Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Nghe Pháp & thực hành Pháp Hoằng Pháp Trước Những Thách Thức Mới

Hoằng Pháp Trước Những Thách Thức Mới

Đã đọc: 27725           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Phật giáo V.N đang đứng trước sự thách đố của thời đại,mà tính chất đặc thù nhất là văn hóa – kinh tế thị trường.

 Trong một năm qua trên các trang thông tin đại chúng, nhiều bài viết đã nói lên lối suy nghĩ,cách hành xử của hệ thống lãnh đạo nói riêng và của người phật tử nói chung.

  Về Giáo hội cũng đã có những cuộc hội thảo lớn  tổ chức nhằm tìm ra phương pháp đưa đạo Phật ngày càng hưng thịnh hòa nhập cộng đồng

Thể hiện  là: hội thảo hoằng Pháp toàn quốc 2010 tại Kiên –Giang với chủ đề : hoằng pháp với tinh thần Hộ Pháp – An dân .

 Hội thảo  có những mục tiêu :

-         Hoằng pháp với đồng bào dân tộc

-         Hoằng pháp với thanh thiếu niên

-         Hoằng pháp với công tác từ thiện xã hội

-         Hoằng pháp với thời hội nhập,đường hướng về việc hoằng pháp ở hải ngoại

-         Hoằng pháp với vấn đề môi trường và thay đổi khí hậu toàn cầu

-         Hoằng pháp với việc xây dựng chùa văn hóa ,phát triển đời sống tâm linh .

-         Đạo đức xã hội và phát triển kinh tế qua mô hình du lịch tâm linh.

   Muốn thực hiện được những mục tiêu trên cần có sự chung tay góp sức của nhiều hệ thống. Từ Giáo hội Phật giáo đến Nhà nước từ người Phật tử tại gia đến đông đảo quần chúng.

   Vì sao? Vì Phật giáo V.N luôn gắn liền với dòng lịch sử đất nước.Thử nhìn lại 35 năm thống nhất là 35 V.N lần thay da đổi thịt và hơn hết có cơ hội tiếp cận với cộng đồng thế giới.Khi đất nước bắt đầu vén cửa nhìn ra thế giới thì cũng là khi P.G.V.N chuẩn bị đương đầu với những thách thức mang tính chuyển biến tất yếu của thời đại.

 Đông đảo phật tử, giới trẻ V.N đang nghĩ gì,nghe gì, thấy gì trước hoàn cảnh mới của Dân tộc và Đạo Pháp?

   Riêng người viết, khách quan nhìn nhận P.G.V.N hiện nay đang tiến về mặt hình thức nhiều hơn nội dung

 Bởi vì khi nói về vấn đề hoằng pháp thì cần biết rằng: “Hình thức lễ nghi cúng vái, thờ tự rực rỡ,ngôn ngữ cường điệu,kêu to mà không có một nội dung hay tương xứng là một trang trí trống rỗng và ngược lại một nội dung và hành đạo phong phú mà không có một hình thức tốt làm phương tiện chuyển tải đến người khác tạo được sự quan tâm của quần chúng là một viên ngọc quí còn bị lãng quên trong cát bụi”.Trích lời Sư DawGunasari

 Muốn biết sự tương quan  giữa hình thức và nội dung hay tác động qua lại giữa khuynh hướng kinh tế thị trường và sinh hoạt của Đạo Phật, chúng ta cần có một khái niệm cơ bản về những đặc tính tiêu biểu của văn hóa kinh tế thị trường và khuynh hướng hoằng pháp, hành Đạo của P .G. Đó là Phật pháp không ly tách thế gian. Sự uyển chuyển của tinh thần Phật giáo được chứng minh qua dòng lịch sử và sự hiện diện xuyên suốt hơn 25 thế kỷ qua Sự uyển chuyển đó là ( tùy duyên bất biến )điều này phải được những người con Phật áp dụng linh động khi học đạo cũng như hành đạo,mỗi cá nhân hay tập thể phải tùy thời đại, hoàn cảnh, con người.Nhưng nhất thiết con đường cứu khổ và giải thoát của đạo Phật thì không bao giờ thay đổi.Tinh thần tùy duyên là phương thức vận dụng linh hoạt rất phù hợp với tính đa dạng của văn hóa-kinh tế thị trường.

 Trong thời đại hiện nay người phật tử cần có lối suy nghĩ tích cực hơn,đó là sự dấn thân để khai phá và sáng tạo về mặt tư duy, cần đào sâu,thí nghiệm về mặt tìm tòi,học hỏi. Đừng bắt chước nguyên hình mà cần sáng tạo phát minh mới đó là hành động tích cực tìm về với sự sống sinh động.Đừng quá rập khuôn theo nếp cũ với tinh thần sùng bái một đấng thần linh tuyệt đối mà hầu hết các tôn giáo đã đưa tình trạng tôn giáo và khoa học phủ nhận nhau.     Đức Phật thấy rõ bản chất tự lực của chúng sanh nên đã lập đi, lập lại trong kinh điển nhất là lời di huấn tối hậu trước khi nhập diệt :Rằng hãy

 ( Tự mình thắp đuốc lên mà đi ) vì Ngài cho rằng sự tin tưởng mù quáng không tự mình kiểm chứng đúng sai.Dẫu tin vào  Phật cũng là vô minh.

 Xong khi nhìn vào đạo Phật ,phải nhìn từ ba phía: Giáo lý ( chiều sâu ) – người theo đạo Phật (chiều rộng ) – phương thức tu học và hành đạo ( chiều dài ) Những hình thức và cách thức sinh hoạt như lễ hội to lớn, chùa chiền rực rỡ,phật tử tại gia, tu sĩ xuất gia  kinh kệ rộn ràng …chưa phải là ấn chứng của sự  hưng thịnh. Nếu thiếu đi chiều sâu tâm linh của :                   (Tăng già hòa hợp – Tứ chúng đồng tu ).Tôn giáo nào cũng có mặt thiện, mặt tích cực của đời sống tâm linh. Trong những trường hợp một tôn giáo bị thoái trào,hầu như tất cả đều do sự vô minh của người theo đạo và sự vận động của cách hành trì Tôn giáo đó. Đạo Phật cũng không thể đứng ngoài thông lệ đó.

   Bởi vậy đứng trước sự chuyển biến tất yếu, người Tu sĩ phật giáo  cần sáng taọ trong công cuộc hoằng Pháp lợi sinh.Thực tế cho thấy Tăng đoàn Phật giáo đang đứng trước sự chuyển giao giữa trật tự xã hội truyền thống sang trật tự xã hội thời hiện đại.Hay nói đúng hơn đang đi từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền văn minh dựa trên sản xuất sang nền văn minh dựa trên tri thức.

 *  Vậy Tăng đoàn cần Phải làm gì để duy trì và phát triển giáo pháp của  Đức Phật, khiến cho gia tài Chánh Pháp của Ngài không bị mai một?. 

Trong thời đại thông tin, tầng lớp có trình độ học vấn  chiếm tỷ lệ cao. Mọi người tiếp cận được nhiều kho tàng tri thức và thông tin hơn rất nhiều so với trong quá khứ, và sự hiểu biết về những vấn đề thế gian, và thậm chí cả Phật giáo, tinh tế hơn những thời kỳ trước rất nhiều. Họ kỳ vọng giáo pháp của Đức Phật phải phù hợp với những tiêu chuẩn mà họ đã học được từ các  kiến thức cao qua trường Đại học,qua thông tin đại chúng, nên họ sẽ không dễ dàng tiếp nhận giáo lý được truyền đạt bởi những vị đạo sư dựa vào lòng kính mộ và niềm tin không trắc vấn như trong truyền thống thời xưa cũ.

 Họ được đào tạo phải tra vấn và tìm tòi, và họ sẽ áp dụng phương pháp đó mỗi khi họ nghiên cứu Phật giáo. Vì thế Tăng ni phải sẵn sàng để trả lời rất nhiều câu hỏi. Quý vị Tăng ni không thể trông chờ đón nhận sự kính trọng khép nép từ phía người thế gian; mà họ phải nhận sự kính trọng qua việc giải thích giáo pháp rõ ràng, chính xác và thuyết phục.

Bản thân chư Tăng ni sẽ cần phải được đào tạo nâng cao, chính yếu là trong Phật giáo nhưng phải có thêm những mảng liên quan trực tiếp đến giáo lý, chẳng hạn như triết học và tâm lý học hiện đại, và còn nhiều lĩnh vực chính đáng khác nữa. Làm thế nào để kết hợp hài hòa thế học vào trong môi trường xuất thế là một vấn đề khó khăn; giải pháp phải được đưa ra từ phía những nhà giáo dục Tăng ni.  

Xong chúng ta không thể chỉ tìm kiếm kiến thức mà không có thực hành, cũng không thể thực hành một cách mù mờ mà không có sự soi sáng của hiểu biết

Giáo pháp của đạo Phật thuyết phục mọi người không chỉ bằng vào khía cạnh trí tuệ của nó, cũng không phải bằng luân lý thực hành, mà đặc biệt bằng hệ thống tu tập tâm linh của nó. Đây chính là điểm khiến cho Phật giáo khác biệt cơ bản với tất cả các hệ thống tôn giáo khác: nó nhấn mạnh trên vai trò trung tâm của cái Tâm trong việc quyết định hạnh phúc hay khổ đau, và đưa ra các phương pháp thực hành (pháp môn) để rèn luyện cái Tâm ấy.Vì thế, có một pháp môn rất quan trọng đối với nhiều người là sự thực hành Thiền định. Đây là một “cánh cửa” cho những ai muốn đi tìm cái đích thật sự trong đạo Phật. Vả lại, Thiền định cũng là một pháp môn cho những Phật tử  làm việc trong các lĩnh vực khoa học và có đầu óc hoài nghi, ưa tìm tòi.

Theo người viết, nhiệm vụ của Tăng Đoàn là phải nói lên tiếng nói của lương tâm Phật giáo, hãy nêu cao những giá trị đạo đức Phật giáo trong việc giải quyết những vấn đề to tát đang phải đối diện đó là: Sự thử thách lớn nhất của P.G trong thời đại mới.Thời kỳ toàn cầu hóa mà Theo Mark J.Kinley trong tác Phẩm nghiên cứu  nhận định nhan đề: cao trào cực đoan tôn giáo đưa ra 3 điều đáng sợ nhất mà các tôn giáo có khả năng đương đầu gọi là ( Bộ ba tai họa ).

 1-Thế tục hóa Tôn giáo: Không có biên giới rõ ràng giữa đạo và đời.

Thần quyền và thế quyền tranh giành ảnh hưởng đến quần chúng nên Tôn giáo và chính trị tấn công nhau – loại trừ nhau trực tiếp hay gián tiếp.Bằng hình thức này hay hình thức nọ.Hệ quả không tránh được là nội tình tôn giáo phân hóa và chia rẻ. Gây tình trạng sa sút, ảnh hưởng tích cực từ phía hàng ngũ lãnh đạo và suy sụp niềm tin trong mọi giới tín đồ.

  2 – Mê tín hóa tôn giáo: Triết lý và đức tin tôn giáo bị hạ thấp xuống tầm mê tín dị đoan. Biến tôn giáo thành phương tiện thờ cúng nhảm nhí vì kẻ hành xử tôn giáo diễn kịch kinh điển một cách ấu trĩ và sai lệch hoặc vì kém cõi, Hoặc vì cố tình lèo lái Đạo theo đường tà, nhằm phục vụ một chủ đích nào đó bên ngoài tôn giáo.

  3 – Kinh tế hóa tôn giáo: Đem tôn giáo ra làm phương tiện đầu tư,đổi chác kinh doanh trục lợi , làm ăn. Dùng vật chất mua chuộc người theo và bán đức tin được sơn phết một cách thiếu đạo hạnh tôn giáo.

  Giải quyết được 3 vấn nạn trên, thì với tâm lực mạnh mẽ, ý chí của những vị thánh giả, những người đã giác ngộ chân lý tối thượng siêu xuất thế gian.

 Phải sáng suốt tìm ra những hiện tượng tiêu cực từ lòng tham lam ,thù hận , ích kỷ của con người bất thiện đang không ngừng nhen nhúm .Nên Tăng đoàn hay nói đúng hơn,những người con Phật , cần nên quán xét và nhận rõ vị trí và trách nhiệm của mình   Muốn  hoàn thiện trách nhiệm thiêng liêng của người con Phật,nhằm góp phần phụng sự cho Đạo,cho đời.Làm cho điều thiện, điều tốt ngày càng tăng thêm,và cái ác,cái bất thiện ngày càng giảm xuống.Người viết thiết nghĩ những người con trong chánh pháp của chư Phật cần nổ lực tinh tấn tu tập nhiều hơn nữa trong tinh thần tam tụ, lục hoà của  Phật dạy,cần nên sống và tu theo hiến chương,theo nội qui trong lòng ngôi nhà  G.H P.G .V.N.Làm được như vậy,Tăng đoàn mới thực sự có đủ sức mạnh tinh thần,thể hiện,cái hay,cái đẹp,cái thiện,cái diệu của Phật pháp góp phần phụng sự nhân sinh.

Cần có những đóng góp  tích cực cho nhân loại bằng con đường hoằng pháp lợi sinh, đúng theo con đường mà Đức Thế tôn đã dày công tu tập, và truyền thừa cho những người thừa hành sứ mệnh Như lai . Đây thực sự là vấn đề quan trọng mà nó phụ thuộc vào chính những thành viên của Tăng đoàn, vào mỗi thế hệ tiếp nối của những người xuất gia, bởi vì tương lai của Phật giáo chính là tương lai của Tăng đoàn hay ngược lại, tương lai của Tăng đoàn chính là tương lai của Phật giáo./.

 

                                                                                   An-Khê – Gia-Lai

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (5 đã gửi)

avatar
Thanh Liêm 08/02/2011 05:16:56
Thân chào Ngọc Chơn
Bài viết cô động tư tưởng khá hay, nhưng nên để nguồn cho bi ết tác giả viết chứ không phải m ình viết, nhà viết văn là sáng tác của m ình do đó, Ngọc Chơn nên cẩn thận, và theo t ôi nghĩ bạn không biết về Vị Sư Ni này, tôi tặng bạn bài vi ết bằng tiếng anh nói về người nữ tu này và bài viết của các huynh trưỡng ở phía dưới để bạn kiểm chứng có phải bài viết này là của tác giả hay bạn là tác giả.
Daw Gunasari.
Women in the Buddhist monastic tradition known as bhikkhuni, or female monks, are gradually reviving the order which has lain dormant for almost a millennium, but their efforts are meeting with scant enthusiasm in Burma, Buddhist practitioners say.
“When I did research on becoming a bhikkhuni, I found indications in all of the research that it was possible to recreate bhikkhunis, and I was greatly pleased,” Burmese bhikkhuni Daw Gunasari said in an interview at a U.N. award ceremony in Bangkok in honor of International Women’s Day.
In December 2004, Burmese authorities detained another bhikkhuni, Daw Thissawaddy, on her return to the country after she wrote to the top Buddhist authority, the Sangha Nayaka Council, asking for the practice of female monks—known as bhikkhuni and accepted in Sri Lankan traditions of Theravada Buddhism—to be reinstated in Burma, citing historical precedent.
Asked about her government’s attitude to the order, Daw Gunasari said: “When they said we were destroying the teachings of Buddha, we don’t have any intention to cause any disharmony in the monastic community. We just look at the rules of conduct and believe that we are right.”
“Actually, all the abbots, if they had really looked, they would see that all other people have become bhikkhuni. Only this country are there no bhikkhuni. Sri Lanka has them now. Thailand is starting now. And so, only Burma will be the only one without them.”
“It’s really sad if you look at these things. What we are doing now is not to destroy the teachings of Buddha. You can find them if you search history. And so, we don’t want to argue much. We don’t want to say anything. History will show that we are doing the right thing,” she said.
“Bhikkhuni” was the name given to followers of the Buddha during his lifetime, without regard to the person’s gender.
Later traditions evolved into separate monastic traditions for Buddhist monks and nuns, with nuns generally accorded a lower status and barred from leading others in religious activities.
Daw Thissawaddy, 40, had been studying for a Ph.D in religious philosophy in Sri Lanka and been ordained there as a bhikkhuni, a fellow nun told RFA’s Burmese service.
She was detained after returning to the Burmese capital, Rangoon, in December 2004 to attend the World Buddhist Summit, attended by Buddhists from all over the world.
A Burmese abbot living and practicing religion in Thailand said the practice of female ordination as monks shouldn’t be allowed.
“It is not due to gender distinction,” he said. ” It’s like this—for one thing, the order of bhikkhuni disappeared…Their mentor no longer exists.”
“It’s because the order was destroyed. I’m looking at it according to the rules of conduct. It’s not my opinion. It’s the Buddha’s opinion,” the abbot said.

Thai Buddhist and bhikkhuni Chatiwan said the lineage was unbroken, however. “A group of bhikkhuni went from Sri Lanka to China and they established another ordination of bhikkhuni,” she said. “The lineage is alive.”
Daw Gunasari said many in Burma were uninterested in the revival of female monks due to lack of awareness of the issue, rather than informed judgment.
“Since these people do not know any historical evidence, if I talk to them, I need to show them the evidence and tell them about it. If we don’t get an opportunity to do so, we can’t do anything.”
“However, we can only explain to those within our reach from here, from this country, from a Western country, as much as we can. We don’t feel anything against them. I just believe that this is happening only because they don’t know about this,” she said.
Original reporting in Burmese by Tin Aung Khine and Khin Maung Nyane. Written for the Web in English by Luisetta Mudie and edited by Sarah Jackson-Han.
ĐẠO PHẬT TRƯỚC SỰ THÁCH ĐỐ CỦA VĂN HÓA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

California, Hoa Kỳ ngày 15 tháng 5 năm 2006

Thư gởi các em:
Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

Các Em thân mến,

Qua Lá Thư Huynh Trưởng kỳ này, chúng ta sẽ tiếp tục nói đến sự thách thức của thời đại đối với Phật giáo nói chung và tuổi trẻ Phật tử Việt Nam nói riêng. Đề tài thảo luận hôm nay sẽ là “ Đạo Phật Trước Sự Thách Đố của Văn Hóa KinhTế Thị Trường”.

Như trước đây, anh em chúng ta đã có dịp nói đến những tính chất đặc thù về nội dung mới của khái niệm Văn Hóa. Nói gọn lại, văn hóa là nếp suy nghĩ, cách hành xử và hệ thống giá trị riêng của cá nhân hay tập thể trong một bối cảnh và hoàn cảnh riêng nào đó. Văn Hóa Kinh tế Thị trường là những mô thức suy nghĩ và sinh hoạt trong khung cảnh mang tính toàn cầu hóa. Đấy là một “điệu sống” (lifestyle) vừa mang bản sắc quốc gia, dân tộc; nhưng đồng thời, cũng vừa mang những tích chất chung của cộng đồng quốc tế, nhân loại.

Tuy cuộc chiến Việt Nam kết thúc và đất nước đã thống nhất hơn 30 năm, nhưng chỉ mới non mười năm trở lại đây thôi, người Việt trong nước mới có cơ hội tiếp cận với cộng đồng thế giới. Gắn liền với dòng lịch sử của đất nước, Phật giáo Việt Nam là mặt hồ phản chiếu những bước đi thăng trầm của dân tộc. Khi đất nước bắt đầu vén cửa nhìn ra thế giới thì cũng là khi Phật giáo Việt Nam chuẩn bị đương đầu với những thách thức mang tính chuyển biến tất yếu của thời đại. Tuổi trẻ Phật tử đang nghĩ gì, nghe gì, thấy gì trước hoàn cảnh mới của dân tộc và đạo pháp?

Để hiểu được phần nào những suy tư, trăn trở của tuổi trẻ Việt Nam, chúng ta thử cùng đọc lại một vài ý kiến trích đoạn qua lá thư mới nhất của Ánh Minh, một nữ sinh viên Phật tử tại Huế gửi đi trong ngày Phật Đản:

“…Con muốn kể cho bác nghe lễ Phật Đản ở Huế đã được tổ chức rất long trọng và con nghĩ bác sẽ rất vui khi nghe kể về một lễ hội hoành tráng và người dân đã nô nức đi xem như thế nào. Ở Huế chùa nào cũng trang hoàng thật ấn tượng và gia đình Phật tử nào cũng trang trí cho nhà cửa và bàn thờ thật ấm cúng và lộng lẫy. Lễ Phật Đản năm nay được xem là lớn nhất từ trước đến nay nên ai ai cũng hân hoan.

Lễ hội xe hoa đi khắp thành phố trong hai đêm 14 – 15; một đêm đi phía Bắc và một đêm đi phía Nam. Con đi học về thấy đường phố tấp nập và ai ai cũng đổ xô ra đường để ngắm xe hoa…”
Ba ngày sau lễ Phật Đản, Ánh Minh viết về cảm nghĩ của mình:

“ Thưa bác, theo lời bác nói thì tuổi trẻ đóng một vai trò quan trọng trong các sinh hoạt xã hội và tôn giáo. Vì vậy, tuổi trẻ chúng con phải biết suy nghĩ và hành xử chín chắn trước mọi sự việc. Tuy nhiên, đôi lúc con thấy những suy nghĩ của tuổi trẻ tụi con không có hòa hợp với Phật Pháp khi mà những con sâu ngày càng nhiều và những nét truyền thống như đang mất dần đi trong tâm khảm tuổi trẻ.

Như bác đã nói trong một thư trước gởi cho đoàn sinh GĐPT là với kỹ năng khoa học hiện tại, có những bộ kinh hàng chục nghìn trang chữ Hán, nay được dịch ra tiếng Việt chỉ trong vòng mấy phút. Vậy thì những giá trị truyền thống và những bài học căn bản của GĐPT và văn hóa Phật giáo sẽ được truyền tải như thế nào khi tụi con muốn tìm tòi? Con thấy hình như mọi người đã quên dẫn dắt tuổi trẻ của tụi con đến với con đường Phật đạo. Đôi khi con thấy lớp người trẻ tuổi ngang bằng con hay nhỏ hơn ngày càng biến chất và đang dần dần xa đi những tinh hoa của dân tộc trong đó có văn hóa Phật giáo. Trên đây chỉ là những đều suy nghĩ đơn sơ của con, nếu có những điều gì chưa đúng, kính mong bác giải thích và chỉ dạy cho con.”

Thư của một em Huynh Trưởng khác ở Nha Trang, viết: “ Từ nhiều năm trước, em nghe nhiều về việc dịch thuật tam tạng kinh điển hay tám vạn bốn ngàn pháp môn của đạo Phật ra tiếng Việt tới mấy chục vạn trang. Nhưng thực tế là cho đến nay, kinh nhật tụng hàng ngày như kinh Cầu An, Cầu Siêu, Tịnh Độ… mỗi kinh chỉ ngắn chừng chục trang mà vẫn còn có vấn đề trở ngại là có chùa đọc theo tiếng Hán Việt, có chùa đọc theo tiếng thuần Việt, có chùa đọc nửa Hán, nửa Việt một cách “tùy nghi”làm tuổi trẻ Phật tử nghe kinh như người ngoại đạo. Tuổi trẻ các em, số còn ở trường tiểu học, trung học phổ thông thì không nói gì, nhưng số đã vào trường đại học rồi mà chẳng hiểu nghĩa kinh. Các em đến chùa như người mù chữ, làm sao mà tu học… cho được. Tâm An Lê Duy Hải.”

Và em Huỳnh Nghĩa ở tại Quảng Nam viết: “…càng ngày nhiều chùa chiền xây dựng rất to lớn và sang trọng. Lễ rước quý thầy đầy cờ quạt, đèn đuốc càng nhiều hơn làm em tự thấy mình càng xa thầy, xa chùa hơn xưa. Có phải đó là hậu quả tác động vật chất của kiểu sống thực dụng mà người ta gọi là ‘kinh tế thị trường’ không thưa anh Nguyên Thọ?

Các em thân mến,

Những ý kiến của Ánh Minh, Tâm An, Huỳnh Nghĩa có gợi lên trong trí các em những suy nghĩ gì không? Các em có cho rằng sinh hoạt của đạo Phật và GĐPT Việt Nam hiện nay đang “tiến”, đang “lùi” hay đang dậm chân tại chỗ? Cả ba ý kiến của Ánh Minh, Tâm An và Huỳnh Nghĩa đều có một điểm gần như trùng hợp là: Hiện nay, sinh hoạt Phật giáo đang tiến về mặt hình thức nhiều hơn là nội dung và tuổi trẻ Phật tử có khuynh hướng bớt gắn bó với thầy, với chùa hơn xưa.

Khi nói về vấn đề hoằng pháp, sư Daw Gunasari, trên xứ Phật Sri Lanka cho rằng: “Hình thức lễ nghi cúng vái thờ tự rực rỡ, ngôn ngữ cường điệu kêu to mà không có một nội dung hay ho tương xứng là một sự trang trí trống rỗng và ngược lại, một nội dung học và hành đạo phong phú mà không có một hình thức tốt làm phương tiện chuyển tải đến người khác, tạo được sự quan tâm của quần chúng là một viên ngọc quý còn bị lãng quên trong cát bụi.” (D,G. Lectures on line, May2006) Muốn biết sự tương quan giữa hình thức và nội dung hay tác động qua lại giữa khuynh hướng kinh tế thị trường và sinh hoạt của đạo Phật, chúng ta cần có một khái niệm cơ bản về những đặc tính tiêu biểu nhất của văn hóa kinh tế thị trường và khuynh hướng hoằng pháp, hành đạo của Phật giáo.

Bốn đặc tính tiêu biểu nhất của văn hóa kinh tế thị trường là: (1) Cạnh tranh, (2) sáng tạo, (3) thực dụng và (4) tư hữu. Bốn yếu tính của văn hóa kinh tế thị trường xem ra khó hòa điệu với các đặc tính tiêu biểu truyền thống của Phật giáo nếu chỉ so sánh và phân tích về nguyên tắc và trên bề mặt của hiện tượng. Nhưng tánh Phật không ly tánh thế gian. Sự uyển chuyển của tinh thần Phật giáo đã được chứng minh qua dòng lịch sử và sự kiện suốt 25 thế kỷ. Sự uyển chuyến đó là “tùy duyên bất biến”. Sự học đạo và hành đạo của cá nhân mỗi Phật tử áp dụng linh động tùy vào từng thời đại, hoàn cảnh và con người. Nhưng con đường cứu khổ và giải thoát của đạo Phật không bao giờ thay đổi. Tinh thần “tùy duyên” là phương thức vận dụng linh hoạt rất phù hợp với tính đa dạng của văn hóa thị trường.

Trước hết, nói đến văn hóa thị trường là nói đến cái “dụng” năng động hơn là cái “thể” thụ động của nó.

Khái niệm về "thị trường" (marketing) thời hiện đại không đơn thuần mang ý nghĩa kinh tế hay thương mãi mà có ý nghĩa là Những-Lối-Suy-Nghĩ-Khác (Thinking Differences).

“Lối suy nghĩ khác” là một cách nói giản đơn của sự dấn thân để khai phá và sáng tạo về mặt tư duy và sự đào sâu, thí nghiệm về mặt tìm tòi và học hỏi. Sau lưng những nhà phát minh, khai phá, sáng tạo... nổi tiếng bao giờ cũng kéo theo những cái bóng – khi rõ khi mờ -- cố gắng sao chép, lập lại hay phản chiếu nguyên hình hoặc tương tự cái "nội hàm" mà xã hội đã chấp nhận và có khi còn cho là chân lý. Sau Khổng tử, Lão tử, Socrate, Euclide, Newton, Michelangelo... đã có không biết bao nhiêu người tự nguyện đặt mình vào thế "đại đệ tử chân truyền" của bậc thầy đi trước. Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, mọi sự sao chép, bắt chước nguyên hình không bao giờ đẹp bằng nguyên bản. Bắt chước và mô phỏng mà thiếu sáng tạo là ẩn mình sau cái bóng chết, sau những giá trị quá khứ tù đọng và có khi lỗi thời. Chỉ có sáng tạo và phát minh mới là hành động tích cực tìm về với sự sống sinh động. Thế nhưng khuynh hướng sùng bái tự nhiên đã cột chặt tâm lý con người vào vật chủ.

Có khác chăng là sự sơn phết, cắt xén, uốn lượn bên ngoài giúp cho vật sao chép mang một hình thức mới có vẻ khác, nhưng nội hàm của nguyên bản thì vẫn không có gì thay đổi. Chính sự mô phỏng hay rập khuôn nếp cũ và tinh thần sùng bái một đấng thần linh tuyệt đối của hầu hết các tôn giáo đã đưa đến tình trạng tôn giáo và khoa học loại trừ, phủ nhận nhau.

Đức Phật thấy rõ bản chất trí lực của chúng sanh nên đã lập đi, lập lại trong nhiều lời dạy còn lưu trong các kinh văn là người học Phật phải biết “tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Và ngài còn cho rằng sự tin tưởng mù quáng, không tự mình kiểm chứng đúng sai, dẫu tin vào Phật, cũng là vô minh. Đây là cánh cửa của tri thức luận khoa học Phật giáo mở toang vào thời đại mới của khoa học kỹ thuật, vào không gian kinh tế thị trường không một chút vướng mắc.


Tuy nhiên, nhìn về đạo Phật phải nhìn như ngắm một không gian 3 chiều: Giáo lý là chiều sâu; người theo đạo Phật là chiều rộng; phương thức tu học và hành đạo là chiều dài. Những vấn đề hình thức và cách thức sinh hoạt mà ba em Phật tử trẻ đã nêu trong thư thuộc về chiều rộng và chiều dài. Đấy chỉ là phương tiện cho suối nguồn chảy về biển cả, nhưng nước nguồn có thấm sâu vào lòng biển không thì vẫn còn là câu hỏi. Hình ảnh những mùa lễ Phật tưng bừng, chùa chiền rực rỡ, Phật tử xuất gia và tại gia kinh kệ rộn ràng… chưa phải là ấn chứng của thời kỳ thịnh pháp nếu thiếu đi chiều sâu tâm linh của “tăng già hòa hợp, tứ chúng đồng tu”.

Các nước châu Âu và châu Mỹ là những nước tiền phong hội nhập rất nhanh và rất sớm vào dòng văn hóa thị trường. Các tôn giáo lớn ra sức “tôn giáo hóa thị trường” bằng cách truyền cho những con chiên mang những lý tưởng tốt đẹp của đạo vào đời, vào thị trường buôn bán. Ở Mỹ, người ta in luôn cả niềm tin tưởng vào Thượng Đế trên từng đồng bạc (In God We Trust). Theo nhà thần học Doman Lum trong tác phẩm Dân Da Màu (The People of Colors; 1985) thì nước Mỹ đã có một thời thành công trong khuynh hướng tôn giáo hoá thị trường. Đó là khi bằng lương tri và tín điều tôn giáo, Hoa Kỳ đã chuyển hóa được những người di dân có vọng tâm phiêu lưu và tước đoạt trở thành những chủ nhân đồn điền, công ty, hiệp hội ứng xử đầy tính nhân bản với con người thuộc hạ. Nhưng với sự cạnh tranh ngày một gia tăng theo bản chất tự nhiên của văn hóa thị trường, khuynh hướng thực dụng, tôn thờ vật chất, cá nhân chủ nghĩa đã đưa đến nhiều trường hợp ngược lại là “thị trường hóa tôn giáo”.


Tôn giáo, bất cứ đạo nào, đều là mặt thiện, mặt tích cực của đời sống tâm linh. Trong những trường hợp một tôn giáo bị thoái trào, hầu như tất cả đều do sự vô minh của người theo đạo và sự vọng động của cách hành trì tôn giáo đó. Rất hiếm khi sự thoái trào hay phá sản đến từ triết lý hay nguyên lý cội nguồn của một tôn giáo. Đạo Phật cũng không thể ra ngoài thông lệ đó.


Sự thử thách lớn nhất của mọi tôn giáo trong thời đại mới, thời đại văn hóa thị trường kinh tế toàn cầu, theo Mark J. Kinley trong tác phẩm nghiên cứu, nhận định nhan đề “Cao Trào Cực Đoan Tôn Giáo” (Religious Extremists on the Rise; Lotus Sangha, 2005; pp. 207-227) đưa ra ba điều đáng sợ nhất mà các tôn giáo có khả năng đương đầu. Kinley gọi đó là “bộ ba tai họa” (tripple disasters):


1. Thế tục hóa tôn giáo: Không có biên giới rõ ràng giữa đạo và đời. Thần quyền và thế quyền tranh dành ảnh hưởng quần chúng nên tôn giáo và chính trị tấn công nhau, loại trừ nhau trực tiếp hay gián tiếp; bằng hình thức nầy hay hình thức nọ. Hệ quả không tránh được là nội tình tôn giáo phân hóa và chia rẽ, gây tình trạng sa sút ảnh hưởng tích cực từ phía hàng ngũ lãnh đạo và suy sụp niềm tin trong mọi giới tín đồ.


2. Mê tín hóa tôn giáo: Triết lý và đức tin tôn giáo bị hạ thấp xuống tầm mê tín dị đoan. Biến tôn giáo thành phương tiện thờ cúng nhảm nhí vì kẻ hành xử tôn giáo diễn dịch kinh điển một cách ấu trĩ và sai lạc hoặc vì kém cỏi; hoặc vì cố tình lèo lái đạo theo đường tà, nhằm phục vụ một chủ đích nào đó bên ngoài tôn giáo.


3. Kinh tế hoá tôn giáo: Đem tôn giáo ra làm phương tiện đầu tư, đổi chác, kinh doanh để trục lợi, làm ăn. Dùng vật chất mua chuộc người theo và bán đức tin được sơn phết một cách thiếu đức hạnh tôn giáo.


Cầu nguyện cho đạo Phật không dính mắc lâu dài và phiền não vào một “tai họa” nào tương tự như thế cả.

Các em thân mến,
Đưa ra một vài nhận định của chính các em và của các nhà nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến vấn đề tôn giáo và đạo Phật để chúng ta có dịp nhìn lại chính mình và đầu tư suy nghĩ thêm. Anh muốn nhấn mạnh và nhắc lại một lần nữa ý kiến đã nói với Ánh Minh, rằng là, thế hệ tuổi trẻ các em không những là tương lai của đất nước mà còn là tương lai của đạo pháp.

Sự thách thức lớn nhất mà tuổi trẻ Phật tử Việt Nam đang đương đầu trước ngưỡng cửa văn hóa thị trường là cần phải biết áp dụng trí tuệ và tâm linh đúng thời, đúng cảnh, nhằm phát huy một cách chủ động, sáng tạo và đầy bản lĩnh quyết đoán tinh thần Bi-Trí-Dũng căn bản của người Phật tử.

Các em ạ, đã từ lâu, theo kinh nghiệm của anh trong Gia đình Phật tử, thế hệ trẻ là những đóa hoa xinh đẹp, là tiếng hát dễ thương của loài chim Ka lăng tần già, là mầm non tươi mát, trẻ trung đầy hứa hẹn trong Vườn Đạo. Nhưng rốt cuộc, các em chỉ là những bóng mờ nấp sau lưng quý Thầy, quý Cư sĩ, quý Bác trong hầu hết các sinh hoạt Phật sự. So với tinh thần xông xáo của tuổi trẻ phương Tây, các em còn thiếu tự tin trong quyết định; thiếu mạnh dạn trong góp ý; thiếu độc lập và sáng tạo trong nhiều công tác Phật sự quan trọng.

Tinh thần thụ động hay ỷ lại vào thế hệ đàn anh của tuổi trẻ, thường bị xem là khuynh hướng “thoái trào” trong văn hóa thị trường tại các nước có nền khoa học, kỹ thuật tiên tiến. Cách nhìn của đạo Phật là vạn pháp công bằng, mọi ý kiến đều có giá trị và cần phải được xem xét cẩn trọng như nhau. Bởi vậy, anh ước mong rằng, chính các em có trách nhiệm phải làm cho tiếng nói tuổi trẻ các em cũng có sức mạnh và tác dụng đáng trân trọng như tiếng nói của thế hệ đàn anh.

Mùa Phật Đản năm nay đã để lại những vọng âm đượm ánh Đạo Vàng. Đây là thời điểm nhắc nhở chúng ta nên dành thì giờ nhiều hơn để viếng chùa, quan chiêm quý Thầy, quý Sư Cô đang trong thời kỳ An Cư Kiết Hạ.

Hẹn các em thư sau. Rất mong những ý kiến đóng góp cởi mở và thẳng thắn của các em để duy trì nội dung “Lá thư huynh trưởng” nầy thành sân sau sinh hoạt của toàn thể gia đình Áo Lam của chúng ta.
Anh chúc các em thân thương những ngày đầu Hè đầy an vui và phước hạnh.

Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
Liên lạc: Doantran@sbcglobal.net
Website: Trankiemdoan.net

Thân bút
Thanh liêm
avatar
09/02/2011 05:31:37
Dạ xin lỗi bạn Thanh liêm đúng là mình có sử dụng bài viết CỦA aNH TRẦN kIÊM đOÀN LÀ LÁ tHƯ SỐ 5 MỘT SỐ CHI TIẾT NÊN ĐÃ QUÊN GHI CHÚ BÀI VIẾT THAM KHẢO.mONG MỌI NGƯỜI THÔNG CẢM CHO SỰ SƠ XUẤT CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ MUỐN LÀM TÁC GIẢ. VÌ ĐÂY LÀ BÀI VIẾT CHUNG CHO SỰ HƯỞNG ỨNG VÌ đẠO pHẬT TRƯỚC THỜI ĐẠI MỚI VÀ MONG MỎI QUAN TÂM CHUNG CHO VẤN ĐỀ VÌ SAO BỊ CẢI ĐẠO.mỘT LẦN NỮA KÍNH XIN LỖI.(mÌNH RẤT TÂM HUYẾT VỚI BÀI VIẾT CỦA ANH tRẦN kIÊM đOÀN NÊN HAY TRÍCH DẪN NHỮNG ĐIỀU ANH CÓ THỂ DIỄN GIẢI MÀ MÌNH KHÔNG NẮM BẮT ĐƯỢC) MÌNH KHÔNG PHẢI NHÀ VĂN MÀ CHỈ LÀ NGƯỜI PHẬT TỬ NÓNG LÒNG VÌ ĐẠO PHÁP THÔI
avatar
quang dao 09/02/2011 09:32:47
Day hinh nhu chi la doan dich trong bai viet cua Ngai Bhikkhu Bodhi.

Trong thời đại thông tin, tầng lớp có trình độ học vấn chiếm tỷ lệ cao. Mọi người tiếp cận được nhiều kho tàng tri thức và thông tin hơn rất nhiều so với trong quá khứ, và sự hiểu biết về những vấn đề thế gian, và thậm chí cả Phật giáo, tinh tế hơn những thời kỳ trước rất nhiều. Họ kỳ vọng giáo pháp của Đức Phật phải phù hợp với những tiêu chuẩn mà họ đã học được từ các kiến thức cao qua trường Đại học,qua thông tin đại chúng, nên họ sẽ không dễ dàng tiếp nhận giáo lý được truyền đạt bởi những vị đạo sư dựa vào lòng kính mộ và niềm tin không trắc vấn như trong truyền thống thời xưa cũ.

Họ được đào tạo phải tra vấn và tìm tòi, và họ sẽ áp dụng phương pháp đó mỗi khi họ nghiên cứu Phật giáo. Vì thế Tăng ni phải sẵn sàng để trả lời rất nhiều câu hỏi. Quý vị Tăng ni không thể trông chờ đón nhận sự kính trọng khép nép từ phía người thế gian; mà họ phải nhận sự kính trọng qua việc giải thích giáo pháp rõ ràng, chính xác và thuyết phục.

Bản thân chư Tăng ni sẽ cần phải được đào tạo nâng cao, chính yếu là trong Phật giáo nhưng phải có thêm những mảng liên quan trực tiếp đến giáo lý, chẳng hạn như triết học và tâm lý học hiện đại, và còn nhiều lĩnh vực chính đáng khác nữa. Làm thế nào để kết hợp hài hòa thế học vào trong môi trường xuất thế là một vấn đề khó khăn; giải pháp phải được đưa ra từ phía những nhà giáo dục Tăng ni.

dich cung tam duoc, nhung khong de nguon trich dan. Hay can than hon nhung lan sau.
Than chao Ngoc Chon

1. The role of higher education. In the Information Era, a high percentage of a country's population has
acquired a university education. People have access to much greater stores of knowledge and
information than they ever had in the past, and their understanding of mundane realities, and even of
Buddhism, is much more sophisticated than in previous epochs. They will expect the Dharma to
measure up to the standards they have acquired through their academic training and won't simply accept
the teachings presented by monastic teachers out of reverence and unquestioning trust in an age-old
tradition. They have been trained to question and inquire, and they will apply the same approach when
they come to the study of Buddhism. Hence the monks and nuns have to be ready to answer questions.
They can't expect to receive humble deference from the laity; they have to earn respect by clearly
explaining the Dharma, and by explaining it accurately and convincingly. The monks and nuns
themselves will need to have received higher education, primarily in Buddhism but also in subjects
indirectly related to the Dharma, such as modern philosophy and psychology and other relevant areas.
Exactly how to integrate such mundane knowledge into a monastic curriculum is a difficult issue; the
solution would have to be worked out by those responsible for monastic education.

http://www.buddhistische-sekten.de/Buddhist_Sangha_today_Bhikku_Bodhi_english.pdf
avatar
Thanh Liêm 09/02/2011 15:58:26
Kính chào Ngọc Chơn

Vài dòng chữ của bạn gởi đến cho đọc giả trang đạo Phật ngày nay, qua hai chữ xin lỗi,vì đây là cái quên của bạn, theo tôi nghĩ đây không phải là vấn đề, thứ nhất bạn hãy thành thật nói bạn là một tu sĩ đúng hơn, vì cẩm nang khất sĩ do bạn viết, đừng lừa dối chính mình cũng như lừa dối đọc giả hay những người đang theo bạn. Bạn hãy thử nghĩ một Phật tử viết cẩm nang cho khất sĩ, chuyện này có thể làm được không ?Vậy Ngài Minh Đăng không có viết hay dạy gì cho những Khất sĩ tu theo chân lý của Ngài sao ?

Tóm lại, qua bài viết của bạn đều mang những ý nghĩa xây dựng cho Phật học ngày hôm nay, việc của bạn làm cũng như việc của các bậc tăng, ni, học giả đang làm, chúng tôi rất kính trọng công việc cao cả này.
Có điều xin bạn nên nhớ rằng, đừng bao giờ khi dễ những người con Phật hay những người đang đi tìm hiểu về đạo Phật, cũng như những bậc học giả quan tâm đến việc xây dựng nền Phật học của Đất Việt ngày hôm nay.

Có những người tự dùng chữ Bụt làm đạo riêng cho mình, ngày nay bạn nên cẩn thận và cẩn thận hơn nữa, đừng đi theo con đường những người tự cho mình là Bồ tát, rồi muốn dùng chữ gì thì dùng cho đạo Phật. Chữ Phật đã gắn liền trong dòng lịch sữ Việt của chúng tôi hơn 2000 năm rồi.

Chữ Bụt đã bị Việt hoá thành những ông tiên trong những chuyện văn học dân gian. Xin đừng ngộ nghĩnh mà tiếp tục truyền bá vào đất Việt. Hay có những người có những mãnh bằng tốt nghiệp cao trong nghành Phật học, rồi tự tung tự tác. Tôi nhắc lại không nên làm và không nên làm, Bởi vì hơn 70 triệu người dân Việt Nam chưa có ngu hết đâu, đừng nên khi dễ người con Việt Nam và Văn Hóa Việt Nam của chúng tôi trong cũng như ngoài nước.

Hy vọng bạn hiểu những gì tôi muốn chia sẽ : Viên thuốc đường hết đường thì sẽ đắng thôi. Do đó những vị Thiền Sư nào dùng bài viết của người ta làm bài viết của mình,mà đã Ấn tống phát hành rồi, Xin vui lòng rút lại. Nên giữ sĩ diện của người học thức Việt Nam. Chúng tôi sẽ tìm tới những tác phẫm đó bằng sự chứng minh đầy đủ chi tiết.

Kính chúc bạn vui vẻ và tiếp tục viết những bài hay bằng tư tưởng của chính mình, nhằm tô đẹp thêm nền Phật học Việt Nam.
Thân chào
Thanh Liêm
avatar
09/02/2011 22:27:56
Dạ cảm ơn những đóng góp chí tình của Thanh liêm.Mình sẻ hết sức chú trọng. Nhưng một lần nữa xin nói rõ mình chỉ là một phật tử bình thường nóng lòng vì đạo pháp thôi. Còn Chơn lý cẩm nang Khất Sĩ là bài mình ghi lại nguyên văn chơn lý do tổ Sư để lai nhằm giới thiệu đến mọi người tìm hiểu mà học đạo. Đã ghi rõ là thành kính ghi lại nguyên văn chơn lý cẩm nang khất sĩ.Mong Thanh liêm đọc kỹ rồi thông cảm.Một lần nữa mình thành thật cảm ơn sự chia sẻ nhiệt tình của Thanh Liêm.mính sẻ rút kinh nghiệm. Có lẽ vì mình chưa có kinh nghiệm cho lắm chứ thật lòng không coi thường ai đâu mong mọi người hỷ xả cho.
tổng số: 5 | đang hiển thị: 1 - 5

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

5.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập