Trang chủ | PG Việt Nam | Con người | Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Thiện Minh (1920 - 1992)

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Thiện Minh (1920 - 1992)

Đã đọc: 4781           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Để tưởng niệm ngày Viên tịch lần thứ 18 cố Hòa thượng Thích Thiện Minh. - Nguyên Thành viên Hội đồng Trị sự Trung Ương GHPGVN. - Nguyên Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp. - Nguyên Trụ trì Linh Quang Tự, Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Một trong những vị Hòa thượng Luật sư cuối thế kỷ 20, của Phật giáo tỉnh Đồng Tháp.

                Tiểu sử Hòa thượng

                THÍCH THIỆN MINH

                  (1920 – 1992)

Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 40, pháp húy Thục Hải, hiệu Thiện Minh. Tục danh Phạm Văn Giáo, sinh năm Canh Thân (1920) niên hiệu Khải Định năm thứ 5, tại tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

 

Thân phụ là cụ ông Phạm Văn Khuê, hiền mẫu là cụ bà Lê Thị Tỵ. Nhị vị Phật gia đều phúc hậu, kính tin Tam Bảo. Ngài là con thứ 3 trong gia đình 7 anh chị em.

 

Năm Giáp Tuất (1934) niên hiệu Bảo Đại năm thứ 10, vì hoàn cảnh loạn lạc bởi vùng sôi đậu chiến tranh, nên Ngài đành phải nghỉ học để phụ giúp việc gia đình và thủ hiếu với song thân.

 

Đến tuổi trưởng thành, Ngài vâng lời phụ mẫu lập gia thất để có người nối dõi tông đường, sau khi ổn định gia đình Ngài tìm đến Sư Viên  Phước (ông Đạo Ba) để học Đông Y Nam dược và từ đó say mê trong nghề để phục vụ từ thiện xã hội qua ngành Y tế.

 

Năm Nhâm Thìn (1952), nhận thức được lý tưởng cuộc sống, thấu triệt lẽ sinh diệt vô thường, Ngài hiểu rằng chỉ có con đường Phật pháp mới thật sự giải quyết vấn đề sinh tử luân hồi, chấm dứt mọi khổ đau, đem lại sự an lạc hạnh phúc hiện tại, Ngài quyết chí ly trần thoát tục. Ngài được Hòa thượng Thích Quảng Hiếu hiệu Thiện Tồn nhận làm đệ tử, truyền Tam quy y, Ngũ giới, ban cho pháp danh Thục Hải hiệu Thiện Minh,  trở thành tịnh nhân tập tu hạnh xuất gia,  và được làm thị giả hầu thầy Bổn sư tại Đức Long Cổ Tự nơi quê nhà. Từ đây :

 

Thân vun bồi nơi đất Bồ Đề;

Tâm vững trụ tại  rừng Bát Nhã. 

 

Năm Ất Mùi (1955), sau ba năm trôi giồi giới hạnh trong thiền môn, trở thành trang tử xuất gia, xứng danh hàng Thích tử Như Lai. Ngài được chính thức thọ giới Sa Di tại Bổn tự Đức Long do Hòa thượng Bổn sư Thích Thiện Tồn đương vi Đàn đầu Hòa thượng, từ đây Ngài tinh chuyên học giới luật và nổi tiếng gìn phạm hạnh, giữ oai nghi.

 

Năm Nhâm Dần (1962) Ngài được Bổn sư Hòa thượng cho phép đăng đàn thọ cụ túc giới tại Sắc tứ Hội Long cổ tự, tỉnh Long An, do lão sư Thích Hoằng Đức đương vi Đàn đầu Hòa thượng.

Thanh tịnh pháp y thọ nhận, hạnh nguyện Bồ tát thừa hành, Ngài chuyên tinh giới luật, lấy Ba la đề mộc xoa làm thọ mạng, kim chỉ nam cho  cuộc sống tu hành.

 

Để tăng trưởng đạo lực và vun bồi phước huệ, nhị nghiêm thân, thừa hành Phật sự. Ngài đến An cư nhập chúng tu học các nơi như : Chùa Giác Long, nay thuộc xã Tân Khánh Đông, Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Chùa Pháp Hội, Linh Sơn Cổ Tự , Chùa Giác Sanh, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa Hội Long, Chùa Hoằng Khai, Chùa Hàn Lâm, Chùa Hưng Phú, tỉnh Long An . . . Kiết Hạ nơi đâu, lúc nào Ngài luôn khiêm cung, giữ lục hòa kỉnh pháp, giới đức kiêm ưu trang nghiêm đạo hành, nên được pháp lữ kính mến, bậc Tôn túc tin yêu.

 

Sau bao năm đó đây tu học, tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức lãnh đạo, an chúng. Ngài dừng chân trụ trì Linh Quang tự, nay thuộc Phường  An Hòa, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tiếp tăng độ chúng và mở phòng Đông Y Nam dược từ thiện, chăm sóc sức khỏe miễn phí cho đồng bào địa phương. Góp phần duy trì và phát triển nền Y học dân tộc cổ truyền. Đối với Phật sự Giáo hội;  Ngài lần lược được cung thỉnh đảm trách các chức vụ trong Tỉnh hội Phật giáo như :

 

Năm Quý Sửu (1973) Ngài đảm trách  chức vụ đặc ủy Tăng sự GHPTN tỉnh Sa Đéc.

 

Năm Nhâm Tuất (1982) sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, hòa nhịp trong giai đoạn hòa bình độc lập, Bắc Nam sum họp một nhà, Phật giáo nước ta một lần nữa tổ chức đại hội Phật giáo toàn quốc tại thủ đô Hà Nội vào mùa Đông năm Tân Dậu (1981), chuyển đổi danh xưng Giáo Hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) và khi tỉnh nhà chánh thức thành lập tỉnh hội Phật Giáo Đồng Tháp nhiệm kỳ I (1982 – 1987) Ngài được cung thỉnh vào Ban Trị sự tỉnh với chức vụ Ủy viên Giáo dục Tăng Ni.

Trường Hạ an cư năm này tại Phước Hưng cổ tự Ngài được cung thỉnh chức Thiền chủ và sau đó Đàn giới truyền Phương trượng, Ngài đương vi Giáo thọ An Xà Lê.

 

Năm Quý Hợi (1983) Ngài trùng tu Đức Long cổ tự, xã Tân Dương, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Trùng tu Chùa Linh Phước xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

 

Năm Bính Dần (1986) bắt đầu trùng tu và phát triển Bổn tự Linh Quang cho đến cuối đời.

 

Năm Đinh Mão (1987) Nhiệm kỳ II Ban Trị sự,  đại hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp  cung thỉnh Ngài lên ngôi Phó ban Trị sự kiêm Ủy viên hướng dẫn Nam Nữ cư sĩ Phật tử.

 

Năm Mậu Thìn (1988) Đại giới đàn Vĩnh Đạt do Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp tổ chức tại Phước Hưng cổ tự, Thị xã Sa Đéc. Ngài được cung thỉnh đương vi Yết Ma A Xà Lê tuyền giới cho hơn 200 giới tử.

 

Năm Canh Ngọ (1990) sau khi Hòa thượng Thích Huệ Phát, Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội viên tịch, Ngài lên đảm trách Quyền Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp.

 

Năm Tân Mùi (1991) Đại hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ II, Ngài được suy tôn ngôi Trưởng Ban Trị sự. Mùa Hạ an cư năm này tổ chức tại Linh Quang tự do Ngài làm chủ Hương, Thượng tọa Thích Minh Tấn đương vi Thiền chủ, cho hàng trăm chư tăng tu học. Mùa Thu năm này Đại giới đàn Vĩnh Đạt tổ chức tại Phước Hưng cổ tự vào dịp lễ húy kỵ cố đại lão Hòa thượng Thích Vĩnh Đạt, nguyên Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Đồng Tháp nhiệm kỳ I, vào ngày rằm tháng 9 Âl (22.10.1991), Ngài được cung thỉnh đương vi Đàn đầu Hòa thượng truyền giới cho hơn 200 giới tử Tăng Ni.

 

Với trách nhiệm  Trưởng Thủy thủ  lèo lái con thuyền Phật giáo tỉnh Đồng Tháp, Ngài cố gắn hết sức mình chuyên tải những chất liệu xúc tác, để tiếp tục xây dựng nền tảng cho tương lai ngôi nhà Phật giáo như những Phật sự :

 

Quan tâm khuyến học đối với Tăng Ni Phật tử,  nâng cao trình độ để phục vụ Đạo pháp – Dân tộc. Với nguyện vọng đó; Ngài chỉ đạo cho các Ban đại diện Huyện, Thị trong tỉnh cố gắng nhân rộng các lớp giáo lý, mở đạo tràng truyền Bát Quan trai cho Phật tử tại gia tu một ngày an lạc trong môi trường xuất gia, khuyến khích Phật tử thọ Bồ tát giới tại gia nhằm phát huy Đại thừa Bồ tát đạo, đặt biệt là trước khi mở trường Cơ bản Phật học thì Ngài đích thân góp phần cùng Tổ đình Phước Hưng lo xây dựng Tăng xá và tự tay Ngài làm dưa muối để cải thiện bữa ăn cho Tăng sinh suốt một khóa 4 năm. Ngài không thích ăn sang mặc đẹp; trong  cuộc sống thường nhật Ngài luôn thể hiện Tri túc để trang nghiêm cho phong cách an lạc thanh nhàn, ít nói để thanh tịnh tâm niệm Phật, thật xứng danh là bậc “ĐẠO HẠNH KHẢ PHONG” , Ngài thường dự vào hàng Tam sư, Thất chứng truyền trao giới pháp, làm Chứng minh đạo sư, Tuyên Luật sư, Thiền chủ tại các khóa An cư kiết  Hạ trong và ngoài tỉnh.

 

Đối với xã hội, Ngài là bậc mô phạm mẫu mực để tiêu biểu cho một công dân tốt, khiến giới quan chức địa phương vô cùng kính mến và có một số xin quy y làm đệ tử. Ngài vận dụng Y phương minh, hương khởi đại Bi Tâm, dùng Từ nguyện lực, chia sẻ với tha nhân. Xem mạch bốc thuốc, châm cứu là điều chỉnh sinh lý cho bệnh nhân tứ đại điều hòa, thân khỏe mạnh,  dùng 37 phẩm Trợ Đạo và pháp môn Tịnh độ để giúp mọi người tự trị liệu, chuyển hóa nội tâm bởi nghiệp chướng ưu phiền, biến khí tam độc tham, sân, si thành hương Giới, Định Huệ. (Bút tích Ngài ghi : “Suốt chín năm khổ hạnh, kết duyên pháp lữ với Sư Viên Phước học Đông Y Nam Dược chẳng kể gian lao, không nài sự  khó nhọc . . . xuống ghe thả trôi theo dòng Sa Giang đó đây trên sông nước, bềnh bồng cùng Lục bình trôi giạt khắp nơi; khi xuống Nha Mân, lúc về Sa Đéc, rồi đến Câu Lân, sau đó về mở phòng thuốc tại Bổn tự Linh Quang và chùa Giác Long, nay thuộc xã Tân Khánh Đông, thị xã Sa Đéc . . “ . Lúc rảnh thì quảy đãy đi khắp chốn, để tìm kiếm Nam dược như các nơi : Vùng bảy núi Châu Đốc; huyện Long Thành, núi Chứa Chan, huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; Hòn Tre, Kiên Giang; Núi Thị Vải, Núi Dinh, Núi Minh Đạm, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu . . .

 

Đương thời Ngài nổi tiếng Phạm hạnh thanh tịnh, trì Giới tinh nghiêm. Suốt đời Ngài dùng thân tứ đại phụng đạo giúp đời, bồi công tích đức với lập trường và quan niệm :“Thanh tịnh là đạo thứ nhất, giải thoát là pháp tối thượng, trí tuệ là sự nghiệp duy nhất của người xuất gia thừa hành Bồ tát đạo”.

 

Ngài còn là tấm gương sáng về đức hiếu học, khi tuổi cao đức trọng, sức khỏe suy yếu mà Ngài vẫn khiêm cung để hạ mình ôn nghe lại giáo lý, dù đó chỉ là một tân Tỳ Kheo trẻ, một chú Sa Di hay chính học trò của mình đang tập thuyết pháp. Ngài đã hiện thân trí tuệ và dùng trí tuệ để hiển thị công hạnh giới đức bậc thầy để giáo dục hậu lai.

 

Như bông hoa tươi đẹp,

Có sắc lại thêm hương,

Việc ít lợi khéo làm;

Khéo mang đến kết quả.

 

Duyên Ta Bà quả mãn, thuận thế vô thường, Ngài hiện thân chút bệnh duyên, di chúc người kế thừa sự nghiệp trụ trì Linh quang Tự, cho đệ tử Thích Thiện Hảo; bổ nhiệm trụ trì Đức Long cổ Tự cho đệ tử Thích nữ Như Bích và cảnh sách môn đồ pháp quyến xong, Ngài an nhiên thu thần thị tịch tại Bổn tự Linh Quang, vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 14 tháng 03 năm Nhâm Thân (16-04-1992).

Hưởng thọ 73 Xuân. Giới lạp 31 Hạ.

 

Nhục thân Ngài được an trí trong Tháp khuôn viên Bổn tự.

 

Thích Vân Phong kính biên tập

 

(- Tham khảo với sư huynh Thích Thiện Hảo, tư liệu chùa Linh quang – Thân thế tục gia thì Hòa thượng là chú họ bên bà nội Tổ của Thích Vân Phong)

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập