên, không thờ tôn giáo nào, chú thích của người viết) mà bên Giáo đã dành đi đó.” Đến năm 1886 thì bị đốt, theo linh mục Giuse Nguyễn-văn-Hội giải thích: “Nhưng biết đâu chừng ý Chúa, ý Mẹ muốn ngôi nhà thờ thực sự của người Công-giáo… Chính ngôi nhà ấy mới thực sự là ngôi nhà thờ Công-giáo” (Giuse Nguyễn-văn-Hội, Tìm hiểu về Đức Mẹ La-Vang, 1994, trang 27). Ngày 13-4-1961, Hội đồng Giám-mục Miền Nam đồng ý chọn Đền thờ Đức Mẹ La-Vang làm “Đền thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiểm Đức Mẹ”. Năm 1961, (lúc đó người viết bài này đang ở Quãng-Trị) nhân dịp ông Diệm cùng ra dự lể phong “Tiểu Vương Cung Thánh Đường La-Vang” của Tòa Thánh La-Mã, ông Diệm “nguyện dâng nước Việt-Nam lên Đức Mẹ Vô Nhiễm”.
Viết đến đây, chúng em nhớ lại câu nguyện của ông Nguyễn-phước-Bảo-Thái, phần cuối trong cuốn “Nguyễn Phước Một Thời Hoàng Tộc” rằng “con nguyện dâng nước Việt-Nam lên Thiên-Chúa…” Đã chưa! Họ làm như nước Việt là của riêng ở trong túi chúng nó, muốn dâng cho ai thì dâng. Vì chúng nó nguyện như vậy thì Thiên-Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm vui lòng đón nhận chớ. Đón nhận rồi thì trao lại cho ai? Khỏi cần câu giải đáp ở đây, loài người các bác tự trả lời lấy nhé! Từ rày các bác đừng than thở rằng “mấy cha Cộng-sản lấn chiếm Miền Nam” nữa. Mà các bác hãy trách cứ những kẻ đã dâng nước Việt cho Chúa, để Chúa muốn cho ai thì cho. Đó là toàn quyền Chúa mà! Không lẻ các bác đi trách Chúa và Đức Mẹ của các bác sao? Phải không thưa các bác? Lý luận cho thật lo-ríc (logic) là như vậy đó.
Tại sao họ phải phá chùa mà xây nhà thờ như vậy: Theo lá thư đề ngày 6-5-1887 của Giám-mục Puginier gửi Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa Pháp: “J'affirme que du moment où le Tonkin deviendra Chrétien, il deviendra aussi la petite France de L' Extreme-Orient, absolument comme les iles Philippines sont une petite Espagne." Bác Bửu-Biền dịch: “Tôi khẳng định rằng ngày nào mà Bắc Kỳ (Tonkin) biến thành một xứ Thiên Chúa giáo thì nó sẽ trở thành một nước Pháp Bé Nhỏ ở Viễn Đông (Extrême - Orient), giống hệt như Phi Luât Tân (Philippines), một nước Tây Ban Nha Nhỏ.” (Nguyễn-Kha & Trần-Chung-Ngọc, Nguyễn-Trường-Tộ: Thực Chất Con Người & Di Thảo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1998), tr 126.) Do đó họ phải dẹp bỏ chùa chiền, nơi thờ Phật để lập nhà thờ Chúa. Phật phải di tản thôi, ha ha! Phật cũng phải tị nạn, “đi kinh tế mới” vì bị đuổi nhà !
Các bác hãnh diện có những Vương-Cung Thánh-Đường của loài người văn minh được xây dựng trên đất của những ngôi chùa xưa của Phật-Giáo. Đã quá! Khỏi cần ai cô-xai vay tiền mua đất như ở Mỷ.
Nước nhớn xâm lăng nước nhỏ là văn minh sao? Cái này có tệ hơn cả luật rừng của chúng em không? Thưa các bác! E còn tệ gấp trăm ngàn lần đấy. Có luật nào tệ hơn luật rừng thì cái từ đó dành cho những kẻ man rợ của loài người văn minh xảo quyệt các bác mà vẫn chưa xứng đó các bác ạ! Những kẻ đạo đức giả thường hay lợi dụng tôn giáo để mưu đồ đen tối.
Rồi trong nội bộ Thiên-chúa-giáo lại choảng nhau. Vì cố chấp về cái “trinh” của bà Maria mà khối Tin-lành và khối La-Mã gây biết bao máu lửa. Khối La-Mã thì bảo vệ cái Trinh của “Đức Mẹ Vô Nhiễm”. Khối Tin-Lành thì không tin chuyện này, không “đúc con/ making baby” thì làm sao có con được. Hay là vào thời đó đã có thụ thai nhân tạo? Hay là thụ thai bằng Remote control? Thật là khôi hài và tiếu lâm! Vì “Si” mà không chấp nhận tư tưởng khoa học của Tin-Lành nên La-Mã nổi “Sân” lên.
“Trước khi mất, vào năm 1963, trong bức thư cuối cùng, Giáo-hoàng Jean XXIII cầu xin Thượng-Đế xá tội cho Giáo hội của mình, cái trọng tội đã ngược đãi bất công dân tộc Do-Thái. Sau đó Giáo-hoàng Jean Paul II đã công nhận trách nhiệm về các tội ác của Giáo hội đối với người Do-Thái, người Hồi-giáo, người theo đạo Tin-Lành và thổ dân Da Đỏ Châu Mỷ”.
Nguyên văn Pháp ngữ: “Avant de mourir en 1963, le pape Jean XXIII avait pris l’initiative, dans une lettre posthume, de demander à Dieu de pardoner à son Église la “malédiction” dont elle avait “injustement” frappé le peuple juif. Jean Paul II, après lui, a accepté d’assumer la responsabilité des crimes commis par l’Église contre les juifs, les musulmans, les protestants et les Indiens d’Amérique.” (Tạp chí Le Nouvel Observateur. Số đặc biệt Numéro 28: La soif de Dieu. Bửu-Biền, Tôn Giáo Chiến Tranh Hòa Bình, tr. 38, 39)
Và còn nhiều sự Thú tội với Thượng-đế cũng như xin lỗi 94 nước trên thế giới về những việc tàn ác mà giáo hội La-Mã đã làm. Muốn biết rỏ, xin đọc “TÔN GIÁO CHIẾN TRANH HÒA BÌNH” của ông Bửu-Biền. Nếu kể ra đây thì nhiều lắm, đọc mãi e làm cho các bác chán ngán cái cỏi đời ô trọc này rồi tình nguyện làm thú vật với chúng em, làm cho chúng em mang tiếng lây thôi.
Nghĩ đến đây, chúng em chợt nhớ đến Tự-lực-văn-đoàn. Tự-lực-văn-đoàn được thành lập với thiện chí muốn cải tạo xã hội Việt-Nam dưới thời Pháp thuộc. Trước hết là muốn thay đổi quan niệm sống của người phụ nữ. Giáo lý Khổng Mạnh là nền tảng luân lý đạo đức của xã hội cũ. T hí dụ như Tứ Đức: Công, dung, ngôn, hạnh; Tam Tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha thì được rồi, nhưng xin chớ hiểu tiếp là ra xe theo … phu xe, phu xe … chết thì chết theo, đừng hiểu như thế nhé các bác). Đoạn này chúng em chỉ đề cập đến phụ nữ thôi đấy. Hai cái “Tòng” đầu thì Okê. Nhưng cái tòng thứ ba thì không hợp nữa rồi. Người phụ nữ hy sinh quá nhiều. Đang còn tuổi xuân hơ hớ mà phải phòng không chiếc bóng mãi thì phí quá! (chúng em đây thấy cũng tiếc thật! Đang là má đỏ hây hây mà nằm tô hô cả đêm thì uổng quá!). Rồi Tự Lực Văn Đoàn chỉ trích cả các bác ở làng xã, đình đám vì nắm xôi miếng thịt mà gây nhau thì đúng rồi. Và chỉ trích luôn cái cảnh ao tù nước đọng căn nhà thấp le te sau lủy tre xanh cũng đúng tuốt. Thế thì tài nguyên đất nước đi đâu hết? Sau bao nhiêu năm dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, đã đào tạo được bao nhiêu nhân tài để khai thác nguồn lợi của đất nước? Để đại đa số người Việt phải ở trong những căn nhà thấp le te, ao tù nước đọng? Vấn đề này thì có ai chỉ trích không? Không biết trong những tác phẩm của TLVĐ có tác phẩm nào chỉ trích giai cấp thống trị, giai cấp ăn trên ngồi trước của xã hội thời bấy giờ không nhỉ? Tôi đã hỏi nhà văn Nguyễn-tường-Thiết (út nam của văn hào Nhất-Linh) về vấn đề này. Được trả lời nguyên văn như sau:
"Vì chế độ kiểm duyệt gắt gao của thực dân và chính quyền thuộc địa hồi đó nên TLVĐ không thể nào xuất bản được một tác phẩm có nội dung nêu rỏ sự chống đối Tây và giới quan lại thống trị. Hoàng-Đạo, lý thuyết gia của nhóm, trong một tác phẩm xuất bản năm 1938 mang tên “Trước Vành Móng Ngựa” đã gián tiếp nói lên sự chống đối này qua việc ghi lại những tình cảnh bi hài của người dân nghèo khốn cùng trước tòa tiểu hình Hà-Nội. Trên báo Phong Hóa, Hoàng-Đạo (dưới bút hiệu Tứ-Ly) viết những bài đã kích châm biếm toàn bộ hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và Triều đình Huế. Năm 1936, báo Phong Hóa bị đóng cửa vì bài đã kích quan lại Hoàng-Trọng-Phu của Hoàng-Đạo, TLVĐ chỉ còn tờ Ngày Nay tiếp tục hoạt động. Tờ Ngày Nay với mục mới "Trước Vành Móng Ngựa" tiếp tục con đường của báo Phong Hóa những chuyện từ sự đã kích trực tiếp qua gián tiếp để giữ cho tờ báo được tồn tại." Tiếc thay nhà văn Hoàng-Đạo lại sớm lìa trần. Và những người như Hoàng-Đạo thì ít quá! Những tác phẩm như thế lại không nhiều và ít phổ biến, nên người dân không mấy ai thấy được chính sách ngu dân, áp chế của thực dân trên đất nhà.
Qua đoạn văn trên của nhà văn Nguyễn-tường-Thiết, các bác có nhận ra được điều gì không, thưa các bác? KHÔNG CÓ tự do ngôn luận, KHÔNG CÓ tự do tư tưởng dưới chế độ thực dân (thường được dân có dây mơ rể má, không hưởng xái thì cũng thờ một ông Thần với thực dân đồng hóa là Khối Tự Do). Nói về Nền Tự Do Tôn giáo của một đất nước: Có những kẻ phải ngậm đắng nuốt cay mà từ bỏ một nền văn hóa cổ truyền mà chính Giám-mục Chaigneau de Béhaine công nhận là một nền văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Thí dụ như thân phụ của các cụ Ngô-đình-Khả, và Nguyễn-hữu-Bài đã phải bỏ đạo Phật mà theo đạo Catholic. Vì sao? Hai người này là những nhà yêu nước, theo phong trào kháng chiến Văn Thân. Nhưng vì bị Pháp theo dỏi gây khó khăn nhiêu khê cho con cháu nên ông Khả và ông Bài phải theo Catholic để khỏi bị phiền nhiểu nữa. Dưới hai trào cộng hòa, những tay chóp bu đều là Catholic. Ai zô Catholic thì dể có việc làm . Để có hình thức bình đẳng, những chức vụ cao nhưng không thơm tho hay quan trọng thì mới để cho dân không Catholic. Ông Thiệu chỉ rửa tội sau vụ đảo chánh hụt ông Diệm, cần núp bóng áo đen. Vợ chồng ông Khiêm cũng cần núp bóng áo đen mới leo lên chức thủ tướng …. (Để biết rỏ chi tiết, xin đọc Một Thời Nhiểu Nhương 1945-1975 của cựu đại tá Trần-Đức-Minh). Sau năm 1955, một người học trò cũ của Thầy (cha tôi làm nghề dạy học rồi những người giúp việc gọi Cha tôi bằng Thầy nên chúng tôi bắt chước) tôi giải ngũ từ quân đội Pháp, gặp một người bạn. Anh bạn này rủ rê vô Catholic thì có việc ngay. “Cha chết không bằng hết ăn” mà! Thế là anh ấy trở thành con chiên ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa anh ta làm mật vụ cho “Cậu Út Trầu”. Trước khi thống nhất đất nước, người học trò cũ đó leo đến chức Trưởng Phòng Chiến Dịch Phượng Hoàng. Sau năm 75 anh ấy ra khỏi họ Đạo. Người em cọc chèo (từng là mật vụ đặc biệt của riêng và báo cáo trực tiếp với ông Diệm 2 lần/tuần, không thông qua Trần-kim-Tuyến, Nhu hay Đổ-Mậu) của ông Đoàn-Thêm trước khi về với Chúa vài tháng cũng tâm sự: “Có vay thì có trả, nhân nào thì quả đó….không có gì qua được đạo lý làm người cả”. Con người có được chọn lựa tôn giáo mà mình muốn hay không? Nếu gia đình đã là Catholic, có 3 giai đoạn quan trọng trong cuộc đời đứa bé: Rửa tội, Xưng tội, Bí Tích thêm sức, nhưng giai đoạn 3 ở Mỷ gọi là Confirmation. 1--Trẻ con mới sinh ra được vài ngày, gây nên tội lỗi gì mà rửa tội. Nó không ý thức được việc nó bị rửa. 3--Đúng ra đứa nhỏ này đến khi học hết trung học (ở Mỷ), ở các nước như Việt-Nam khi đến tuổi trưởng thành thì có 1 cái lể gọi là Confirmation. Nhưng ở Việt-Nam thì giáo hội lại dùng một từ khác, đó là Bí Tích Thêm Sức. Confirmation có nghĩa là xác định lại có nên tiếp tục theo Catholic hay không. Còn Catholic Việt-Nam (trước năm 75) thì ma nớp dùng chữ “Bí Tích Thêm Sức” có nghĩa là đương nhiên theo và tiếp tục nhồi sọ. Nếu đứa nào không tiếp tục theo thì bị những kẻ xấu nguyền rủa, trù ẻo. Đứa nào yếu gan thiếu sáng suốt không dám bỏ Catholic, do đó mà cứ mắc đầu vào cái dây thòng lọng suốt đời. Nếu ở Việt-Nam mà dùng chữ Confirmation, thì giáo hội e ngại dân chúng bỏ đạo, số giáo dân bị giảm, linh mục khó lên chức giám mục, toàn là ma nớp cả! Lúc mới qua, tôi quen gia đình ông Lượng, ông ấy là Catholic, nhưng con gái không theo, con trai theo Tin-Lành. Tôi ngạc nhiên và tự hỏi vì sao vậy. Thì ra ở Mỷ là xứ dân chủ, dùng chữ Confirmation cho giai đoạn 3, và không bị những kẻ xấu ma nớp hù dọa, nguyền rủa như ở những xứ có “quốc tịch Vatican”.
Còn đối với Phật-giáo, thực dân chỉ xem tôn giáo này là một hội đoàn mà thôi (Đạo dụ số 10 năm 1951): Hội Phật học Bắc-Việt hay Hội Phật học Nam-Việt chẳng hạn. Tình trạng này vẫn tồn tại cho đến cuộc đấu tranh của các vị sư sãi trong thời kỳ năm 1963 hội Phật-học mới chính thức trở thành Phật-giáo Việt-Nam. Mặc dù đã chính thức trở thành giáo hội Phật-giáo Việt-Nam, nhưng Roman Catholic vẫn kỳ thị Phật-giáo. Bằng chứng là trong “Phép giảng 8 ngày” của họ, có đoạn “ …Đánh tan Đạo Bụt thần”. Xin nhắc lại đoạn này ở bài trước là tôi đã hỏi kỷ một vị tu xuất từ Dòng Tên, ông ấy xác nhận là do Tòa-thánh La-Mã dạy phải giảng như thế. Tự do tôn giáo ở đâu ?
Đọc Alexandre Dumas, các bác có thấy ông ấy chỉ trích giai cấp mà họ gọi là quý tộc không? Toàn là bá-tước, công-tước, tử-tước, nam-tước, quan chánh tòa, tướng lãnh không à! Các bác sẽ thấy giai cấp gọi là quý tộc ấy mưu mô, dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt người yêu, tài sản, địa vị thì các bác nếu có lương tri, các bác có cảm thấy e thẹn cho đồng loại của các bác không? “Dĩ văn tải đạo” mà. Tiểu thuyết là phản ảnh của xã hội đương thời (của loài người các bác thôi, đừng dây dưa chúng em vào đó mà làm hoen ố cái trinh tiết của chúng em ra đấy nhá!).
Cải tạo, giáo dục xã hội không những chỉ từ lớp dân chúng nghèo nàn, thất học, mà còn phải cải tạo luôn cả giai cấp thống trị nữa kia, giai cấp này mới quan trọng. Vì sao? Loài người Da Trắng Pha-lang-sa văn minh lúc đó đang thống trị dân Da Vàng, rồi sau đó qua tay người Da Vàng các bác. Loài “Da Trắng văn minh” muốn dùng chính sách ngu dân để dể bề thống trị những dân tộc nhược tiểu. Người Da Vàng các bác kế thừa chính sách ngu dân đó cũng để dể bề cai trị theo ý đồ đen tối đó tuốt (nếu bàn về vấn đề này thì dài lắm). Vậy thì cải tạo, giáo dục hạ tầng xã hội chưa đủ. Mà giai cấp thống trị phải được giáo dục cải tạo nửa cơ.
Sách vở phát hành ra mà để cho con em học thì nội dung sách phải hợp lý, và phải đúng sự thật. Trong cuốn “Hồi ký Nguyễn-hiến-Lê”, kể rằng ông ấy viết một cuốn sách có đoạn liên quan đến sự bê bối của các Giáo-hoàng của thời Trung-cổ, đã phát hành rồi, nhưng bị cấm bán. Nhưng sau đó được bán, với điều kiện phải xóa bỏ đoạn đó đi. Sáng tác nhạc, kịch cũng phải theo chỉ đạo của Bô Thông Tin (tuy không gắt gao bằng Cộng sản như trước năm 75). Nhạc sĩ Phạm-Duy bị điện thoại gọi đến yêu cầu sáng tác nhạc ca ngợi Ngô tổng-thống, nhưng ông ấy không làm nên bị làm khó dể (dọc “Hồi ký Phạm-Duy Thời phân chia Quốc Cộng” sẽ thấy rỏ). Các bác chửi mấy cha Cộng-sản không tự do ngôn luận, thế các bác trong cái “xã hội tư bản văn minh” của các bác thì sao?
Khoảng năm 1992, một người Mỷ nhờ tôi dạy dùm chữ Việt. Anh ấy đem cuốn sách học đánh vần ra và tôi dạy tập đọc. Trong đó có đoạn: Khỉ già ra phố, đá đổ cà phê, bỏ phố về quê … Tôi giải thích ý nghĩa của câu tập đọc, người Mỷ đó lấy làm lạ quá. Khỉ già sao lại đá đổ cà phê được? Rồi lại bỏ phố về quê? Không có ý nghĩa gì thực tế cả. Cuốn sách đó xuất bản trước năm 1975, tại Sài-gòn.
Một dạo nọ, kẻ hèn này giúp một người cháu để hoàn chỉnh một cuốn sách giáo khoa Địa-lý sẽ phát hành. Nội cái cách vẽ bản đồ thôi đã mất quá nhiều thì giờ. Ước chừng muốn vẻ xong cái bản đồ đó, mất ít nhất nửa tiếng đồng hồ. Thì giờ đâu nữa mà trả lời các câu hỏi khác, sử ký và địa lý. Lúc còn học ở trung-học, ngoài những bài toán trong sách của Nguyễn-văn-Phú, toán lý hoá chữ Việt, tôi rán làm thêm toán trong sách Pháp (do các anh tôi để lại) như géomètrie, algèbre, physique, chimie của Lamirrand, Lebossé … tôi thấy các bài toán trong sách Việt đều dịch từ các sách Pháp mà ra. Mà những sách này xuất bản tại Pháp từ năm … 1946. Phương pháp giảng dạy và giải toán đã quá củ, trong khi Pháp đã thay đổi chương trình giáo dục tân tiến hơn, thực tế hơn.
Đấy, các bác thấy chưa! Hậu quả của nền giáo dục do Thực dân Da Trắng để lại cách giáo dục học sinh như vậy đó! Lối giáo dục từ chương buộc học sinh chú trọng vào hình thức quá nhiều để không có thì giờ mà lý luận. Lý luận thì sinh ra lý sự thắc mắc. Lý sự thắc mắc thì dể sinh ra bất mãn, nếu thấy cái gì không hợp lý. Không bất mãn thì dể bề cai trị. Khoảng năm 1965, lại một người cháu khác (sau này 5 năm đi tù Cộng-sản), hắn dân trường Tây, mình học trường Việt, chê rằng “học theo kiểu Việt-Nam ngu người đi”. Lúc đó tôi giận nó lắm, tự ái dân tộc mà, trong đó có cả mình nữa. Nhưng sau khi ôn lại bao nhiêu chuyện cũ, rồi thấy cuốn sách dạy đánh vần như vậy, sách địa lý thế kia, thì ra đứa cháu đó nói đúng. Vậy thì phải giáo dục cả lớp người lảnh đạo nửa mới làm cho xã hội ngóc đầu lên được. Giáo dục dân đen không chưa đủ. Phải không các bác?
Để chúng em nói tiếp về vấn đề cải tạo xã hội. Dưới hai trào của “nền cộng hòa Miền Nam”, có các “lảnh tụ sinh viên đứng lên đấu tranh cho tự do, nhân quyền…” một cách hăng say quá. Bây giờ đất nước đã có độc lập, tự do, nhân quyền chưa ạ? Nếu đã có, tại sao không ở lại mà hưởng? Nếu chưa, tại sao không ở lại mà tiếp tục đấu tranh đi? Các “lảnh tụ” này chạy ráo ra nước ngoài khi cộng-sản mới lấp ló ở ngoại ô thôi. Thì ra các bác “lảnh tụ” đấu tranh để làm gì? Xin thưa: Vào khoảng cuối thập niên sáu mươi, trong một căn nhà sàn nhỏ ven kinh Nhiêu-Lộc gần đài phát thanh Sài-gòn, một thượng nghị sĩ mảnh mai bảnh trai (không tròn lúc như bây giờ đâu, và đã qua đời vì ung thư não), mái tóc bồng bềnh coi dáng nghệ sĩ đã từ Hoa-Kỳ bay sang, gặp gở các “lảnh tụ” này với lời hứa hẹn và khuyên nhủ, đại ý rằng nên hợp tác và để tổng thống của các anh làm việc, chính quyền sẽ không quên các anh đâu….. Những cuộc đấu tranh tạm lắng dịu. Kỳ bầu cử quốc hội kế tiếp, hầu hết các “lảnh tụ” đấu tranh này đều là dân biểu. Thượng nghị sĩ này có lẻ là phù thủy đấy, khi vào thì mặc áo trắng, khi đi ra thì áo trắng hóa thành ca-rô xanh, biến những nhà đấu tranh thành các dân biểu ngoan ngoãn. Nói ngay, cũng có người đấu tranh nhưng không vì quyền lợi cá nhân.
Rồi bây giờ ở cái đất nước “được giải phóng” như thế nào? Các bác có tưởng tượng rằng 1 cây bonsai trị giá 600 triệu tiền VN không? Tương đương 40 ngàn đô đấy! (tỷ giá năm 2005). Với đồng lương cán bộ, công tư chức, hay với lợi nhuận do buôn bán đi nữa thì không đủ, hay không có gan mà mua 1 cây kiểng như thế này. Vậy mà đã có người mua. Đây là một câu chuyện khá thú vị và hơi dài, xin để cống hiến lần sau. Lúc “Giải phóng” mới zô, “mỗi gia đình một căn hộ thôi, đất thì một khoảnh vừa đủ nàm nhà ở, vừa đủ chồng zau và luôi nợn thôi lếu nà lông thôn”. (nuôi lợn thôi, nếu là nông thôn). Bây giờ ra sao? Các bác chịu khó bỏ ra cở ngàn đô ($US) thì biết ngay. Một người bạn đồng sở thích đồ cổ, có khoảng 3 mẩu (1 mẫu ở Miền Trung lúc trước chỉ 3600 m2) là đất hương hỏa, bị quy vô tội “địa chủ” và tịch thu! Mới sau 75 đây thôi. Bây giờ cũng ở cái huyện đó, 1 chủ tịch huyện có trong tay … 15 mẫu tây đất. Số đất này đứng tên chủ quyền gồm đương sự, mẹ, con dâu, cháu, chắt, chút, chít…. Trong nhà ai mà đủ tuổi thì đứng tên nốt, (ai chưa đủ tuổi thì khai cho đủ tuổi mà đứng tên luôn, (đùa một tý) cộng lại là 15 mẫu chẳn chòi! Làm cách mạng như rứa ai mà không ham. Biết vậy hồi nớ có đứa rủ, mềng đi quách, bây giờ thành “địa chủ” rồi. Sinh viên Sài-gòn Dương-văn-Đầy, hoạt động cho “bên kia” có trong tay mấy mẫu đất, giờ chết rồi, ai hưởng? Nói ngay nếu vơ đủa cả nắm thì cũng tội cho một số người.
Nãy giờ chúng em kể tội loài người các bác hơi nhiều. Không biết trong số các bác có ai bị mích lòng không. Và cũng có thể sẽ nói rằng nếu chúng em ở vào địa vị, cơ hội như các bác không biết chúng em có làm như vậy không? Hay còn tệ hơn? Các bác nói có thể đúng đấy. T uy nhiên, không phải vì lấy lý do đó mà các bác khi có cơ hội thì tha hồ bốc hốt. Một người đã từng nói: “ Thí dụ như nếu những người chỉ trích bà Nhu mà ở vào địa vị bà Nhu, liệu những người này có hành động như bà Nhu không?” Tay này nói cũng có thể đúng, mà cũng có thể sai. Hoàn cảnh chưa xảy ra thì không thể khẳng định được có hay không. Vậy thì các bác cứ tha hồ bốc hốt khi có cơ hội nhá. Và nếu câu nói trên là một chân lý để bào chửa cho mọi hành động trộm cướp, tham nhũng thì nhà văn kiêm nhà chính trị Nhất-Linh Nguyễn-tường-Tam sẽ không ngậm cười nơi chín suối, và trước khi tự vẫn đã không để lại lời trối trăng: “Đời tôi để lịch sử xử…” (đó là một số trong 72 chữ mà hai người con của Nhất-Linh đã trao cho hãng thông tấn U.P.I. làm photocopy để phổ biến trên báo Newsweek và Time ngày 8-7-1963.) Câu nói đã đi vào lịch sử! Thật là mỉa mai và đau đớn cho ông Nguyễn-tường-Tam đã hy sinh cuộc đời quý báu của mình để gióng lên tiếng chuông lịch sử nếu ổng nghe được câu “Thí dụ như nếu những người… ” này. Thiết tưởng kẻ thức giả không nên đặt câu hỏi thuộc loại này.
Đấy, văn minh của các bác các cô đấy. Không như chúng em, đói thì ăn, mệt thì ngủ, muốn sao làm vậy, đến mùa sinh nở thì làm tình (hay là đúc con, making baby). Không như các bác giả nhơn giả nghĩa. Tán tỉnh ve vãn cho đã, văn chương hoa hòe cho lắm, mồm loa mép dãi thúi rình, cuối cùng cũng đi đến mục đích .… nằm ỳ ra mà thở phì phò hổn hển thôi! Không như chúng em đây, làm xong phận sự đúc con rồi thì vẫn vui đùa chạy nhảy! Ai đạo đức hơn ai? Loài người các bác thì chỉ tổ đạo đức giả thôi. Trước mặt với nhau thì làm ra điều nhân nghĩa, sau lưng thì “chửi nhau như chó”. Nhưng mà các bác có hiểu tiếng của chúng em đâu mà bảo là chửi nhau như chó? Hay là trong số các bác có kẻ tâm địa lòng lang dạ sói, tuy hình hài là loài người văn minh?
Chúng em ăn nhau vì nhu cầu tồn tại là luật của thiên nhiên. Đức Chúa Trời sinh các bác và các em đều có mạng sống riêng của nhau. Nhân danh gì mà các bác giết chúng em để nuôi thân các bác? Lấy 1 thí dụ: Nếu các bác mua sắm một món gì để chưng chơi, con cái các bác đem đập phá, các bác có buồn lòng không? Vậy thì Chúa sinh ra chúng em, các bác đem giết đi, Chúa có buồn lòng không? Còn các bác có kẻ vui đùa trên sự đau khổ của chúng em: Săn bắn, hoặc câu cá để giải trí lại là một điều dã man hơn. Câu cá để tìm cảm giác hồi hộp, (hay là luyện thiền) lường gạt chúng em bằng con mồi giả, giựt chúng em lên, chưa vừa ý, bỏ xuống, mai mốt giựt nữa. Nếu có ai móc vào họng các bác mà giựt lên giựt xuống cho các bác giãy dụa đành đạch, rồi bỏ xuống, rồi móc nữa, các bác lại giãy đành đạch nữa, các bác có chịu được không?
Vậy thì từ rày về sau, nếu trong các bác có ai làm gì mà xâm phạm đến nhau, xin đừng dùng chữ “Luật Rừng” để chửi nhau. Phải dùng chữ gì đầy đủ ý nghĩa thâm sâu của những kẻ lưu manh lường gạt, điêu ngoa dối trá, đạo đức giả vờ, tàn bạo khát máu, tham lam vô độ, đê tiện đốn mạt để mà cứ gọi nhau thì nó xứng đáng hơn chữ “Luật Rừng” các bác ạ! “Luật Rừng”, những chữ này so ra vẫn còn nhẹ hơn tội lỗi của các bác xa ! Thế nhé ! Cứ thế mà tìm một cụm chữ cho thích hợp với mức độ của các bác nhé !
Thôi, chúng em kiếu các bác, chúng em về. “Chó tháng ba, gà tháng bảy”. Bây giờ đã vào tháng ba âm lịch rồi, đang thời vụ. Chúng em phải về lo làm tròn phận sự đúc con “để đạt chỉ tiêu cho kế hoạch năm mới” mà chủ nhà đề ra. Nếu không đạt chỉ tiêu thì sẽ bị đưa lên “vùng kinh tế mới”, bỏ bu! Các bác đáng lẻ ra phải sinh con đẻ cái cho nhiều “để thờ phượng Chúa”, vì loài người đựơc sinh ra là để “thờ phượng và thương yêu Đức Chúa Trời hơn cả” mà! (Điều thứ nhất trong 10 điều răn mà Đức Chúa Trời đã truyền đạt cho Môi-Se (Moiise) trên núi Sinaiis, Kinh Cựu-Ước, (làm sao kiểm chứng được có Chúa nói điều này hay không?). Thì ra các bác ma nớp quá! Đúc thì có đúc, “đêm bảy ngày ba, vào ra chưa kể”, nhưng đúc hoài mà con cái đâu chẳng thấy. Té ra các bác lợi dụng sự giao phó của Chúa để chỉ hưởng lạc thôi, không làm tròn phận sự. Nào là văn minh tiến bộ, nào là “mỗi gia đình chỉ hai con là đạt chỉ tiêu”. Và “nếu mọi người ai cũng đi tu cả, thì lấy ai thờ phượng Chúa, lấy ai thờ phượng Phật”, như bác Hưng đã nói. Nhưng bác Hưng quên rằng Phật không bao giờ bắt ai thờ phượng ông ấy cả. Sao lại bắt nhỉ? Thờ phượng, biết ơn, kính mến là vấn đề của lương tâm, của tình cảm. Một khi mỗi ai đó đượ
avatar
Le Thuy 03/03/2010 03:58:04
Phần tiếp theo của bài trên:

Thôi xin chúc loài người văn minh các bác vui vẻ. Và nhớ đừng đạo đức giả, ma lanh, xảo quyệt, tàn bạo nửa rồi đổ cho là “Luật Rừng” mà chúng em mang tiếng nghe các bác.
Hoa-Kỳ vào Xuân Mậu Tý, 2008
Sơn dã bần phu cẩn bái.
Nếu có thì giờ, xin các bác hãy đọc thêm:
- Kinh thánh phần Cựu ước.
- Will Durant, sử gia thế giới: The story of Civilisation, Lịch Sử Văn minh Ấn-Độ, Bài học lịch sử, Nguyễn-hiến-Lê dịch.
-World Book, Encyclopedia volume A, Volume C, Volume NO.
- Lloyd M. Graham: Deceptions and Myths of the Bible, Secausus, N.J: Carol Publishing Group, 1999
- Stéphano Nguyễn-mạnh-Quang, Master’s Degree in Education, Ohio University 1969, USA: Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt-Nam Cộng-Hòa Foundation, Thực Chất Của Giáo-Hội La-Mã, Việt-Nam Cộng-Hòa Toàn Thư 1954-1963, ấn bản 2000, a poem for my children, Vấn Nạn Buôn Bán Nha Phiến Ở Miền Nam Việt-Nam, chương 91, giaodiemonline.com.
- Nguyễn-hiến-Lê: Hồi ký Nguyễn-hiến-Lê, Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu.
-Charlie Nguyễn: Công-Giáo Bên Bờ Vực Thẳm.
-Bạch hạc Trần-Đức-Minh, cựu đại-tá quân-lực VNCH, chỉ huy tưởng trường Bộ Binh Thủ-Đức trước năm 75: Một Thời Nhiễu Nhương 1945-1975.
-Trần-Đình-Sơn: Tãn mạn Phú-Xuân II.
-W.W. Howitt: Colonisationi Christianity (Londre 1938)
-René Dumont: L’Afric du noire est mal partie…Ed du Seuil, 1652.
-Alan Paton: Pleure oh Pays Bien Aimé, Ed. Albin Michel, 1950/Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu, Nguyễn-hiến-Lê dịch.
-Karnow Stanley: Vietnam A History, Ed. Viking Press, Newyork, 1983.
-Michael Maclear: Vietnam A Complete Photographic History, 1981.
-Giáo-sĩ Peter de Rosa: Vicars of Christ, New York: Crown Publishers, Inc., 1988, hay Dublin, Ireland: Pooleg Press Ltd., 2000
-France Mangin: Viện Viễn-Đông Bác Cổ Pháp.
-Linh-mục Trần-Tam-Tỉnh: Thập Giá Và Lưỡi Gươm.
-Linh mục Giuse Nguyễn-văn-Hội: Tìm hiểu về Đức Mẹ La-Vang, 1994,
-Nguyễn phan Quang: Lịch sử Việt-Nam 1427-1858.
-Alain Forrest & Yoshiharu Tsuboi: Catholicisme et la sociétes Asiatiques.
-Bùi-Kha và Trần-Chung-Ngọc: Linh Mục Trần-Lục, Thực Chất Con Người & Sự Nghiệp (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999).
-Trần-Chung-Ngọc: Công-Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999).
-Nguyễn-Kha & Trần-Chung-Ngọc: Nguyễn-Trường-Tộ, Thực Chất Con Người & Di Thảo (Garden Grove, CA, Giao Điểm, 1998).
-Trần-văn-Đôn: Nhân Chứng Lịch Sử.
-Nguyễn-chánh-Thi: Việt-Nam Một Trời Tâm Sự.
-Hoàng-Ngọc-Thanh & Thân-thị-Nhân-Đức: Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm.
- William J. Lederer: Our Own Worst Enemy, New York, W.W Norton & Company Inc. 1968.
-André Masson: The Transformation of Hanoi 1873-1888, Madison, 1983.
-Testeron et Percheron: L’indochine Moderne, 1931.
-Alexandre Dumas: Le Conte de Mont Cristo.
-Vương-Hồng-Sển: Sài-gòn năm xưa.
-Nguyễn-tường-Thiết: Nhất-Linh Cha Tôi, Văn Mới, 2006.
-Nguyễn-Trân: Công và Tội, 1992.
-Bửu-Biền, cựu giáo sư toán trung-học Miền Nam Việt-Nam, bào đệ Hoàng thân Bửu-Lộc, cựu Thủ-tướng thời Vua Bảo-Đại: Tôn Giáo Chiến Tranh Hòa Bình, Ông Trời trong thi ca Việt-Nam (sắp phát hành).
avatar
Chân Khánh/ Thiềng Đức 25/04/2011 05:09:58
-Xin góp ý ngắn gọn...
Văn hóa Pháp đã rao giảng: La raison du plus fort est toujour la meilleure. Thực dân Pháp và tay sai đã thực hiện đúng sách và bài bản của chúng. Lịch sử để lại nhiều vụ việc, phải chờ sự phán xét công bằng của Luật nhân quả thôi...
avatar
Chân Khánh/ Thiềng Đức 25/04/2011 19:28:31
-Tổ tiên ta cũng đã nói: "Mạnh được, yếu thua",... Cái lý của kẻ mạnh thì bao giờ cũng tất thắng...
Trong xã hội loài người, trong thế giới động vật, dường như đây cũng là quy luật, mọi lúc mọi nơi...
Không ai giàu 3 họ, không ai khó 3 đời... cũng là quy luật nhãn tiền...
Là Phật tử, chúng ta tin ở Luật nhân quả, và quyết sống theo 5 đạo đức (ngũ giới)...
Xin sửa lại câu: "La raison du phus fort est toujours la meilleure".
Sorry... Thanks...
avatar
Chân Khánh/Thiềng Đức 02/01/2012 05:32:43
-Xin bổ sung...

Lịch sử ngàn năm, trăm năm…*

Còn đó chuyện đau bọn rước voi
Đời Trần có Ích Tắc buôn nòi
Nguyên-Mông xâm lược… y hàng giặc
Vở mộng cầu vinh… nhục quá trời!

Lê Chiêu Thống cõng rắn nhà Thanh
Thừa thắng xông lên gây tội tình
Nguyễn Huệ ra tay… y trốn nhủi
Theo Tàu chết nhục ở Yên Kinh

Nguyễn Ánh còn đây chuyện rước Pháp
Giày mồ mả tổ suốt trăm năm
Điện Biên một trận tiêu voi dữ
Bán nước lòi ra… bọn chết bầm…

- 28/12/2011
* đã được đánh giá.
avatar
DO THU KHOA 06/04/2012 04:16:03
ngoi co tu lich su giua co do Hn da bi quan Tong Toc goc ca to ho Nguyen huu Do da ban dung ko van tu cho Giam muc Tay de xay dung nha tho lon truoc day;ai ma ko biet;nay thien nghi la cach gi xin phep nha nuoc cho xay 1 cai thach bi ghi vai lai net can ban day la chua Phat la 1 trong An Nam tu dai khi da bi giai toa tu nam nao ????do Tong Doc NGUYEN HUU DO ban cho giao si Tay de lap nha tho ;co nhu vay thoi de hau the biet ma suy co ngiem kim;neu ko thi vai chuc nam sao hau the se coi nha tho lon nay la dat co bo dien tho thu ben ROMA [ vai hang nay goi TT NHUT TU neu duoc Ngai xem thi la 1 phuoc bao cho hau the lich su mat chua soi chung thien co]
avatar
DO THU KHOA 06/04/2012 04:21:05
Toan coi tren dat VN men yeu;neu dau dau ma thay nha tho TCG moc o giua thi thanh thi dich thi la bon xam luoc;bon tay sai va may ong giao si nuong theo lang khoi sung ban dan bay chua chien do nat tieu dieu ;roi lap tuc tao dung ngay nha tho do y cua chua cha va Me thieng lieng [ko co giao hp ma lai co con ngo thiet the gian hy huu ]
avatar
DO THU KHOA/USA 01/06/2012 06:36:34
toàn cỏi VN hầu như các nhà thờ công giáo xưa đều do xăm chiếm phá hoại chùa Phật từ khi thất thủ kinh thành huế;vua Hàm nghi xuất bôn;trong nước loạn lạc chủ quyền vương triều Nguyễn ko còn nên bọn giặc Tây xăm lược theo sau lưng là phường giáo sỉ tự do thao túng trong đất nước ko có chủ quyền sẳn có chùa xưa xây cất trên đồi đất cao là phá bỏ dựng nhà thờ nhưng chủ qyền lại thuộc bên Roma !!!nghỉ lại cũng ngộ;bên tòa thánh học thói Đơn hùng Tín đời đường ăn cướp ngồi ko chia của làm sạch mấy ngôi chùa cổ của các vị Tổ sư PG khổ công tạo dựng;vậy mà nay vẩn còn kẻ ngu si mổi mổi đều thuộc đất của tòa thánh La Mã cầm chủ quyền giấy đỏ;theo thiển ý chúng tôi làm sao chánh phủ TW và địa phương phối hợp để làm những bia đá ghi nơi kỷ niệm mấy ngôi chùa đã bị đột tử làm nhà thờ ngỏ hầu mai hậu cho con cháu nhỏ biết nơi có ngôi quốc tự lịch sử;chốn khác là ngôi phạm vỏ huy hoàng tráng lệ bị xóa sổ bởi kinh thành thất thủ khắp mọi nơi
tổng số: 8 | đang hiển thị: 1 - 8

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

3.50

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập