Hiểu rõ hơn về NGHIỆP

Đã đọc: 8462           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Khái niệm "nghiệp", thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời. Nhưng, trong Phật giáo, từ vựng này cũng chiếm một địa vị quan trọng đặc biệt, nên người học Phật ngày nay rất cần sự chiêm nghiệm lại nội dung của khái niệm này.

  I – "Nghiệp""hành".

Không thể cứ lẫn lộn mãi "nghiệp"(karma /kamma) với "hành" (samskara / samkhara). Một số sách tiếng Anh, tiếng Pháp cũng thường lẫn lộn như vậy, nên đã dịch chữ  Karma / Kamma bằng chữ action ( hành động ) ! Và dịch chữ samskara /samkhara là mental formation ( sự tạo thành trong ý ). Được biết có nhiều loại "hành"; như thường thấy, có "ý hành"( sự tác động của ý ), "khẩu hành" ( sự tác động bằng lời nói ) và "thân hành"( sự tác động qua việc làm của thân ), trong đó thông thường "ý hành"là khởi điểm, từ đó sanh ra những hệ quả là "khẩu hành"và "thân hành"; rồi đến lượt "khẩu  hàn" vả "thân hành" lại sanh ra những hệ quả của chúng. Như vậy, một cách tổng quát "hành"nên được hiểu là "sự tác động" và "sự tác động của ý"( ý hành ) là quan trọng nhất. Còn "nghiệp" là gì ?

Hãy hình dung việc bắn ra một mũi tên. Việc "bắn ra" là "hành". Và ngay sau khi được bắn ra, mũi tên bay theo  "cái trớn"( cũng gọi là "cái đà" ) của nó. "Cái trớn" hay "cái đà "ấy khá trừu tượng bao gồm ít nhất hai thành tố: hướng bay và vận tốc hay gia tốc bay. Khi biết được "cái trớn" của mũi tên ở một thời điểm T nào đó, người ta có thể tính biết được mũi tên đó sẽ rơi vào đâu và vào lúc nào. "Cái trớn" hay cái đà đó, trong vật lý học gọi là momentum, tương đương với nghiệp trong Phật giáo, và như vậy "nghiệp" được nên hiểu là spiritual momentum, hay "cái trớn tâm linh ". Mọi tác động hay khởi động vật lý nào cũng tạo ra "cái trớn".

Cũng vậy, mọi tác động của thân, khẩu và ý đều tạo ra nghiệp. Ta có: "thân nghiệp", "khẩu nghiệp" và "ý nghiệp" trong đó "ý nghiệp" là quan trọng nhất. Vô ý làm chết người, cũng tạo "nghiệp" nhưng nghiệp này nhẹ hay thoáng qua, tựa như hình vẽ trên bờ biền sẽ nhanh chóng bị sóng biển xóa mất; trong khi cầm dao đâm vào bao cát mà nghĩ rằng đang đâm cho chết một kẻ thù nào đó, thì nghiệp này sẽ nặng hay dài lâu.

II – " Nghiệp"" nhân quả"

Cũng không  phải lẫn lộn mãi "nghiệp" với "nhân quả". Thử nghiệm lại câu nói: “hãy cẩn trọng ý nghĩ của bạn, vì ý nghĩ dẫn đến lời nói; hãy cẩn trọng lời nói của bạn, vì lời nói dẫn đến việc làm, hãy cẩn trọng việc làm của bạn, vì việc làm tạo thành thói quen, hãy cẩn trong thói quen của bạn, vì thói quen dẫn tới "quả báo" ”.

Đó là một chuỗi "nhân quả" nối tiếp nhau, và tất nhiên nó không dừng lại ở chỗ "quả báo" vì: trên tiến trình vận động "quả" lại trớ thành "nhân", cộng hưởng với nhiều "duyên" khác, dẫn tới những "quả" khác nữa, đồng thời tạo nên rất nhiều tác động phụ. Ở đây, đề nghị lưu ý hai chữ "dẫn tới", và hãy đặt câu hỏi: Bởi năng lực nào mà có cái sự "dẫn tới" đó ? – Thưa: Bởi: "nghiệp LỰC" ( lực của "cái trớn" ). Như vậy, chính "nghiệp LỰC" tạo nên LUẬT nhân quả. Và khi "Luật nhân quả" được kiểm nhận như một "Luật Thép" thì "nghiệp luật" cũng được kiểm nhận là không thể vô hiệu hóa được. Tất nhiên, trong một giới hạn nào đó, ta có thể giảm bớt sự cộng hưởng của "nghiệp" với những "duyên" khác, đồng thời giảm bớt tác động phụ do nghiệp gây ra, trên tiến trình vận động hay chuyển biến của nó.

Mấy điều ghi trên phải chăng là trái với điều mà hầu hết các sách đều cho rằng: sau khi tạo ra "nhân"bất thiện, nếu không tạo "duyên" cho nhân này nẩy nở, thì sẽ khỏi gặp lấy quả "bất thiện" ? Ở đây cần phân biệt “ lý tắc nhân quả ”( causality ) và “tổ hợp nhân duyên” cũng gọi  là "nhân duyên sanh" ( causation ). Và cần hiểu là "nhân" cũng như "quả", trong quan hệ "nhân nào quả nấy"của "lý tắc nhân quả" chính nó cũng là một "tổ hợp nhân duyên". Khi " tổ hợp nhân duyên" gọi là "nhân" thay đổi tính cách thì "tổ hợp nhân duyên" gọi là "quả" của nó cũng tương ứng theo. Sự thay đổi này rất có thể thực hiện được, nhưng chỉ được thực hiện trong "tổ hợp nhân duyên" gọi là "nhân". Tuy có sự thay đổi như vậy nhưng nguyên tắc “ nhân nào quả nấy ” cũng "lý tắc nhân quả", vẫn không hề bị sai phạm; và "nghiệp lực " vẫn thể hiện công năng của nó.

III – “ Chuyển nghiệp” và “ dứt nghiệp”

Được biết:

1- Sự tác động hay khởi động, như việc bắn ra mũi tên nêu trên, cũng gọi là "nhân" trong quan hệ "nhân quả", một khi đã được thực hiện thì không thể trờ lại được; mà "quả" thì chưa có chỉ có cái " nghiệp" đang vận hành.

2- Mỗi chúng sanh, hay mỗi người chúng ta, đều đã trãi qua vô số kiếp trong quá khứ, bởi "nghiệp" trước mà sanh ra ở đời này; cũng chính "cái nghiệp" ấy nó chi phối hay khống chế mọi tư duy, nhận biết, lời nói, ứng xử …cùa ta; tức là các "nghiệp" mới do ý nghĩ, lời nói và việc làm của ta tạo ra trong kiếp sống này, trên nguyên tắc, cũng đếu bị khống chế, lập trình, định hướng bởi "nghiệp". Trong khi ở trên lại nói: “ Luật nhân quả” là một " Luật Thép" và "nghiệp lực" không thể vô hiệu hóa được, vậy vấn đề " chuyển nghiệp" hay "dứt nghiệp" phải được hiểu như thế nào ?

Cấn lưu ý rằng:

1- Mọi tác động hay khởi động đếu tạo ra "nghiệp" ( trớn hay đà ); như vậy "nghiệp" là "pháp được tạo thành" ( do duyên sanh,hay hữu vi ) tức là không có tự thể riêng và chịu luật "vô thường", chứ không thể tốn tại mãi mãi.

2- Trong tiến trình vận hành của "nghiệp" như chuỗi nhân quả nối tiếp nhau nếu trong đoạn I: "nhân" đầu (N1) dẫn tới "quả" đầu (Q1), quả N1 này lại thành "nhân" ( N2), nó chiêu cảm và cộng hưởng với các "duyên" mới (khác), dẫn tới "quả" (Q2); "quả" Q2 này lại thành "nhân" (N3), nó chiêu cảm và cộng hưởng với các "duyên" khác, dẫn tới "quả"( Q3 ), cứ thế tiếp tục. Thế nên "nghiệp lực"có thể được tăng thêm hay giảm bớt; đồng thời nó cũng tạo ra nhiều tác động bậc 2,3,4 …tạo thành một chuỗi như chuỗi " 12 nhân duyên" mà đức Phật đã dạy; trong đó mỗi mắc "xích" là một " tổ hợp nhân duyên" cũng là chỗ có thể cải tạo hay chuyển hóa được. Tức là có thể thực hiện được việc "chuyển nghiệp" hay "dứt nghiệp".

Ở trình độ con người, sự việc diễn ra không đớn giản như chuyện mũi tên nêu trên,  vì trong mỗi con người vốn có sẵn khả năng tự dự phóng cho mình cái “nên là". Và sự hiện hữu thực sự của mỗi người thể hiện qua ý chí huy động namg8 lực này để "chuyển nghiệp" hay " dứt nghiệp" của mình, ngược lại, nếu buống thả theo sự đưa đẩy cùa "nghiệp" dẫn đến cái "sẽ là"như một loại "tiền định" của thuyết "định mệnh" thì người ấy không thực sự hiện hữu.

Bây giờ chúng ta hãy hình dung, thay thế mũi tên bắng một phi thuyền, có năng lực nội tại và người lái đang bay và:

- "Dứt nghiệp"tương tự như người lái tắt hết các máy, chỉ nương theo cái trớn còn lại đưa phi thuyền đáp xuống nơi an toàn nhất. Truyền thống "tiểu thừa" (khác với Theravada ngày nay, đã có nhiều thay đổi ) đặc biệt chú trọng hướng tu này, chủ yếu họ giữ giới nghiêm tịnh, đóng cửa các "căn" (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân), tránh tồi đa việc tiếp xúc với cõi đời mà họ cho là ô uế, thanh tịnh tâm lý, dứt sạch mọi chất bám, mong cầu, đạt quả vị A-la-hán đợi hết "nghiệp" cũ, nhập “vô dư Niết-bàn ”.

- "Chuyển nghiệp" tương tự việc người lái vừa lợi dụng cái trớn dang có. vừa vận dụng năng lực nội tại để tăng tốc và lái phi tuyền bay sang hướng khác. Truyền thống "đại thừa" đặc biệt chú trọng hướng tu này. Chủ yếu họ vượt "ngã chấp" và "pháp chấp",  từ bỏ mọi mục đích vì bản thân và phát đại nguyện “thành Phật cứu độ chúng sanh”, chẳng những không lánh đời mà còn phải gắn bó với mọi chúng sanh bằng cách thực hành nhiều phương tiện thiện xảo v.v.. Pháp môn Tịnh độ cũng chủ yếu dựa trên sự phát nguyện có tính chuyển nghiệp này (nguyện vãng sanh cũng nằm trong đại nguyện nêu trên ).

- Thiền tông không đặt vấn đề "chuyển nghiệp" hay "dứt nghiệp". Họ chỉ chú trọng việc nắm bắt, thâm nhập và an lập trong thực tính vốn thanh tịnh của mọi pháp ( hiện tượng ), trong đó có cả "nghiệp".

IV – “Cộng nghiệp” và “ biệt nghiệp”

" Cộng nghiệp" là nghiệp của cái "toàn thể", còn "biệt nghiệp" là nghiệp của mỗi "thành phần" ( hay thành viên) cấu thành cái "toàn thể" đó. Ví dụ như, gia đình là một "toàn thể" đươc cấu thành bởi các thành viên của nó, gồm cha mẹ, các người con..nhưng gia đình là một "đương thể" (entity ) hoàn toàn khác với mỗi thành viên của nó, cũng hoàn toàn khác với cái " tổng thể " của các thành viên đó. Bởi vì gia đình không phải chỉ được cấu thành bởi những thành phần thuộc dạng vật thể ( như cha mẹ, các con) mà còn bởi các thành phần phi vật thề ( như gia phong, truyền thống… ) Do chỗ khác biệt này mà chỉ những người cha mẹ đã qua đời, gia đình vẫn tiếp tục tồn tại với những "thành phần cấu thành" mới (khác) của nó và trong những điều kiện khác của hoàn cảnh –cái "toàn thể gia đình", dù phụ thuộc vào các thành phần cấu thành nó ( nó không có "tự thễ" riêng và chịu lực vô thường ) nhưng nó hiện hữu và tốn tại dài lâu, đồng thời vẫn luôn luôn chuyển biến hay vận động theo cái "nghiệp" của nó, chứ không phải bất biến. Ở phạm vi lớn hơn, cái làng chẳng hạn, làng là "toàn thể" đựơc cấu thành bởi nhiếu gia đình; ở mức độ này, "nghiệp" của gia đình là "biệt nghiệp", so với nghiệp của làng là "cộng nghiệp". Cũng vậy, nhìn mở rộng ra thêm nữa, ở phạm vi quốc gia –dân tộc đến toàn thể giới – nhân loại  v.v..

Ở mức độ, mỗi thành viên gia đình, mỗi người ( cha, mẹ, con…) gọi một cách tổng quát là mỗi "nhân thể" ( person / pudgala ), đều là một "toàn thể", được cấu thành bởi năm "uẩn" ( sắc – thành phần vật thể – thọ, tưởng, hành và thức – các thành phần phi vật thể ) – nó không có "tự thể" riêng ( phụ thuộc vào các thành phần cấu thành nó ) và chịu luật vô thường, nhưng nó hiện hữu và hoàn toàn khác biệt với " thành phần cấu thành" đó. Trong trường hợp này, cái nghiệp của mỗi "nhân thể" là " cộng nghiệp" và cái nghiệp của mỗi "uẩn" là "biệt nghiệp". Do chỗ khác biệt này mà, khi một vài "uẩn" ("sắc uẩn", "thọ uẩn", hành uẩn", chẳng hạn ) tan rã ( chết ), cái "nhân thể" ( toàn thể ) vẫn tiếp tục tồn tại –mà nhiều người gọi đó là "linh hồn" hay "vong linh" v.v., và tiếp tục chuyển biến theo "cái nghiệp" của nó hay "đầu thai" vào trong những điều kiện sống mới: hoặc ở dạng phi vật thể ( ở "cõi vô sắc" ), với nhiều tầng mức khác nhau; chỉ có "thức uẩn", có "thức uẩn " và "hành uẩn". Có "thức uẩn" "hành uẩn"  và "tưởng uẩn", hay có cả bốn uẩn phi vật thể ( thọ, tưởng, hành và thức ) hoặc dưới dạng "sắc thể" vi tế mà mắt thường không thấy được ( ở "cõi sắc" ); hoặc sanh trở lại "cõi dục", làm người A-tu-la, súc sanh …

V – "Cận tử nghiệp"

"Cận tử nghiệp" của một người ( nhân thể / pudgala ) là cái nghiệp hay "cái trớn tâm linh"hiện diện trong lúc thân mạng của "nhân thể" đó đang trong tiến trình tan rã. Sau khi rời khỏi xác thân " nhân thể" đó vẫn tồn tại dưới dạng không có xác thể ( thường được gọi là " linh hồn" hay "vong linh" ). Tức cái nghiệp cận tử ấy vẫn tồn tại và bằng năng lực của nó, tiếp tục hành hoạt, dẫn đưa "nhân thể" ấy đến nơi tương ứng ( đã được ký giữ trước trong nghiệp ) .

Và, câu hỏi được đặt ra là: có thể cải tạo "cận tử nghiệp" không ? Trừ một trường hợp cực kỳ hiếm hoi, nói chung: không thể cải tạo được "cận tử nghiệp". Bởi vì, sau khi thực sự rời bỏ thân mạng này và trước khi thọ nhận thân mạng tiếp theo, tức là đang trong " hiện thể trung gian" ( trung ấm / antarâbhava )  "nhân thể" ấy không còn năng lực nào nữa ngoài "nghiệp lực"; mà "nghiệp lực" thì không thể cải tạo "nghiệp lực" được.

Thế nhưng trước khi rời bỏ thân mạng, có thể thay thế "cận tử nghiệp" này bằng một "cận tử nghiệp" khác. Do chổ, mỗi người chúng ta đều đã trải qua vô lượng kiếp trong quá khứ, đã nhiều lần được sanh về các cõi cao lành, cũng như nhiều lần bị sanh về cõi thấp dữ: tất cả các trải nghiệm đó đều đã được ký giữ trong "tàng thức" dưới dạng "chủng tử". Và, ngay trước khi rời bỏ thân mạng (cận tử), bằng một phương pháp đặc biệt ( nhờ bạn đạo đọc kinh tiếp dẫn, nhờ một vị thầy chuyên tu pháp môn này …) một " chủng tử" cao lành được nhắc nhở, được đưa lên lại ở phần ý thức và được khởi động; như vậy "cận tử nghiệp"mới này tiếp tục hành hoạt sau khi thực sự rời bỏ thân mạng, dẫn đưa "nhân thể" ấy đến nơi tương ứng với "nghiệp lực "mới này.

VI – Nghiệp và "vô ngã"

Cái nhân thể (person / pudgala) ấy được gọi một cách phổ thông là "cái tôi"  hay "cái ta". Có vẽ trái ngược với pháp lý "vô ngã" ( "không có cái tôi" ) của nhà Phật chăng ? Chúng ta cần xem lại pháp lý "vô ngã".

Một cách tổng quát, giáo truyền bản thể học của Bà-la-môn giáo cho rằng có một Brahmà (thường được dịch là "Đại hồn" hay Đại ngã, cũng gọi là Đấng tối cao ), là trung tâm của sự sống của cái "Toàn thể vũ trụ", từ đó phóng ra vô số tia năng lượng, mà mỗi tia hóa hiện thành Atma ( hay Atta, thường được dịch là "linh hồn", hay "linh thể", hay "tiểu hồn / ngã") là trung tâm của sự sống của mỗi cá thể chúng sanh ( con người ). Atma vốn cùng một tính thể với Brahman, tức cũng là "tự thể"thường còn bất biến trong mỗi chúng sanh ( con người ) nhưng vì đã trải qua bao kiếp trầm luân, sống trong sự ràng buộc của thể xác và của bản năng động vật, Atma /Atta nơi chúng sanh bị che lấp, bị bỏ quên, bị dánh mất…Từ luận điểm này, họ đưa ra phương hướng tu, với nhiều phương cách khác nhau nhằm làm sáng tỏ lại Atma /Atta vốn sẵn có trong chính mình, và đưa nó trở lại nhập vào làm một với Brahma vốn là điểm phát sanh nguyên thủy của nó. Và giáo thuyết Anatma Anatta của Đức Phật là nhằm phủ bác giáo thuyết bản thể học nói trên; mà có thể là Đức Phật xác quyết rằng: không hề có cái Atma ( an-Atma/an Atta ) tức không hề có cái gì là "tự thể" thường còn bất biến trong mỗi "nhân thể" con người vốn chỉ được cấu thành bởi năm "uẩn": sắc, thọ, tưởng, hành và thức, cả năm đều luôn luôn biến động theo luật "vô thường"; do đó, "nhân thể" cũng luôn luôn biến động theo luật "vô thường".

Giáo thuyết Anatma /Anatta của Đức Phật, như vậy là hoàn toàn có thể hiểu được, hay kiểm nhận được, ngay cả trong phạm trù hiện tượng giới ( tục đế ). Nhưng khi chuyển sang Hán Văn, Anatma được dịch là "vô ngã" và được hiểu là "không có cái tôi / ta" đến "không có cả cái nhân thể". Cách dịch này rõ ràng đã lệch ý hàng vạn dặm, rồi cùng với cách hiểu nêu trên, nó đưa tới nhiều rối rắm trên bình diện triết học và luận lý học !!! Chẳng hạn như ta có thể nêu câu hỏi: Nếu không có cái tôi/ta hay cái "nhân thể" thì Thái tử Tất-đạt-đa là cái gì ? Ai ( hay cái gì ) đã trải qua vô lượng kiếp và cuối cùng thành Phật hiệu là Thích Ca ? và còn hàng loạt câu hỏi khác có thể được nêu ra

Có người cho rằng nên xem thực trạng "vô ngã" gồm cả thực trạng "không có nhân thể " là thuộc Chân thật giới ( Chân đế ), và là một trong các thành quả tồi hậu của quá trình tu chứng. Trong khi "nghiệp" là một pháp hữu vi, được sanh ra tất nhiên thuộc hiện tượng giới ( tục đế ); nó hiện hữu cùng với "nhân thể", chứ không phải với cái Atma vốn không hề có; khi tu đạt đến thực trạng "vô ngã" thì cả "nhân thể" và "nghiệp" đều là "vô". Đây cũng là một cách lý giải, nhưng một cách đơn giản hơn, chỉ cần trở về với giáo thuyết Anatma / Anatta nguyên thủy thời "nghiệp" và an-Atma (an- Atta) như vừa nêu trên, hoàn toàn không có gì mâu thuẩn nhau.

Nguồn: Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo 123

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

4.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập