Nhân quả

Đã đọc: 5373           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Trong nghĩa thứ nhất, nhân quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng này (được gọi là nguyên nhân) sản sinh ra hiện tượng khác (được gọi là kết quả). Ở đây hiện tượng được hiểu là cái diễn ra mà con người bình thường có thể nhìn nhận, cảm nhận hoặc tự nhận thức được.

Nguyên lý nhân quả trong đời sống diễn ra trong tiến trình mà phần biết và phần được biết chỉ là sự phân lập từ một tổng thể chung là cái biết, cho nên hiện tượng mà nó tạo ra sẽ được gọi là hiện tượng nội sinh,  một hiện tượng mà danh từ Phật học gọi là nghiệp (kamma). Hiện tượng này không do một đấng quyền năng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào chi phối, nên nhân quả được xem như  một nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của đời sống được tìm hiểu từ trong bản chất của nó.

Sẽ rất khó khăn, đến mức không thể thực hiện được, nếu dịch ngắn gọn tựa đề của bài viết này sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga hoặc tiếng Đức… Bởi vì nhân quả trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa. 

Trong nghĩa thứ nhất, nhân quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng này (được gọi là nguyên nhân) sản sinh ra hiện tượng khác (được gọi là kết quả). Ở đây hiện tượng được hiểu là cái diễn ra mà con người bình thường có thể nhìn nhận, cảm nhận hoặc tự nhận thức được.

Có vô số thứ đang diễn ra, nhưng có thể phân cái diễn ra thành ra hai loại: cái diễn ra khi có tương tác giữa các đối tượng, và cái diễn ra trong bản thân đối tượng khi nó đang vận động. Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong hai loại hiện tượng này tất nhiên sẽ khác nhau. 

Tương tác là tác động qua lại giữa các đối tượng, là quá trình các đối tượng ảnh hưởng lẫn nhau, là một hình thức vận động, phát triển, chung nhất và phổ biến nhất mà người bình thường nhận thấy được. Quá trình tương tác làm thể hiện đặc tính [nhìn thấy được] của các đối tượng tham gia tương tác, và chính quá trình tương tác ấy xác lập mối quan hệ nhân quả. Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong quan hệ giữa các đối tượng được gọi là quan hệ nhân quả, tức là có nguyên nhân (cause) và có kết quả (effect). 

Trong quan hệ nhân quả, người ta có thể phân biệt nguyên nhân đầy đủ, nguyên nhân đặc thù và nguyên nhân cuối cùng. Nguyên nhân đầy đủ là tập hợp tất cả các điều kiện mà khi có chúng thì nhất thiết xuất hiện kết quả. Nguyên nhân đặc thù là nhóm điều kiện chính yếu trong số các điều kiện cần có để làm xuất hiện kết quả. Nguyên nhân cuối cùng là điều kiện cuối cùng của một tập hợp điều kiện mà khi có nó thì kết quả lập tức xuất hiện. 

Quan hệ nhân quả trong các tương tác diễn ra tức thời. Nếu một kết quả chỉ do một nguyên nhân thì ngay khi có điều kiện nguyên nhân, lập tức có kết quả. Nếu một kết quả do nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân không diễn ra cùng lúc, thì khi nguyên nhân cuối cùng diễn ra, tức là khi có đầy đủ các nguyên nhân, kết quả lập tức xuất hiện.

Ý nghĩa thứ hai của nhân quả được khoa học đề cập trong các nghiên cứu thế giới vi mô. Với việc E. Rutherford khám phá ra nguyên tử vào năm 1911 và với các thí nghiệm của N. Bohr năm 1913, người ta nhận thấy rằng khi một nguyên tử đưa ra một điện tích thì nó có khuynh hướng thu về  một điện tích cùng dấu. 

Nội dung của hiện tượng này xác định khuynh hướng của riêng một hệ sau khi đưa ra một vận hành, trong đó việc “đưa ra một điện tích” đóng vai trò là nguyên nhân (cause) còn “khuynh hướng thu về một điện tích cùng dấu” đóng vai trò là kết quả (effect). Đây là diễn biến bên trong một đối tượng chứ không phải là tác động qua lại giữa các đối tượng, do đó nó không được gọi là “quan hệ”, mà được gọi là “nguyên lý” - nguyên lý nhân quả.

Nguyên lý này khẳng định hai nội dung: “đưa ra thì thu về”, và “cùng dấu”. Với điều đó, hình thái của hệ vật chất vi mô sẽ hoàn toàn không có gì thay đổi sau khi đã đưa ra và thu lại một số điện tích như nhau.

Liên quan đến việc “đưa ra” và “thu về”, khoa học nhận thấy rằng khi được cung cấp năng lượng từ bên ngoài, các electron không chuyển động ra xa hạt nhân một cách liên tục mà gián đoạn theo từng bước nhảy, từ quỹ đạo gần hạt nhân sang quỹ đạo xa hạt nhân. Điều này có nghĩa là các electron chỉ chuyển quỹ đạo khi đạt đến một mức năng lượng đủ lớn nào đó. 

Ý nghĩa thứ ba của nhân quả thuộc về nhận thức của Phật học, được xem như  một nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của đời sống được xem xét từ trong bản chất của nó. Vấn đề nhân quả trong Phật học có liên quan đến một số nội dung nhận thức sau đây: 

1. Trong đời sống, con người nhận biết về bản thân mình và thế giới xung quanh mình bằng năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và hoạt động tư duy của ý thức, trong đó năm giác quan làm nhiệm vụ tiếp nhận và truyền đạt các thông tin từ bên ngoài còn ý thức làm nhiệm vụ xử lý thông tin và đưa ra một quyết định. Các nghiên cứu khoa học xác nhận rằng các tín hiệu kích thích ở đầu vào của các giác quan bị méo dạng trong quá trình phân cực lan truyền dọc theo các axon thần kinh. Dạng biến đổi mức phân cực trong các axon - tương ứng với cái biết ở các giác quan, hay còn được gọi là sự hưng phấn - hoàn toàn khác với dạng của các kích thích bên ngoài. 

Vì bản chất vận động truyền đạt tín hiệu trong các axon thần kinh ở các giác quan không phải là chuyển động cơ học mà là hiện tượng lan truyền cảm ứng phân cực điện nên cái biết ở mắt gắn với trạng thái phân cực điện trên thành axon, khi bị méo dạng so với kích thích, thì sự méo dạng đó không phải là méo dạng hình học hay sai lạc gam màu. Sự méo dạng ở đây cũng không chỉ bao gồm sự hạn hẹp trong phạm vi dải tần mà các giác quan có khả năng cộng hưởng (ví dụ như mắt không cộng hưởng được với các tần số ánh sáng bên ngoài dải đỏ hoặc bên ngoài dải tím). Do vậy, một cách nghiêm túc và thận trọng, không được phép kết luận rằng có một hình ảnh đích thực nào đó, nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà mắt thấy thành ra hình ảnh đang thấy. Và tương tự vậy, không được nói rằng có một âm thanh đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà tai nghe thành ra âm thanh đang nghe, có mùi đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà mũi ngửi thành ra mùi đang ngửi, có vị đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà lưỡi nếm thành ra vị đang nếm, có các tiểu thể xúc giác đích thực nào đó mà thân cảm nhận thành ra đối tượng xúc giác.

Chỉ có thể nói rằng: Có “những cái gì đó” gây ra kích thích và do sự truyền đạt không trung thực mà các giác quan biến đổi chúng thành cảm nhận hình ảnh ở mắt, cảm nhận âm thanh ở tai, cảm nhận mùi ở mũi, cảm nhận vị ở lưỡi và cảm nhận đối tượng xúc giác trên thân.

Trong Phật học, hiện tượng không truyền đạt các kích thích một cách trung thực trong các giác quan gọi là sự không nhìn nhận được (anidassana - vô kiến); hiện tượng truyền đạt không trung thực gọi là sự đối chiếu theo (sappatigha - hữu đối chiếu). 

Ta biết rằng, nếu một người nhìn một vật thể qua một tấm kính lồi lõm thì hình ảnh méo mó mà người đó thấy được là hình ảnh do tấm kính đem lại, vật chất cấu thành hình ảnh méo mó đó là vật chất của tấm kính, chứ không phải là hình ảnh hay vật chất của vật thể. 

Khi truyền đạt không trung thực thì các khâu truyền đạt trong các giác quan đóng vai trò như là những tấm kính lồi lõm. Do vậy mọi đối tượng vật chất mà con người cảm nhận như là các đối tượng thuộc khách thể bên ngoài chỉ là các hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnana - thức), và là hình thái vật chất (rupadhamma - sắc pháp) của cái biết ở các giác quan. 

Ngoài các đối tượng vật chất, con người còn biết về các đối tượng phi vật chất (đối tượng phi vật thể), là các đối tượng không có hình thể, không được cảm nhận ở năm giác quan, chỉ có khái niệm và tên gọi, được biết bởi ý nghĩ. Chúng là hình thái phi vật chất của cái biết, gọi là hình thái định danh (namadhamma - danh pháp), và cũng là các hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnana - thức). 
Nhưng ngay cả các giác quan cùng với thân xác vật chất của con người cũng là các vật thể, là các đối tượng vật chất trong sự cảm nhận của con người (ta nhìn thấy có các thân xác vật chất, có các giác quan), cho nên cùng với mọi đối tượng khác, chúng không thật. 

Điều này có nghĩa là mọi thế giới chỉ là các trạng thái biến đổi của cái biết (citta - tâm) và mọi đối tượng (dhamma - pháp) chỉ là các hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnana - thức) trong cái biết - “Thế giới duy tâm biến hiện. Mọi pháp duy thức”. 

Trong các hệ thống tương đối, cái biết phân lập thành hai phần: phần biết (darsababhaga - kiến phần) được nhìn thấy như là chủ thể, và phần được biết (minittabhaga - tướng phần) được nhìn thấy như là khách thể trong một hệ thống đồng nhất là cái biết  -  và đó là cái biết tương đối. 

Khi là cái biết tương đối, mọi cá thể có cái biết đều biết về các đối tượng như là có thật, và cảm nhận chúng như là khách thể, vì trong cái biết có thành phần tưởng thật (sannacetasika - tưởng tâm sở). Thành phần tưởng thật và tình trạng không sáng tỏ (avijja - vô minh) của cái biết tạo ra hiện tượng khách thể hóa. 

2. Từ một phương diện khác, khi đi vào bản chất của đời sống thì toàn bộ thế giới vật chất được nhìn thấy trong hệ thống vi mô được lấp đầy bởi các vi hạt. Trong thế giới vật chất vi mô không có sự phân biệt ra từng con người cụ thể hay từng đối tượng cụ thể, vốn vô cùng đa dạng và phong phú trong cái biết ở hệ thống vật chất vĩ mô. Nhưng điều này không có nghĩa là trong thế giới vi mô không tồn tại các cá thể có cái biết (sattva - chúng sinh) riêng rẽ. Ở đó, từng cá thể có cái biết vẫn tồn tại và chỉ có thể được xác định theo các tập hợp đặc thù của chúng; và vì các tập hợp đó không nhìn thấy được ở hệ thống vĩ mô nên chúng được gọi là các tập kín (khandha - uẩn). Trong thế giới mà con người đang tồn tại (thế giới dục vọng - kammavacara) từng cá thể có cái biết được xác định bởi năm tập kín (pancakhandho - ngũ uẩn): tập hình thái vật chất (rupakhandho - sắc uẩn), tập cảm nhận (vedanakhandho - thụ uẩn), tập tưởng thật (sannakkhandho - tưởng uẩn), tập vận hành (sankharakhandho - hành uẩn) và tập hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnanakhandho - thức uẩn).

Khi phần được biết (được nhìn thấy như là khách thể) có các biến động tạo thành các kích thích tác động lên phần biết (được nhìn thấy như là chủ thể) thì trong phần biết có sự cảm nhận và hoạt động vận hành phản ứng. Vì phần biết và phần được biết là do sự phân lập của một tổng thể duy nhất là cái biết nên chúng không thể được xem như hai đối tượng biệt lập; và do đó sự cảm nhận và vận hành phản ứng không thể được xem như là quan hệ tương tác giữa hai đối tượng độc lập mà phải được hiểu là diễn biến diễn ra trong nội bộ của một hệ khép kín - một cá thể có cái biết . 

3. Ngoài ra, trong từng cá thể có cái biết đều có hiện tượng lưu giữ thông tin. Khoa học ngày nay đã biết về hiện tượng lưu giữ thông tin ở một cơ cấu vật chất đặc biệt trong cơ thể người, gọi là gène. Hiểu biết ngày nay của khoa học còn rất sơ sài và phiến diện. Sơ sài vì mới biết về sự lưu trữ các thông tin ở hình thái vật chất mà chưa biết đến sự lưu trữ các thông tin ở hình thái phi vật chất. Phiến diện vì chỉ mới biết về sự lưu trữ mà chưa biết đến sự phát khởi.

Quan điểm của Phật học (được Đức Phật thuyết giảng cách đây hơn 2500 năm) khác với nhận thức của khoa học ngày nay ở chỗ có sự khẳng định rằng trong các cá thể có cái biết không chỉ có hiện tượng lưu giữ thông tin mà còn có hiện tượng phát khởi những thứ có nguồn gốc từ các thông tin đã được lưu trữ. Theo Phật học, hiện tượng lưu giữị và phát khởi diễn ra ở thể alaya (alaya - tàng thức). Thể alaya được trình bày như một thể mang lưỡng tính sóng hạt. 

Về nguyên lý, khi phần biết vận hành phản ứng trước các kích thích phát sinh do các biến động từ phần được biết thì thông tin về nội dung và tính chất của các vận hành phản ứng ấy (ý nghĩ, lời nói và hành động) được đưa vào lưu trữ ở thể alaya dưới dạng sóng dao động (vasana - tập khí). Sự lưu giữ được thực hiện dưới hình thức tổng hợp dao động, giống như kết quả phép cộng dao động của J.B.Fourier. Sau một thời gian lưu trữ, các thông tin đó phát khởi, làm phát sinh các biến động ở phần được biết, tiếp tục kích thích tác động trở lại vào phần biết. Do lưỡng tính sóng hạt nên cái phát khởi ra từ thể alaya được nhìn thấy là các vi hạt (bija - chủng tử), đóng vai trò là cơ sở cấu thành trường hoàn cảnh, tức là những thứ được nhìn thấy như là các đối tượng và diễn biến của chúng ở môi trường khách thể.

Thông tin khi đưa vào lưu trữ ở thể alaya không phát khởi ngay mà có một thời gian lưu trữ nhất định nào đó. Điều này cũng tương tự như hiện tượng chuyển quỹ đạo của các electron: phải có một sự tích lũy đủ lớn mới có được một bước nhảy phát khởi. 

4. Việc các thông tin về vận hành phát khởi tạo thành trường hoàn cảnh có liên quan đến các chu trình đời sống (kappa - kiếp) trong các hệ thống tương đối. Một mặt, sự tích lũy và phát khởi diễn ra song song, liên tục trong suốt chu trình đời sống; nhưng mặt khác sự phát khởi không diễn ra một cách tùy tiện hoặc theo trình tự tích lũy, mà theo một chương trình được định sẵn. Việc lập trình chỉ diễn ra một lần cho một chu trình sống, được tiến hành vào giai đoạn cận tử của chu trình sống kế trước.

Trong giai đoạn cận tử, toàn bộ các thông tin về các vận hành trong chu trình sống vừa qua được đưa vào lưu trữ ở thể alaya cùng với các thông tin còn sót lại từ các chu trình sống quá khứ, thực hiện việc lập trình chi tiết toàn bộ nội dung và tính chất của hoàn cảnh đời sống cho chu trình sống tiếp sau. Điều này có nghĩa là nội dung và tính chất của mọi hoàn cảnh trong một chu trình sống của mọi cá thể có cái biết đều đã được định trước. Nhưng sự định trước này là do nội dung và tính chất của các vận hành trong quá khứ của chính từng cá thể ấy quy định, chứ không phải do đấng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào khác quyết định. 

Do được lưu trữ trong cùng một thể, nên các thông tin lưu trữ có sự trao đổi thành phần với nhau, làm cho giữa nội dung thông tin lưu trữ và nội dung trường hoàn cảnh phát khởi không có sự tương ứng giống hệt nhau, mà có sự biến đổi sai khác (vikapa - dị thục). Ngoài ra, các sự kiện trong chương trình định sẵn cho một chu trình đời sống có thể thay đổi mức độ của tính chất do có sự bổ sung liên tục các thông tin về các vận hành đang không ngừng diễn ra trong chu trình sống hiện tại (vì tính chất của các vận hành hiện tại khi đưa vào lưu trữ có thể trao đổi với tính chất của các sự kiện định sẵn). 

Như vậy, khi một chủ thể vận hành tác động vào các đối tượng thuộc về môi trường khách thể thì quan hệ nhân quả diễn ra tức thời và nhìn thấy được. Trong khi đó, thông tin về nội dung và tính chất của các vận hành của chủ thể (phần biết) được đưa vào lưu trữ ở thể alaya. Sau một thời gian lưu trữ, sự phát khởi các chủng tử từ thể alaya sẽ tạo thành hoàn cảnh cho chính chủ thể trong tương lai, tương ứng về tính chất nhưng không giống hệt về nội dung. Nếu chủ thể đưa ra một vận hành đúng tốt (kusala - thiện) thì chủ thể có khuynh hướng thu nhận lại một hoàn cảnh tốt đẹp trong tương lai; nếu chủ thể đưa ra một vận hành sai xấu (akusala - bất thiện) thì chủ thể có khuynh hướng thu nhận lại một hoàn cảnh xấu dở trong tương lai. Đó là nguyên lý nhân quả trong đời sống.

Trong nguyên lý nhân quả của đời sống, vận hành của chủ thể (bao gồm suy nghĩ, nói và hành động) đóng vai trò là “cái nhân” (nucléus), còn hoàn cảnh tương lai đóng vai trò là “cái quả” (fruit). Nguyên lý nhân quả không diễn ra tức thời, người bình thường không nhìn thấy được. Sở dĩ tiếng Việt gọi nguyên lý này là “nhân quả” vì nó mô tả một hiện tượng giống như tiến trình phát triển của một hạt mang cái nhân, được gieo trồng. Cái hạt đó cần có một thời gian dài tiếp nhận thêm nhiều yếu tố bổ sung khác, biến đổi và phát triển để tạo thành cái quả. Do có sự tham gia của nhiều yếu tố tạo ra sự biến đổi sai khác trong tiến trình phát triển, nên nội dung của “cái quả” không hoàn toàn giống nội dung của “cái nhân” trong khi tính chất thể hiện ở chủng loại thì tương ứng hoàn toàn với nhau (tốt đẹp tương ứng với đúng tốt, và xấu dở tương ứng với sai xấu) - nhân nào thì quả ấy. 

Do nguyên lý nhân quả trong đời sống diễn ra trong tiến trình phát triển của riêng một hệ (vì phần biết và phần được biết chỉ là sự phân lập từ một tổng thể chung là cái biết), cho nên hiện tượng mà nó tạo ra sẽ được gọi là hiện tượng nội sinh (le phénomène endogène), một hiện tượng mà danh từ Phật học gọi là nghiệp (kamma). Hiện tượng nội sinh (kamma - nghiệp) diễn ra một cách tự nhiên, không do một đấng quyền năng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào chi phối.

Phật học được du nhập vào Việt Nam từ hàng ngàn năm trước và đã trở thành một phần rất quan trọng trong nhận thức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trước khi tiếp nhận ảnh hưởng của nền văn minh Phương Tây, người Việt ta đã có một trình độ nhận thức rất cao. Ít ra, trong phạm vi những vấn đề mà bài viết này đề cập, trình độ của dân tộc Việt Nam chúng ta từ hàng ngàn năm trước vẫn cao hơn hẳn trình độ của khoa học ngày nay. 

Về ngôn ngữ, lẽ ra mối quan hệ giữa “cause” và “effect” nên được gọi là quan hệ giữa lý do và thành sự, vì trong mối quan hệ đó không có sự phát triển của “nucléus” để tạo thành “fruit”. Nguyên nhân là cái nhân nguyên trạng ban đầu trong cái hạt được gieo trồng. Kết quả là cái quả được kết thành từ cái nhân ban đầu ấy.

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập