Trang chủ PG Việt Nam Lược sử Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huệ Quang

Lược sử Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huệ Quang

Đã đọc: 365           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

-Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

- Chứng minh Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa 

- Huynh Trưởng Môn phong Tổ đình Nghĩa Phương 

- Viện chủ Chùa Đông Phước, Phước Long, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

I.-THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP:

Đại lão Hòa Thượng THÍCH HUỆ QUANG, húy thượng Không hạ Hành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Thế danh Dương Quyền. Ngài sinh ngày 10 tháng 01 năm Đinh Mão (1927) tại thôn Phước Hải, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.

Thân phụ là cụ Dương Dõng, người gốc ở Gia Định, phủ Long An, tổng Long Hưng Hạ, xã Phước Lợi, là một nhà nho uyên bác, sùng kính Tam Bảo. Sinh thời thân phụ của ngài thủ chức Kinh Thơ Lại Nê Tấn Thừa Sự, tỉnh Gia Định, hàm Bát phẩm. Hoàn cảnh Nam phần lúc bấy giờ thuộc quyền cai trị của Pháp, nên cả gia đình di tản ra Khánh Hòa, ở vùng Lục Đồn, Nha Trang.

Thân mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Na, người ở thôn Tân Tế, phủ Ninh Hoà, Khánh Hòa. Ngài là người con thứ ba trong gia đình có 4 người con. Năm 13 tuổi Ngài đậu Sơ học Yếu lược. Năm 1939, ngài tham học Cours Prémier tại trường Kim Yến Nha Trang. Sau khi thân phụ ngài qua đời, Ngài luôn cận kề bên thân mẫu để chăm dưỡng mẹ già. Mỗi lần về quê thăm mẹ, Ngài thường viếng chùa Thiên Bửu Thượng (phủ Ninh Hòa) và từ đó Ngài xin học đạo với Thượng Tọa Trụ trì, húy Chơn Du, Tự Chánh Thức, hiệu Nhơn Thiện và được Hòa Thượng Nhơn Hoằng hướng dẫn học đạo. 

Sau khi Tổ Nhơn Thiện về Nha Trang, đảm nhiệm trụ trì chùa Đông Phước. Năm 1942 (Nhâm Ngọ) năm Ngài 15 tuổi, xin xuất gia tại đây và được Bổn sư cho pháp danh Không Hành. Lúc này vừa học đạo, vừa học Hán văn với Giáo sư Nguyễn Đức Trọng (tức Nguyễn Hoành) được gần 4 năm thì Cách mạng khởi nghĩa, nhằm vào tháng 8 năm 1945 (Ất Dậu).

Lúc bấy giờ, do chiến tranh hỗn loạn, chùa Đông Phước bị giặc đốt, cả xóm gần chùa cũng bị đốt phá. Ngài đưa mẫu thân về Ninh Hòa để lánh nạn. Đến năm 1948 (Mậu Tý) thân mẫu Ngài qua đời.

Năm 23 tuổi, với lòng quyết chí học đạo, nên Ngài trở về lại chùa Đông Phước thọ giáo với Bổn sư là Hòa Thượng Thích Minh Huệ và được phú pháp tự là Từ Tâm.

Đến năm Nhâm Thìn (1952) 25 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại Giới đàn chùa Thiên Bửu, Ninh Hòa, do Tăng cang Hòa Thượng Thích Trí Thắng, Viện chủ chùa Thiên Hưng, Phan Rang làm Đàn đầu truyền giới.

Từ đó Ngài sớm hôm học đạo với Bổn sư là HT. Thích Minh Huệ. Đến năm 1959 HT. Thích Minh Huệ viên tịch. Năm 1960, được Bổn tự, Bổn đạo cung thỉnh Ngài làm Trụ trì chùa Đông Phước. Cũng năm đó (1960) được Hòa Thượng Thích Bích Lâm, Viện chủ Tổ đình Nghĩa Phương phú pháp nhãn tạng, đạo hiệu là Huệ Quang, pháp tử đầu tiên môn phong Nghĩa Phương.

Từ năm 1962, ngoài trách nhiệm tại Bổn tự, Ngài còn tham gia công tác Giáo hội:

- Năm 1962 tu bổ lại chùa Đông Phước lần thứ nhất, vì bị chiến tranh năm 1945 đốt phá hư sập.

- Năm 1966: Phó Tăng trưởng Tỉnh hội Phật gíáo Cổ truyền Khánh Hòa.

- Từ năm 1968 đến năm 1975: Ngài được suy cử làm Tăng trưởng Tỉnh hội Phật giáo Cổ  truyền Khánh Hòa.

- Từ năm 1970 đến năm 1973: kiêm chức Tổng Thư Ký Ban Đại diện Phật giáo Cổ truyền Trung Phần.

- Từ năm 1972 đến năm 1975 lập Trường Tiểu học Bát Nhã nằm ở sau chùa để dạy dỗ con em Phật tử nghèo.

- Sau khi GHPGVN được thành lập, Ngài được đề cử các chức vụ:

Từ năm 1982: Ủy viên Hoằng pháp, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Phú Khánh, nhiệm kỳ I (1982-1985) và NK II (1986-1989). Tiếp đó, Ngài đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hoằng pháp - Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa, nhiệm kỳ 1991-1994 và lưu nhiệm đến năm 1996.

*Về phần tham dự các giới đàn:

Trong suốt thời gian hành đạo Cố Đại lão HT. Thích Huệ Quang đã đảm nhận nhiều trọng trách trong các giới đàn truyền giới trên cả nước như:

1.- Ngày 27.9 năm Nhâm Dần (1962): Đệ tứ Tôn chứng, tại Giới đàn chùa Long Quang, Phú Nhuận, Sài Gòn.

2.- Năm Ất Tỵ (1965): Đệ nhất Tôn chứng Giới đàn chùa Thiền Lâm, Quận 6, Lục Tỉnh, Sài Gòn.  3.- Ngày 26.02. Mậu Thân (1968) được suy tôn Giáo Thọ A Xà Lê sư, tại Giới đàn chùa Phật Ấn, đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.  4.- Ngày 15.3. Kỷ Dậu (1969), được suy tôn Yết Ma A Xà Lê sư, tại Giới đàn chùa Nghĩa Phú, xã Hòa Thắng, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.  5.- Ngày 10.4. Canh Tuất (1970) được Tôn cử Tuyên Luật sư tại Giới đàn chùa Phước Duyên, Diên Khánh.  6.- Ngày 15.7. Canh Tuất (1980) được Chư Tôn giáo phẩm Giáo hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam suy tôn Hòa Thượng tại Giới đàn chùa Cổ tích Bửu Phong, Thị xã Biên Hòa.  7.- Thành viên Ban chức sự các Giới đàn như: Năm 1963: Ban Tổ chức Giới đàn chùa Sắc tứ Minh Tịnh, Quy Nhơn.

Năm 1993: Ban Chức sự Đại Giới đàn Trí Thủ I, tổ chức tại chùa Long Sơn đã cung thỉnh Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh công văn.

Và các kỳ Đại giới đàn năm 1997, 2001, 2005 tổ chức tại Khánh Hòa, Ngài được cung thỉnh làm chứng minh Đại giới đàn.

Từ năm 1990 – 1998, Ban Giám hiệu Trường Trung cấp Phật học tỉnh Khánh Hòa thỉnh Ngài làm Giảng sư suốt 2 khóa I, II

Với Ngài, Đạo pháp và Dân tộc luôn đồng hành vì thế năm 1945, thời kỳ chống Pháp, Ngài tham gia trong hàng ngũ Việt Minh, 1949, bị Pháp bắt ở tù 8 tháng tại 5e Baurau Nha Trang.

*1975 Sau ngày giải phóng đất nước thống nhất:

- Tham gia Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam, phường Phước Hải từ năm 1979 đến năm 1993: 5 nhiệm kỳ, với các chức vụ Ủy viên, Phó Chủ tịch UBMTTQVN Phường Phước Hải.

- Hội đồng Nhân dân Phường Phước Hải khoá 4.

- Từ năm 1989 đến năm 1996: 2 nhiệm kỳ Thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Nha Trang.

- Đại lão Hòa Thượng đã được nhiều giấy khen của Ủy Ban MTTQVN thành phố Nha Trang.

- Năm 1996, được tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp Đoàn kết dân tộc: của Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997-2001) GHPGVN: Ngài được tấn phong Hòa Thượng.

- Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V (2002-2007) GHPGVN: Ngài được suy tôn làm thành viên HĐCM TW GHPGVN.

* Về công tác biên dịch:

1.- Ngài đã dịch nghĩa Nghi thức Thiền môn Chánh độ, các nghi lễ thông dụng trong ứng phó Đạo tràng. 

2.- Ngài đã viết Tiểu sử Tổ Khai sơn chùa Đông Phước.

3.- Biên soạn Tiểu sử chùa cổ tích Đông Phước.

Ngoài ra, Ngài cũng thường đặt câu liễn, đối, viết Thư pháp cho nhiều Tự viện trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh.

II.-THỜI KỲ VIÊN TỊCH:

Sau hơn 50 năm hành đạo Ngài đã đào tạo được một đội ngũ Chư Tôn đức, có đạo hạnh và năng lực, tham gia công tác Phật sự của Giáo hội và công tác từ thiện xã hội.

Tuy tuổi đã ngoài 80, Ngài vẫn thân hành chống gậy để làm công tác Phật sự cũng như dốc lòng xây dựng hoàn thiện ngôi phạm vũ Đông Phước. Suốt thời gian đảm nhiệm trụ trì chùa Đông Phước, Ngài đã nhiều lần trùng tu tôn tạo ngôi Tam Bảo. Đặc biệt, năm 2007, dưới sự chứng minh của Thường trực BTS THPG Khánh Hòa, Ngài đã Đại trùng tu toàn cảnh ngôi Đông Phước cổ tự như ngày nay. 

Thuận thế vô thường, thân tứ đại mỏi mòn theo nhật nguyệt, sau một thời gian lâm trọng bệnh. Tuy được môn phong huynh đệ, môn đồ pháp quyến, cùng quý vị y, bác sĩ tận tình chăm sóc, chữa trị. Song, vì tuổi cao sức yếu Ngài đã thâu thần an nhiên viên tịch, vào lúc nửa đêm giờ Tý, 01 giờ 20 ngày 10 tháng 7 năm Kỷ Sửu (2009), tại ngôi chùa Đông Phước - nơi mà 67 năm về trước Ngài đã xuất gia. Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 57 năm. 

Hỡi ơi:

Dép cỏ lối về còn lưu dấu 

Hoa đàm tuy rụng vẫn ngát hương 

Một mai thân xác quy Tây 

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời 

Pháp thân lồng lộng sáng ngời 

Chiếu soi pháp giới rạng ngời chân như.

Đệ tử Trí Bửu thành kính tưởng niệm húy nhật làn thứ 8 cố Đại lão Hòa thượng Thượng Huệ hạ Quang (10/7/2009-10/7/2017)

 










Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập