Trang chủ PG Quốc tế Sự kiện & Vấn đề Phật Giáo và Sức Khỏe Tinh Thần Giữa Những Người Tỵ Nạn Cam-Bốt

Phật Giáo và Sức Khỏe Tinh Thần Giữa Những Người Tỵ Nạn Cam-Bốt

Đã đọc: 1333           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Thân thể và tâm thức của chúng ta đã quen với cảm giác tê liệt mỗi khi chúng ta sợ hãi hoặc nhớ đến trải nghiệm của mình. Cha mẹ mô tả mối liên hệ giữa họ và con cái bị cắt đứt, và con cái mô tả sự khó khăn khi kêu gọi sự chú ý của bậc phụ huynh.

Tôi là con gái của Kim Tho và Bun Phao Kuoch.  Tôi được sinh ra trong một thành phố miền Tây Cam-Bốt nơi gia đình tôi đã sinh sống hằng thế kỷ.   Má của má tôi là cô con gái độc nhất của ông cố tôi, vị tỉnh trưởng trong thành phố, và bà cố tôi là người vợ đầu tiên.  Vì là vị tỉnh trưởng, ông cố tôi có ba mươi người vợ lẽ đến từ những gia đình khắp nơi trong vùng đất đó.

Ông cố của tôi là một phật tử, và có thể là gia đình tôi là phật tử bắt đầu từ khi những bài pháp của đức Phật lần đầu tiên được truyền vào đất Cam-Bốt vào khoảng thế kỷ thứ mười ba.  Tên của ông cố tôi nằm trên cổng lớn ở ngôi chùa mà gia đình tôi vẫn còn đến lễ bái, và ông cố là cội nguồn cuộc sống của chúng tôi, về mặt nguồn gốc xác định, chúng tôi là gia đình Phật giáo.  Những giáo lý Phật giáo được cha mẹ tôi tôn trọng triệt để, và tôi tin rằng những lời giáo huấn nầy đã giúp gia đình chúng tôi khắc phục được những khó khăn to tác.  Đây là thời điểm của Khmer Đỏ, từ năm 1975 đến 1979.

Trong một thời gian gia đình tôi rất thịnh vượng.  Khi còn nhỏ tôi hay giúp cha tôi thu tiền thuê trên hai mươi bảy khu đất, và mỗi nơi cha tôi đi qua, mọi người đều dành cho ông sự kính trọng.  Nhưng sự thịnh vượng của chúng tôi bị mất đi đơn giản như lúc nó đến, và bắt đầu từ khi tôi được 11 tuổi vào năm 1957, gia đình tôi phải chật vật kiếm sống chỉ để có nơi ăn chốn ở.  Tuy nhiên, kể cả khi chúng tôi mất hết tài sản vật chất, cha tôi vẫn tiếp tục duy trì được sự kính trọng trong cộng đồng.

Tôi được khuyến khích chăm chỉ học tập để mang danh dự về cho gia đình. Cha tôi tin rằng tôi là đứa trẻ có thể chăm sóc tất cả mọi người.  Cha tôi cũng nghĩ rằng tôi sẽ du hành thật xa, nhưng lúc ấy là một đứa trẻ không thể xa rời mẹ tôi, cho nên điều nầy là không thể nào.

Năm đầu tôi đến trường, mẹ tôi dạy tôi bài học về sự kiên nhẫn, biết ơn, và tôn trọng gia đình.  Bà dạy tôi không qua lời nói mà là qua cử chỉ hành xử, và khuôn mặt.  Tôi vẫn đang cố gắng bắt chước bà về tinh thần và tâm linh.

Mẹ tôi dẫn tôi đến trường vào năm mà bàn tay tôi có thể giơ cao trên đầu đụng vào tai tôi.  Bà đưa tôi đến gần thầy giáo, nhưng tôi không thể nào giữ lại cơn lo sợ và tôi đã níu lấy váy của bà không cho bà về.  Trong vòng nhiều tuần lễ, mẹ tôi ở lại trường với tôi, lúc đầu bà ngồi gần tôi trong lớp học và rồi di chuyển ra hành lang nơi mà tôi vẫn còn nhìn thấy bà.  Khi tôi sẵn sàng, tôi nói với bà hãy về nhà, và từ lúc đó trở về sau, trường học là niềm vui to tác đối với tôi bởi vì tôi cảm nhận rằng thầy giáo là người mà tôi tin tưởng và kính trọng sau mẹ tôi và gia đình.

Cha tôi cũng tin vào những giáo lý phật giáo, nhưng ông phải đấu tranh nhiều hơn là mẹ tôi để chấp nhận sự mất mát của cải.  Sự kiên nhẫn và tự chủ trong lúc nóng giận thật là không dễ dàng cho cha tôi.  Lúc còn trẻ, một lần ông đã mất bình tĩnh và đã đánh con ngựa của ông.  Đây là sự kiện quấy rầy ông trong suốt cuộc sống.  Nhìn lại, tôi nghĩ rằng cha tôi rất thất vọng, và đây điều lo lắng nầy làm cho ông giận dữ.  Nhưng ông thực tập giáo lý phật giáo mỗi ngày trong cuộc sống của ông.

Mẹ và bà của tôi dạy chúng tôi rằng bố thí cho người khác là một niềm vui to tác.  Mỗi buổi sáng chúng tôi cho các vị tăng thức ăn khi họ đi ngang nhà chúng tôi.  Có nghĩa là chúng tôi phải dậy thật sớm để mà nấu cơm.  Mẹ tôi nói là bố thí sẽ được phước lành cho kiếp sống tới, và bà không để cho chúng tôi dâng cơm cho các vị tăng trừ khi chúng tôi thật sự muốn làm.  Bà nói rằng thái độ của chúng tôi rất là quan trọng và nếu như chúng tôi bố thí chỉ vì muốn được tiếng tốt, chúng tôi sẽ bị mất phước.

Trong những năm ở trung học, tôi phải rời thành phố của mình và đến sống với một người bà con ở Thành Phố Battambang khá xa nhà của tôi.  Cuộc sống thay đổi nhanh chóng trong đất nước của chúng tôi, và chiến tranh đang lan tràn từ Việt Nam.  Tôi hiểu rất ít những gì đang xảy ra, nhưng đất nước thay đổi, Phật giáo vẫn còn là sự liên kết giữa chúng tôi với cuộc sống, đã nhìn thấy rất ít thay đổi trong hơn một ngàn năm qua.  Chúng tôi cung dưỡng các vị tăng và hưởng thụ những lễ kỷ niệm và nghi lễ như chúng tôi vẫn thường làm.

 

Vào thời gian tôi vào đại học, tình trạng bất ổn đã trở thành cuộc nội chiến.  Vậy mà nó dường như không thật đối với tôi, có thể vì tôi bị kinh sợ bởi những sở hữu và cơ hội đi kèm với chiến tranh.  Tôi đã nhìn thấy Phnom Penh bị bao vây bởi quân Khmer Đỏ, biến một thành phố mấy trăm ngàn người thành một hòn đảo với hơn hai triệu người tỵ nạn hoặc những người bị trục xuất trên chính quê hương của mình.

Tháng 4, năm 1975 lúc Tết Cam-Bốt, quân Khmer Đỏ đã quyết định số phận của tôi và của bảy triệu anh chị em của tôi.  Vào buổi sáng ngày 14 tháng 4, đài phát thanh ngừng phát sóng những chương trình thường lệ.  Quân Khmer Đỏ dành lấy đài phát thanh và nói với chúng tôi rằng chúng tôi sẽ bị kẻ thù dội bom.  Họ bảo chúng tôi chỉ lấy một ít đồ sở hữu và rời thành phố ngay lập tức.

Mẹ chúng tôi đang ở thành phố để giúp chị tôi và em bé mới sinh, chúng tôi để mẹ, chị và em bé và con trai tôi trong xe.  Anh rể tôi lái xe xuyên qua những đám người đang trên đường ra khỏi thành phố.  Đường đi dài hàng ngàn dặm, và dọc theo con đường có những bảng hiệu cho biết những gì sẽ xảy ra cho những người không chịu hợp tác với các lãnh đạo mới.  Chiếc xe mau chóng hết xăng, nhưng chúng tôi có thể đẩy xe vì đám đông di chuyển rất chậm.

Mỗi ngày trên đường, tôi thấy gia đình tôi đang tiến dần đến cái chết.  Anh trai tôi nổi giận vì đói quá, và chị tôi tuyệt vọng dần vì thiếu thực phẩm, chị ăn bất cứ thứ gì đến tay chị.  Tôi có nhiều thức ăn hơn họ bởi vì tôi làm việc định kỳ ngoài đồng.  Sau khi chị sanh đứa con gái, chị tôi không thể làm việc được, và tôi cố gắng chia xẻ thức ăn cho chị và mẹ của tôi, nhưng mẹ tôi ăn rất ít và phần còn lại thì cho anh trai tôi.

Ngày nọ quân Khmer Đỏ bắt chị tôi đi vì chị ăn cắp một ít thức ăn, họ bỏ chị vào tù và mỗi ngày tra tấn chị.  Bởi vì chị đang săn sóc cho con trai của tôi, nên con tôi bị nhốt chung trong lồng với chị.  Tôi nghe được tin nầy từ những người làm việc ngoài đồng, nhưng cuối cùng khi tôi có thể gặp được chị, chị đã được đưa vào bệnh viện.  Các bệnh viện của quân Khmer Đỏ là nơi mà người ta được chở đến để chờ chết.  Khi tôi thấy chị, tôi biết rằng chị sẽ không còn sống được bao lâu nữa.  Chị năn nỉ quân Khmer Đỏ cho tôi ở bên chị trong khi chị sắp chết, nhưng họ từ chối và bắt buộc tôi phải quay lại đồng làm việc.  Khi tôi quay về, giường của chị đã trống.  Bây giờ tôi một mình với đứa con trai của tôi.

Cuộc sống dường như không còn là thật nữa, và tôi chẳng còn bất cứ cảm giác nào.  Mỗi nơi xung quanh tôi con người như những bộ xương biết đi.  Tôi biết rằng chúng tôi đang gần đến chỗ chết, và chúng tôi có thể nghe được tiếng khóc la trong đêm.  Ban ngày, quân Khmer Đỏ mặc những bộ quần áo của những người đã chết.  Kể cả trong giờ phút kinh hoàng đó, vài người còn giữ được lòng từ bi.  Người bạn thân của tôi dành một phần cơm của chị cho con trai tôi ăn, bởi vì nó ốm đến nổi nó không thể giữ cái đầu thẳng trên cổ.  Chị bạn tôi liều mạng cho tôi và những người khác, và lòng từ bi của chị đã cho tôi can đảm để giữ mạng.  Tinh thần nầy xuất hiện ở rất nhiều nơi – kể cả một lãnh tụ Khmer Đỏ đã giấu từng chút thức ăn cho tôi.

Cuối cùng, chúng tôi nghe rằng quân Việt Nam đã vào đất nước và rằng quân Khmer Đỏ đã có kế hoạch giết chết tất cả chúng tôi.  Họ bắt đào những cái hố thật lớn, mà chúng tôi biết chắc rằng đó sẽ là mồ chôn chúng tôi.  Tôi không biết phải làm gì.  Tôi không biết chạy đi đâu.    Kế đó, lãnh tụ Khmer Đỏ đến gặp chúng tôi vào ban đêm và nói rằng chúng tôi cần phải sửa soạn lên đường.  Tôi không biết tin ai, vì vậy tôi đã cầu nguyện và đi theo ông.  Ông dẫn chúng tôi ra khỏi trại tập trung đến một nơi an toàn.

 

Vào tháng 5 năm 1979, con trai tôi, cháu gái tôi, và tôi với mấy trăm người trốn thoát và băng rừng trong vòng mười một ngày.  Mặc dù tôi rất ốm yếu, tôi vẫn đủ mạnh để cõng con trai tôi trên lưng.  Khi chúng tôi đến được nhà của cha tôi, tôi thấy một người chị của tôi đang đứng ở cửa; chị nhìn chúng tôi như nhìn những người xa lạ.  Tôi nói, “Chị, chị không biết em sao?”  Thế rồi chị tôi nhận ra được giọng nói của tôi và bắt đầu khóc.

Sau hai tháng, thức ăn trở nên khan hiếm, tôi biết tôi phải đi đến biên giới Thái Lan.  Các chị tôi đưa cho tôi vài miếng vàng và nữ trang mà họ còn giữ được để tôi mua thức ăn.  Một người chị nói với tôi rằng chị đã mơ thấy : tôi gặp trở ngại trên đường đi đến biên giới, nhưng mà sẽ không sao, bởi vì chị nhìn thấy một vị tăng đứng gần bên tôi.

Tôi hứa với con trai tôi rằng tôi sẽ mua kẹo cho nó và tôi rời nhà vào lúc sáng sớm không kịp chào từ biệt cha tôi.  Chuyến đi đến biên giới nguy hiểm hơn là tôi tưởng tượng.  Một người lính già dẫn tôi và bạn tôi xuyên qua bãi mìn được đánh dấu với những xác chết.  Thình lình,  quân Cam-Bốt và quân Việt Nam bắt đầu bắn nhau.  Tôi chạy hàng giờ đồng hồ cho đến khi tôi đến được biên giới.  Những trại ở biên giới không được an toàn, nhưng đôi chân của tôi đã bị sưng nhiều vì trốn chạy, và các móng chân của tôi đều rụng hết và tôi không thể nào đi tiếp.

Vào lúc nầy Hội Hồng Thập Tự đến trại và bắt đầu đưa người bịnh đến một trại mới trên đất Thái.  Bạn tôi bịnh rất nặng và đang lên cơn sốt, và tôi đi với chị trên một chiếc xe cam-nhông vào trại Khao-I-Dang cùng với hàng ngàn người.  Không lâu sau khi chúng tôi tới trại, chúng tôi được bác sĩ và y tá khắp nơi trên thế giới chào đón.  Họ chăm sóc cho chúng tôi với lòng tử tế và kính trọng, và hỏi trong chúng tôi có ai biết tiếng Anh hay tiếng Pháp để giúp họ ở bệnh viện.

Tôi đã học Anh-văn trước thời Khmer Đỏ và nói lưu loát tiếng Pháp và nghĩ rằng tôi có thể giúp bởi vì tôi đã học qua một số kỹ năng về chăm sóc khi tôi còn sống ở thành phố. Tôi bắt đầu làm việc cho một nhà thương Đức được Hội Cứu Trợ Công Giáo của Đức điều hành.  Không bao lâu tôi làm việc trong phòng mổ, và mọi người được mang đến từ biên giới nơi mà cuộc chiến bắt đầu trở nên khốc liệt.  Chúng tôi làm việc ngày đêm bên cạnh các bác sĩ và y tá, những người chẳng nghĩ đến sự thoải mái của bản thân.  Lòng tử tế và từ bi của họ cho tôi hy vọng về cuộc sống của chính mình và nhắc nhở tôi về cuộc sống trước khi chúng tôi chịu khổ.

Cuộc sống trong trại tỵ nạn chắc chắn là khó khăn, nhưng bây giờ chúng tôi có hy vọng.  Biết rằng cái giá mà tôi phải trả cho hy vọng, là tôi không thể nào quay trở về nhà.  Tôi phải đi đến một đất nước mới và tạo cuộc sống mới để tôi có thể nuôi con và gia đình.  Mỗi lần tôi rời trại cũ đế đến một trại mới, tôi gặp những người cùng cảnh ngộ, chia xẻ những cảm xúc và biết rằng đánh mất gia đình và tổ quốc thật là khốn khổ cho chúng tôi.  Tình thương mà tôi trải nghiệm qua ở trại tỵ nạn là một kinh nghiệm có ảnh hưởng đến việc tôi làm sau nầy khi tôi đến được Hoa Kỳ.

 

Tôi đến Hoa Kỳ một mình và được gửi về Chicago để sống với những người mà trước đó tôi chẳng hề quen biết.  Tôi quyết định không ở lại nơi đó và vào tháng 8, năm 1981 tôi dọn đến Connecticut để sống gần một y tá mà tôi quen ở trại tỵ nạn.  Tôi hy vọng là cô ấy có thể giúp tôi tìm được việc làm để giúp đỡ những người khác.  Ở Connecticut, tôi gặp những người khác cũng đã từng làm việc ở trại tỵ nạn; họ cũng bị thay đổi bởi những kinh nghiệm đã trải qua và muốn tiếp tục giúp đỡ những người tỵ nạn.  Chúng tôi cùng nhau ra một kế hoạch thành lập một hội đoàn có thể mang chút tình thương đến với những người ở trại tỵ nạn sắp sang định cư tại Hoa Kỳ.  Và như vậy, Hội Ủng Hộ Y Tế Khmer ra đời (KHA – Khmer Health Advocates).

Chúng tôi bắt đầu thành lập Hội Ủng Hộ Y Tế Khmer (KHA) vào năm 1982 để cung cấp việc chăm sóc sức khỏe cho người Cam-Bốt vừa mới đến Hoa Kỳ, và ủng hộ những người ở trại tỵ nạn.  KHA (Hội Ủng Hộ Y Tế Khmer) là một chương trình hồi phục cho những nạn nhân từng bị tra tấn và cam kết chăm sóc sức khỏe cho những gia đình Cam-Bốt, nhất là ở Hoa Kỳ.  Như đã nói trong tài liệu, trọng điểm của KHA là hàng ngàn người Cam-Bốt đã trốn chạy chiến tranh trong thập niên vừa qua, chịu đói khát và bị tra tấn ngay trên quê hương, và đã đến Hoa Kỳ như là những người tỵ nạn.  Bị khủng hoảng và đau đớn với vô số vấn đề về sức khỏe, những người tỵ nạn cần sự giúp đỡ đặc biệt để đối diện với cuộc sống ở miền đất mới, ngôn ngữ mới, và bắt đầu quá trình hồi phục sức khỏe.

Sứ mệnh của KHA là cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết cho những người còn sống sót trong lò thiêu sống Cam-Bốt, hiện đang sinh sống ở Connecticut và miền Nam Tân Anh Quốc (New England).  Ở mức độ địa phương, KHA cung cấp những dịch vụ ủng hộ cơ bản cho cộng đồng, và cung cấp sự giáo dục về y tế trên bình diện quốc gia.

Suy nghĩ của chúng tôi không bao giờ xa rời những người bị bỏ lại.  Tôi biết rằng bằng cách làm việc thật chăm chỉ trong một hội đoàn như thế nầy, sự khao khát của tôi dành cho con trai và gia đình vẫn còn tồn tại.

Tất cả chúng tôi làm việc tự nguyện cho KHA (Hội Ủng Hộ Y Tế Khmer), vì vậy tôi phải tìm những công việc khác để tự nuôi sống bản thân và gửi tiền về cho gia đình.  Tôi bắt đầu làm việc trong một cơ quan tái định cư, nơi tôi giúp đỡ những gia đình mới đến đất nước nầy.  Tôi nhìn thấy những người đã từng sống rất mạnh mẽ ở các trại, bắt đầu rã rời trong sự an toàn của những căn nhà mới của họ.  Chẳng bao lâu sau tôi có cảm giác như tôi chẳng biết tôi đang làm việc gì và cần phải học phương cách mới để giúp đỡ các đồng hương.  Tôi rất là may mắn tìm được hai vị cố vấn giúp tôi hiểu về câu chuyện của riêng mình và tìm cách để giúp đỡ những gia đình Cam-Bốt.

Vị thầy Maha Ghosananda là một tăng sĩ Cam-Bốt đang du học tại Ấn Độ khi Cam-Bốt bị rơi vào tay quân Khmer Đỏ.  Ông hiện là một vị giám mục của Giáo Hội Phật Giáo ở Cam-Bốt, và nổi tiếng với dhammayatras, hoặc thiền hành an lạc.

Như đa số dân Cam-Bốt, ông cũng mất cả gia đình vào tay quân Khmer Đỏ, nhưng không giống đa số người Cam-Bốt, ông sẵn sàng lắng nghe những câu chuyện kinh hoàng của những người tỵ nạn đã vượt thoát khỏi quê hương vào năm 1979.  Điều nầy ông làm từ ngày nầy qua ngày khác.  Ông chẳng bao giờ quay lưng với bất cứ người tỵ nạn nào và dù người giàu hay nghèo ông đều đối xử như nhau, hiểu rõ sự đau khổ mà mỗi người còn mang nặng trong lòng.

Mỗi một câu chuyện mà ông nghe được thuyết phục ông về sự cần thiết của lòng từ bi và niềm hy vọng.  Sự chấp nhận tất cả mọi người vô điều kiện dạy cho tôi một bài học quan trọng về trị liệu và làm thế nào để tiếp cận một gia đình cần sự giúp đỡ.  Ông chỉ cho tôi cách để xoa dịu cơn giận với sự chấp nhận và cách thức để giúp người ta bày tỏ những quan tâm sâu thẳm qua lời nói.

Mỗi nơi mà ngài Maha Ghosananda đến, nơi đó có tiếng cười --- kể cả khi người ta đang trình bày những bi kịch to tác nhất trong đời họ.  Những người ở cạnh ông đều cảm thấy an lạc.  Trong khi biết rằng tôi không thể cung cấp những điều kiện như vậy trong cách trị liệu của tôi, tôi cũng biết rằng tôi muốn làm trị liệu trong phương cách mà người ta cảm thấy thoải mái và tốt lành về bản thân.  Tôi học cách nầy trong khi quan sát vị cố vấn của tôi, Ivan Borzormeny Nagy.

Bác sĩ Nagy là một trong những nhà sáng lập đầu tiên của trường trị liệu gia đình.  Ông đến Hoa Kỳ từ Hung-Gia-Lợi (Hungary) sau Đệ Nhị Thế Chiến và hiểu rất rõ về hậu quả của chiến tranh đối với những gia đình.  Ông tin rằng gia đình là nguồn lực quan trọng nhất trong đời người.  Triết lý nầy rất quan trọng đối với tôi, bởi vì là một người Cam-Bốt, tôi cảm thấy rất khó khăn khi nghĩ đến bản thân mình sống ngoài vòng tay của gia đình.

 

Hình thức trị liệu gia đình của bác sĩ Nagy được gọi là trị liệu gia đình theo bối cảnh; như tên gọi, nó đòi hỏi bác sĩ trị liệu phải nhìn vào nơi chốn mà gia đình đó đã xuất thân.  “Câu chuyện của cá nhân và gia đình là câu chuyện gì?” “Họ đã trải qua những chuyện gì?”  “Những sự kiện nào đã xảy ra và làm cho gia đình họ trở nên như ngày nay?”  “Họ có những tài sản gì, và ai nợ gì ai?” Ông xử dụng khái niệm về những di sản gia đình để giải thích làm thế nào chúng ta chuyển hành vi và giá trị đến thế hệ sau.  Tôi bắt đầu hiểu sự trung thành đôi lúc bị che giấu giữa những người thân trong gia đình, nhưng đó luôn luôn là một yếu tố trong cách hành xử của chúng ta.

Giống như ngài Maha Ghosananda, bác sĩ Nagy dạy tôi không bao giờ đánh giá một gia đình.  Ông cho tôi thấy rằng tôi có năng lực để giúp đỡ một gia đình nếu tôi tập trung vào việc tìm hiểu sự thật hơn là chấp nhận những việc xuất hiện ở bên ngoài trông như là sự thật.  Tôi thấy được điều nầy rất nhiều lần khi tòa án gửi đến chúng tôi những bệnh nhân bị kêu án bạo hành trẻ em hoặc hành hạ vợ.   Người ta thường hay đánh giá hoàn cảnh và quyết định ai là người có lỗi trong gia đình.

Bác sĩ Nagy dạy tôi một phương thức để giúp đỡ những thành viên trong gia đình nói về cuộc sống của họ.  Ông nói rằng với những bệnh nhân mới, ông luôn luôn bắt đầu hỏi về việc họ giúp đỡ lẫn nhau như thế nào; câu hỏi đơn giản nầy là câu hỏi đầu tiên mà ông hỏi tôi về gia đình của mình.  Trước đó chưa từng có ai hỏi tôi về điều nầy, và câu hỏi nầy làm mắt tôi ngấn lệ bởi vì tôi đã cố gắng, cố gắng rất nhiều, để giúp đỡ gia đình của mình.  Tôi nhớ rằng mình đã cố gắng để tìm kiếm thức ăn cho mẹ và chị tôi, và tôi đã làm việc nhọc nhằn để sống sót vì tôi không muốn con trai mình mồ côi.  Cách nhớ nầy rất khác so với nỗi nhớ rùng rợn về gia đình mình đang chết dần mòn.  Tôi có thể nhớ khuôn mặt của mẹ tôi, và tôi biết tôi đã làm chính xác điều mà mẹ tôi muốn tôi làm khi tôi gắng gượng dùng chút sức lực còn lại để sinh tồn và chăm sóc cho con trai tôi.

Qua nhiều năm, tôi cảm nhận được sự quan trọng khi khuyến khích người ta nói về những gì đã xảy ra đối với họ, bằng cách tập trung vào sự mong muốn giúp đỡ.  Ý tưởng giúp đỡ dựa vào lòng từ bi, là gốc rễ của Phật giáo.  Đối với tôi, lòng từ là phương cách để kết nối với những người khác và cảm nhận những gì họ cảm nhận và để cho họ cảm nhận những gì tôi cảm nhận.  Lòng từ là cách chữa bệnh cho con người hữu hiệu nhất, những người từng bị tra tấn, lòng từ bi là phương thức duy nhất để giúp đỡ họ.

Người Cam-Bốt gọi những gì đã xảy ra ở Cam-Bốt là Mahantdorai.  Có nghĩa là thời đại của sự hủy diệt to tác.  Nó không những nói đến thời đại Khmer Đỏ, mà còn là thời đại của đất nước chúng tôi trong những năm cuối 1960 của cuộc nội chiến và dội bom.  Nó cũng nói đến thời đại sau quân Khmer Đỏ khi sự bạo tàn tiếp tục trong những bãi mìn ở Cam-Bốt và những trại tỵ nạn.

Tôi không biết tại sao việc xấu ác nầy xảy ra, nhưng mẹ tôi tin rằng quân Khmer Đỏ đã lạc đường.  Bà nghĩ rằng những năm chiến tranh làm cho con người bị rối loạn và bà cảm nhận rằng những người bị rối loạn có khả năng hành xử rất phá hoại, rất bạo tàn.  Quân Khmer Đỏ càng ác độc và bạo tàn, mẹ tôi càng tin rằng chúng tôi cần phải tập trung ý trí để mà sống sót.  Bà cảnh báo với chúng tôi rằng đừng để cho bản thân mình bị lệch lạc trong sự giận dữ và căm thù.  Tôi nghĩ rằng mẹ tôi lo sợ việc đánh mất lòng từ bi hơn là sợ quân Khmer Đỏ.

Quân Khmer Đỏ đi con đường ác.  Họ đã bị lạc đường.  Họ đã đánh mất sự liên kết với quyền năng của Phật giáo và với những người khác.  Họ chỉ có thể gây ra sự tàn ác và đau đớn bởi vì họ không còn cảm giác gì nữa.  Mỗi người sống sót mà tôi phỏng vấn đều mô tả làm thế nào họ đã bị cấm không được bày tỏ cảm xúc trong thời Khmer Đỏ.  Bất cứ dấu hiệu nào của nước mắt hoặc đau buồn đều bị mang tội tử hình.  Quân Khmer Đỏ thường hay nói rằng nếu như anh chị khóc khi một người bị giết hoặc chết đi, đó là vì anh chị cũng là kẻ thù, nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng quân Khmer Đỏ sợ sức mạnh của nước mắt.  Những người đang sợ hãi rất nguy hiểm.

Di sản của Khmer Đỏ là sự đánh mất mối liên kết nầy. Đây là điều mà con người lo sợ nhất nhưng đó cũng là phần khó tránh trong cuộc sống của chúng ta hôm nay.  Thân thể và tâm thức của chúng ta đã quen với cảm giác tê liệt mỗi khi chúng ta sợ hãi hoặc nhớ đến trải nghiệm của mình.  Cha mẹ mô tả mối liên hệ giữa họ và con cái bị cắt đứt, và con cái mô tả sự khó khăn khi kêu gọi sự chú ý của bậc phụ huynh.

Đối với những người làm việc với dân Cam-Bốt còn sống sót, không còn nghi ngờ gì bất cứ nơi đâu đều có những dấu hiệu của sự khủng hoảng và thương tật.  Dân tỵ nạn Cam-Bốt bệnh nhiều hơn những dân tỵ nạn khác về mặt thể chất cũng như tinh thần.  Như một cộng đồng chúng ta vô tổ chức, và gia đình chúng ta thường nghèo hơn những gia đình khác.  Gia đình chúng ta đang tan rã bởi vì con người không thể chia xẻ được gì – đặc biệt nhất là chúng ta không thể chia xẻ nỗi đau buồn của chúng ta.  Con cái chẳng còn kính trọng cha mẹ vì họ đã không còn dạy con làm điều tốt, tránh điều xấu và cũng không còn sức để dạy dỗ con cái.  Dường như nếp sống của người Cam-Bốt đã bị mất hẳn.

Tuy nhiên, tôi hy vọng cái nhìn của tôi sai lầm.  Tôi nhìn thấy dấu hiệu con người trở nên gần gũi hơn với nhau.  Qua nhiều năm, tôi biết rất nhiều người làm việc ngày đêm cố gắng giúp đỡ người đồng hương.  Mỗi cộng đồng đều có những người giữa đêm thức dậy để đi chăm sóc cho một người nào đó bị bệnh hoặc đang gặp khó khăn.  Khi Dự Luật Cải Cách Phúc Lợi (Welfare Reform Bill) lấy đi nhà cửa và thực phẩm của một số người, những người nghèo khác chia xẻ những gì họ có với hàng xóm và bằng hữu.  Những câu chuyện nầy làm cho tôi tin tưởng rằng những gì tôi trân quý về nếp sống của người Cam-Bốt vẫn còn tồn tại.

Như tôi tin rằng có rất nhiều người Cam-Bốt còn sống sót và đó là một phép lạ, tôi cảm xúc và tự hào thấy rằng nhiều giá trị từ niềm tin của người Phật tử vẫn còn tồn tại trong những cộng đồng của chúng ta và đặc biệt là tồn tại nơi những thanh thiếu niên.  Mục đích của quân Khmer Đỏ là sự kiểm soát thân thể, tinh thần và tâm linh của chúng ta và muốn chúng ta trở nên giống họ --- không có cảm xúc và chẳng có lòng từ.  Mặc dù họ đã xử dụng quyền lực to tác, họ chẳng bao giờ có thể làm được việc nầy.  Với một hành động bạo tàn, có ngay một trăm hành động thiện lành, kể cả trong những ngày đen tối nhất.

Tôi chẳng bao giờ mơ cuộc sống của mình là như thế nầy.  Tầm nhìn của tôi là làm một người vợ, người mẹ hiền đức và chăm sóc cho gia đình.  Sau tất cả những đau khổ, sức mạnh của tôi bắt nguồn từ Phật giáo.  Phật pháp tồn tại trong tâm hồn và tâm linh của tôi và nó đã cho tôi sức mạnh để làm việc nhọc nhằn chăm sóc cho những bệnh nhân và cộng đồng của tôi.  Mỗi thứ mà tôi cho đi, tôi nhận lại được một trăm lần hơn, và tôi tìm được sự thanh thản.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

1.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Được quan tâm nhất

Previous
Next

Đăng nhập