Trang chủ PG Việt Nam Con người Tiểu sử Thiền sư Thích Trí Thiền (1882-1943)

Tiểu sử Thiền sư Thích Trí Thiền (1882-1943)

Đã đọc: 1752           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ, cung kính vị thiền sư đã dâng hiến trọn đời mình cho Đạo pháp và Dân tộc. Thành tâm tưởng niệm lần thứ 71, ngày viên tịch đại lão Thiền sư Thích Trí Thiền. Chúng ta cùng nhau ôn lại hành trạng, trang sử vàng một trong những vị tiền bối, xây dựng nền tảng cho cuộc chấn hưng Phật giáo và phong trào Phật giáo cứu quốc. Ngài Là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo con đường hộ quốc an dân, góp phần tốt đạo đẹp đời.

 

Tiểu sử

Thiền sư Thích Trí Thiền

(1882-1943)

 

Thiền sư thuộc dòng thiền Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40, pháp húy Hồng Nguyện hiệu Trí Thiền, thế danh Nguyễn Văn Đồng, sinh năm Nhâm Ngọ (1882) niên hiệu Tự Đức năm thứ 36, tại làng Vĩnh Thanh Vân, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá, (nay Phường Vĩnh Thanh Vân, Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang), trong một gia đình nông dân. Thân phụ là Cụ Nguyễn Văn Trinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Trường. Song thân của Ngài nguyên quán xứ Cái Dầu, ven Sông Hậu, Làng Định An, Tổng An Phú, huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang (nay xã Định An, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Hai Cụ đến đây lập nghiệp, sinh năm người con. Ngài là con út.

Năm Nhâm Tý (1912), niên hiệu Thành Thái năm thứ 6, vừa tròn 30 tuổi xuân, chí nguyện thoát trần nung nấu, Bồ đề tâm hoa khai phát, để làm tiền đề cho Bát Nhã đơm bông. Thật là “Đàm hoa nhất hiện” khi những sợi tóc não phiền rơi rụng theo từng nhát kéo đong đưa, thì đại nguyện cũng tùy thời ứng hiện, Ngài đến Thập Phương Cổ Tự, Rạch Giá, đảnh lễ lão Hòa thượng Như Đức hiệu Vĩnh Thùy xin thế phát xuất gia. Từ đây:

Thân vun bồi nơi đất Bồ đề;

Tâm vững trụ tại rừng Bát nhã.

 

 Sau đó, Ngài thọ Sa di giới tại Giới Đàn Minh Thông-Hải Huệ, Tổ đình Khải Phước Nguyên trong năm này, Ngài xin phép Hòa thượng Bổn sư được Y chỉ học Thiền với lão Thiền sư Như Khả hiệu Chân Truyền, Khải Phước Nguyên Tự, Lấp Vò (nay huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).

Khi đã trở thành trang Thích tử, Ngài vân du hành cước tham cứu yếu chỉ thiền môn. Với trí tuệ và tư chất thông minh, Ngài nhẹ nhàng lướt sóng trên biển pháp mênh mông, dạo bước phong ba trong rừng thiền kinh tạng, ban ngày lao động và ban đêm bút nghiên đèn sách, dồi mài giáo điển, tinh tấn tu tập.

Do đó Ngài đã được Hòa thượng Bổn sư và Y Chỉ sư cùng các bậc tôn túc kỳ lão, tâm đắc và giáo huấn tận tình. Ngoài sở học uyên thâm, Ngài còn có phong thái nhanh nhẹn mà điềm đạm, tính khí hòa nhã thanh thoát, trang nghiêm phúc tướng, chí khí trượng phu, xứng danh xuất trần thượng sĩ.

Nhờ bản tính cương trực, chí hướng đại hùng lực, chẳng bao lâu đạo nghiệp của Ngài tỏa rạng sáng ngời. Hàng năm cứ đến mùa sen nở,  Ngài đó đây cùng đại chúng Kiết Hạ An Cư, trao dồi giới đức, khắp các nơi, Đạo tràng nào cũng có dấu chân hoằng hóa của Ngài.

Ngoài thời gian Kiết hạ An Cư, mỗi năm Ngài thường vào tịnh thất cấm túc tham thiền, khổ hạnh công phu. Tín tâm kiên cố, đạo phong nghiêm mật, hạnh hóa tha cảm ân đức, nhiều người ngưỡng mộ Phật Pháp đến xin quy y thọ giới với Ngài rất đông.

Năm Quý Sửu (1913), niên hiệu Thành Thái năm thứ 7, do kính trọng đạo hạnh của Ngài, nữ Phật tử Dương Thị Oán thành tâm cung thỉnh Ngài Trụ trì ngôi chùa cổ, được vua Gia Long  Sắc Tứ Tam Bảo Tự, niên hiệu Gia Long năm thứ hai (Quý Hợi-1803).

Hai năm sau Ngài cất bước vân du đó đây hóa duyên bổn đạo. Cảm kích đức độ của Ngài, bá tánh thập phương kẻ công người của, tích góp công đức phát tâm đại trùng tu ngôi Cổ tự, từ mái tranh vách lá thành một ngôi Phạm vũ huy hoàng.

Vào mùa xuân năm Đinh Tỵ (1917) niên hiệu Khải Định năm thứ 2, Chùa tổ chức lễ Lạc thành, hoàn tất công trình trùng tu ngôi Già Lam. Tấm biển gỗ quý hiệu Sắc Tứ Tam Bảo Tự, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng do Thiền sư Như Khả hiệu Chân Truyền (1858-1919), Trụ trì Khải Phước Nguyên Tự ban tặng, nay vẫn còn tồn tại nơi Chính điện.

Năm Bính Thìn (1916) niên hiệu Duy Tân năm cuối, Ngài được đăng đàn thọ Tỳ kheo, Bồ tát giới tại giới đàn chùa Giác Hải, Phú Lâm, Gia Định (nay là Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh).

Năm Kỷ Mùi (1919), niên hiệu Khải Định năm thứ 4, Ngài sắp xếp về Tổ đình Khải Phước Nguyên để thọ tang Y chỉ sư viên tịch (Thiền sư Như Khả hiệu Chân Truyền viên tịch ngày 25/10/AL (nhằm 17.12.1919).

Năm Canh Thân (1920), niên hiệu Khải Định năm thứ 5,  đại lão Hòa thượng Bổn sư Như Đức hiệu Vĩnh Thùy viên tịch vào ngày 6.4 AL (nhằm 23.5.1920) tại Tổ đình Sắc tứ Thập Phương Cổ Tự, Ngài phải lo tròn hiếu sự, tam niên thọ tang.

Năm Nhâm Tuất (1922) niên hiệu Khải Định năm thứ 7, nhân dịp lễ Đại tường mãn tang cố đại lão Hòa thượng Bổn sư Như Đức hiệu Vĩnh Thùy, Ngài tổ chức Đại giới đàn tại Bổn tự Sắc tứ Tam Bảo, do Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng, Hòa thượng Quang Trí, Phước Ân Tự, làm Chánh Chủ kỳ, Thiền sư Như Nhãn hiệu Từ Phong, Giác Hải Tự chứng minh, Luật sư Chánh Quả, Kim Huê Tự, đương vi Giáo thọ A Xà lê.

 

Bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, phát huy đạo pháp, báo đáp Tứ trọng ân, Ngài phát động phong trào học Phật pháp. Trên diễn đàn, ngôn ngữ thuyết pháp giản dị mà sâu sắc. Ngài biết sử dụng lối kiến giải phù hợp với khoa học, phân tích những tập tục mê tín ngoại đạo lẫn lộn trong chốn Thiền môn. Ngài nói rõ tác dụng của Chánh tín, giúp chúng ta phục hồi đức tự chủ, niềm tự tin, đem lại nguồn an lạc hạnh phúc cho mình và mọi người. Tai hại của mê tín là làm bào mòn đức tự chủ, niềm tự tin, gây bất an trong cuộc sống, tăng thêm nhiều lo sợ. Do đó, giới trí thức cùng nhau đến cầu học Phật pháp với Ngài. Còn giới bình dân, Ngài tùy bệnh cho thuốc, hướng dẫn họ niệm Phật cầu vãng sinh:

 

Đã biết cảnh hồng trần trôi nổi,

Một ngày nào cát bụi buông xuôi,

Vô thường muôn sự rõ rồi,

Hoa sen chín phẩm là nơi an bình.

 

Ngài lại tiếp tục đăng trình vân du hoằng hóa, tùy duyên thuyết pháp độ sinh, không nài gian lao, chẳng từ khó nhọc, đâu nệ chốn hoang vắng ít người. Nơi đâu cần dựng chùa am cho Phật tử có nơi quy ngưỡng,  Ngài liền kiến tạo Già lam Phật địa. Do đó, chỉ trong vòng mười năm, Ngài tạo dựng đến chín ngôi Già lam rải rác khắp tỉnh Rạch Giá.

 

Song song với công cuộc hoằng pháp, Ngài còn chủ trương đưa đạo Phật đi vào cuộc đời, xoa dịu bớt những nỗi thương đau của tầng lớp dân nghèo bị trị. Hương Đạo đức của Ngài lưu xuất khắp khu vực miền Nam, lan rộng đến cả vùng Nam Vang nước bạn. Nơi nơi thỉnh Ngài về thuyết pháp, giảng dạy kinh luận.

Năm Ất Sửu (1925), niên hiệu Khải Định năm cuối, Ngài dẫn một đệ tử sang đất Thái, xứ chùa tháp để cùng chia sẻ Phật sự nước bạn, không ngờ vị đệ tử này lại có duyên Trụ trì, hoằng pháp tại Thái Lan. Vị đệ tử chân truyền của Ngài là Sư Báo Ân, pháp danh Nhật Đáp rời quê hương đất Tổ, sang Thái Lan tu hành đắc đạo và để lại nhục thân bất hoại. Sư Báo ân kiết già viên tịch ngày 27 tháng giêng năm Giáp Thìn (10.03.1964).

Năm Tân Mùi (1931), niên hiệu Bảo Đại năm thứ 6, Ngài đã tích cực yểm trợ phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà do Thiền sư Thích Khánh Hòa chủ xướng, và ngài đã đảm nhận chức vụ cố vấn cho Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Hội bị vài cư sĩ khuynh loát, sinh hoạt đình trệ. Thiền sư Thích Khánh Hòa lui về Trà Vinh thành lập Liên Đoàn Phật học xã, rồi đổi thành Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, để chăm lo việc đào luyện tăng tài. Ngài ủng hộ tài chánh mạnh mẽ cho hai tổ chức nầy, nhưng Ngài nhận thấy mục tiêu khiêm tốn đào tạo Tăng tài không đáp ứng nỗi nhu cầu khẩn thiết của đất nước.

 

Với chủ trương Phật hóa nhân gian, đem đạo Phật đi vào cuộc đời, tích cực xoa dịu nổi thương đau của người dân khốn khổ, tiêu trừ tệ trạng dốt nát đói nghèo, và nếu cần, phải cực lực lên án, chống nạn bốc lột kinh tế, lũng đoạn thị trường của những kẻ thiếu lương tâm. Đó là lý do khiến Ngài đã đứng lên vận động giới Tăng sĩ Phật giáo trong tỉnh, kết hợp thành tổ chức thống nhứt với danh xưng “Hội Phật Học Kiêm Tế” năm Đinh Sửu (1937) và cho ra đời tạp chí Tiến Hóa hai tháng sau đó. Vì công việc đa đoan Ngài đã ủy thác tờ báo Tiến Hóa cho sư Pháp Linh và sư Thiện Chiếu đảm trách.

 

Ngài đặt trọng tâm vào việc hoằng pháp, phát triển cơ sở Phật giáo và đẩy mạnh công tác Từ thiện xã hội: tổ chức cứu trợ nạn nhân bão lụt năm Đinh Sửu (1937), đẩy mạnh phong trào bình dân giáo dục và phòng thuốc phước thiện, có đông y chẩn bệnh, có nơi tạm trú cho bệnh nhân phương xa… Ngài cũng chính thức thành lập Viện Mồ Côi đặt tại Rạch Giá và dự trù thành lập Viện dưỡng lão tại Tam Bảo Từ Tôn, Hòn Quéo. 

 

Mặc dù Phật sự đa đoan nhưng Ngài vẫn dành thời giờ tổ chức lễ tưởng niệm vị anh hùng dân tộc. Và buổi lễ may mắn đã diễn ra êm đẹp, không bị phá hoại như những nguồn tin dọa nạt ban đầu.

 

Điều đáng tiếc lại xảy ra trong nội bộ. Một biên tập viên Tiến Hóa xuyên tạc buổi lễ, chỉ trích cố lãnh binh Nguyễn Trung Trực là tay sai phong kiến nên không đáng được đề cao. Sự kiện nầy thúc đẩy Ngài đi đến quyết định chấn chỉnh nhân sự tờ báo, một quyết định Ngài đã manh nha khi nhận thấy tờ báo bắt đầu vượt khỏi tầm kiểm soát, bài vở quá khích có thể gây nguy hại đến kế hoạch hoằng pháp và từ thiện xã hội trường kỳ của Ngài. Sư Pháp Linh và sư Thiện Chiếu bất mãn bỏ đi. Ngài liền cho người liên lạc với cụ cử Võ Ngọc Hoành, một nhân sĩ thuộc phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đang bị Pháp giam lỏng tại Sa Đéc, để nhờ giới thiệu các cây viết khác. Nào ngờ bọn mật thám Pháp tại Sa Đéc đã bắt được thông tin nầy.

Ngày 26-8-1931 (13.7.Tân Mùi), Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật học được chính thức thành lập, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn gần chợ Cầu Muối, Sài Gòn (nay phường Cầu ông Lãnh, quận Nhất, Tp. Hồ Chí Minh). Ngài được mời làm cố vấn cho Hội cùng với Hòa thượng Thích Huệ Định. Năm ấy Ngài ở tuổi ngũ tuần.

Sau khi hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học bị lực cản của Ông Trần Nguyên Chấn, không khai giảng được Thích học đường, chư tôn Thiền đức uy tín như (Thiền Sư Thích Khánh Hòa, Sư Thiện Chiếu v.v...) của Hội lần lượt bỏ về Tự viện ở các tỉnh để tìm phương thành lập các hội khác. Ngài cũng trở về chùa Sắc Tứ Tam Bảo ở Rạch Giá.

Năm Bính Tý (1936), niên hiệu Bảo Đại năm thứ 12, Sư Thiện Chiếu về Rạch Giá tìm gặp Ngài. Qua trao đổi, nhị vị cùng đồng chí hướng, Ngài đồng ý thành lập Hội Phật Học Kiêm Tế vào ngày 23-3-1937 (11.2.Đinh Sửu), và đầu xuân năm Mậu Dần (1938) cho xuất bản Tạp chí Tiến Hóa. Ngài lãnh nhiệm vụ Chánh Tổng Lý của Hội và Sư Pháp Linh (Phan Thanh Hòa) làm chủ bút Tạp chí này.

Với danh xưng “Hội Phật Học Kiêm Tế” cùng với Tạp chí Tiến Hóa - cơ quan ngôn luận của Hội, tổ chức này hoàn toàn là một tổ chức “Cách mạng” trong Phật giáo. Tên Hội Phật Học Kiêm Tế được giải thích như sau: “Đây không phải là một Hội chỉ để học Phật, mà còn là một Hội để thực hành kinh bang tế thế nữa”. Cụ thể hóa tôn chỉ đó, Hội đã tổ chức ba lớp học miễn phí cho con em nhà nghèo quanh vùng, nhà chùa trả lương cho giáo viên. Hội còn lập ra phòng thuốc phước thiện và bệnh xá cho bệnh nhân nằm điều trị. Lần đầu tiên trong cả nước, Hội lập ra một viện mồ côi ngay tại chùa. Ngoài ra Hội còn tổ chức cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Rạch Giá, nuôi ăn từ hai trăm đến ba trăm người trong thời gian ngắn.

Chính do những tư tưởng tiến bộ như thế, mà ngôi Sắc tứ Tam Bảo Cổ Tự đã trở thành nơi lui tới của các vị cán bộ chiến sĩ cách mạng, làm nơi hoạt động chống chế độ thực dân Pháp.

Ngài cũng thường hay qua lại một số chùa trên đất Campuchia và Thái Lan để chia sẻ Phật sự với các vị sư sãi các xứ này. Năm nào các chùa có mở trường Hương, trường Kỳ, Ngài thường được mời Chứng minh. Phật sự khắp các tỉnh như Sài gòn, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Mỹ Tho, Sa Đéc, Châu Đốc, Bến Tre, Trà Vinh, v.v.. Ngài đều tham gia.

Để giúp Hội Phật Học Kiêm Tế và báo Tiến Hóa có phương tiện hoạt động, trong phiên họp ngày 20-3-1938 (19.2.Mậu Dần) của Hội, Ngài đã hiến tài sản của Bổn tự gồm có chùa chiền, ruộng vườn, và số tiền mặt tổng cộng 19.973 đồng (vào thời điểm năm 1938 đó là số tiền lớn) cho Hội, sau khi được bổn đạo của chùa đồng ý.

Cuối Đông năm Kỷ Mão (1939), niên hiệu Bảo Đại năm thứ 14, do tên Tư Chà làm nội gián, cơ sở Cách mạng nơi Sắc Tứ Tam Bảo Cổ Tự (Cơ sở bí mật Xứ ủy Nam kỳ) bị lộ. Bọn  mật thám Pháp khám xét gắt gao. Tài liệu, truyền đơn và vũ khí tự chế bị tịch thu. Ngài cùng một đệ tử là Thích Thiện Ân tục danh Trần Văn Thâu và nhiều người khác bị bắt.

Ngài cùng vị đệ tử Thích Thiện Ân bị chúng giải lên Sài Gòn, đưa ra tòa xét xử. Đại đức Thích Thiện Ân bị kết án tử hình, còn Ngài bị 5 năm biệt xứ lưu đày Côn Đảo. Lúc ở trong tù, Ngài nói với ông Lê Hoàng Minh, tức Ông Ký ở Nhị Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho rằng : “Chú còn nhỏ, sau này được thả ra, tiếp tục hoạt động. Còn tôi già rồi, kỳ này ra Côn Đảo, chắc phải hy sinh”.

Đúng vậy, khi ra Côn Đảo, Ngài bị giam trong phòng cấm cố.  Nơi đây, bao lần bị tra tấn lấy khẩu cung, Ngài vẫn giữ thái độ trầm tỉnh thong dong của bậc chân tu, khiến cho những kẻ hung hăng thô lỗ không còn chút tình người cũng phải sinh tâm kính trọng. Tuy vậy, khi trở về phòng biệt giam, nghe lòng mình se thắt lại, khởi niệm nhập Từ bi quán, chẳng bợn lòng tiếc nuối sự nghiệp tan tác bọt bèo, cũng không đau đớn lo âu thân phận bị biệt xứ lưu đày tù tội.

 

Thế nhưng, Ngài lại băn khoăn vận nước, bồn chồn nhớ nghĩ đến đám dân nghèo mất nơi nương tựa, trẻ con thất học bụi đời, trẻ mồ côi, người bệnh hoạn không tiền thang thuốc… Do đó, khi tỉnh tọa tham thiền Ngài cứ bị phân tâm. Ngài tuyệt thực mấy ngày liền đến kiệt sức để phản đối chế độ lao tù hà khắc. Nhận thấy chiếc thân tứ đại không duy trì được nữa, trước phút vĩnh ly, Ngài phì phào ngâm nga :

 

Đúng sai khôn dại tự phân minh,

Sáu cõi chẳng qua dựng lộ trình,

Phật sự đạo tràng tùy huyễn cảnh;

Dạo Ta bà tự tại tầm thinh…

 

Trong tư thế Kiết già phu tọa Ngài an nhiên thị tịch vào ngày 26 tháng 6 năm Quý Mùi (27.7.1943). Hưởng thọ 61 Xuân, Giới lạp 30 Hạ, Trụ trì 29 Đông.

Từ lúc Ngài bị bắt biệt xứ lưu đày Côn đảo, ngôi Sắc tứ Tam Bảo Tự bế môn, cửa thiền bụi bám nhện giăng, cỏ dại phủ đầy hiên vắng. Quả là:

Quạnh hiu trên bến sông buồn,

Kiên Giang nước chảy về nguồn nhớ thương,

Bao nhiêu nước, bấy nhiêu buồn,

Thầy ơi, trăng nước hãy còn xót xa!

Sau Cách mạng tháng tám, chùa mới được mở cửa lại. Tăng tín đồ Phật tử và nhân dân tổ chức một Đại lễ cầu siêu tại chùa để tưởng niệm Ngài và các đồng chí của Ngài đã hy sinh vì Đạo pháp và Dân tộc.

Lịch sử ghi nhớ mãi tâm nguyện cao cả của Ngài, rạng danh trong phong trào chấn hưng Phật giáo và còn mãi với phong trào cách mạng kháng Pháp. Ngài là một trong những vị tiền bối xây dựng nền tảng cho cuộc chấn hưng Phật giáo và phong trào Phật giáo cứu quốc. (Sau cách mạng Thánh Tám 1945, nhiều Tăng sĩ “cởi áo cà sa khoác chiến bào” tham gia kháng chiến, góp phần giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước).

Thuở sinh tiền, Ngài cùng sư huynh là Thiền sư Bửu phước (Trụ trì Phước Ân Tự, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) thường chia sẻ về tương lai hậu vận tiền đồ Phật giáo Dân tộc.

Trên bước đường hoằng pháp lợi sinh, Ngài kiến tạo nhiều ngôi Già lam trong địa bàn tỉnh Kiên Giang như : Tam Bảo Hòa Thanh Tự, Vĩnh Hiệp; Vĩnh Phước Tự, Tà Niên; Bửu Hưng Tự, Cầu Cà, Bờ He, Gò Đất, huyện Châu Thành; Phước Hưng Tự, Ngăn Gừa; Tam Bảo Kỳ Viên Tự, Hòn Quéo; Tam Bảo Từ Tôn Tự, Sóc Xoài, huyện Hòn Đất;  Bảo Long Sơn Tự, huyện Hòn Đất.

 Thích Vân Phong kính biên soạn

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập