Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Nghe Pháp & thực hành Pháp Mọi người đều có khả năng sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh

Mọi người đều có khả năng sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh

Đã đọc: 6838           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính quí Ðạo Hữu,

 

Lời đầu thư, chúng tôi hoan hỷ kính chào quí ÐH, kính cảm niệm quí ÐH đã dành thời giờ viết email và kính mong quí ÐH thông cảm việc hồi âm không sớm này. Lý do: chúng tôi vừa làm xong Phật sự gửi đi khắp nơi tất cả Tập san Phật Học Tịnh Quang (Từ Bi & Trí Tuệ) số 12, phát hành nhân dịp Tết Nguyên Ðán Canh Dần 2010. Tập san PHTQ được phát hành miễn phí hoàn toàn, mỗi năm 3 số, nếu quí ÐH hoan hỷ nhận, xin cho biết địa chỉ bưu điện, văn phòng PHTQ sẽ gửi kính biếu.

 

Bây giờ chúng tôi xin được bàn về Bát nhã tâm kinh theo đề nghị của quí ÐH. ÐH Hoang Le có email <batnhabalamatda@yahoo.com> chắc là thâm cứu và thâm hiểu bản kinh cốt tủy ngắn, gọn, súc tích và nhiệm mầu này. Nơi đây, chúng tôi chỉ nêu lên những gì học được, biết được, trong tinh thần học hỏi lẫn nhau là điều tốt quá, và là duyên lành trên bước đường tu học và tìm hiểu chánh pháp.

 

Ðiều trước tiên chúng ta cần hiểu rõ là: do nghiệp lực dẫn dắt, chúng sinh phải chịu sự sinh tử luân hồi, nhiều đời kiếp trong lục đạo (lục đạo là 6 cõi: thiên, nhân, atula, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh). Nghiệp lực là sức mạnh do nghiệp dẫn đi, tức là thói quen tạo nên trong cuộc sống hằng ngày, rất khó dừng lại, rất khó cưỡng lại, do nơi thân - con người tạo nghiệp, do nơi khẩu - con người tạo nghiệp, và nhất là do nơi ý - con người tạo nghiệp; gọi chung là tam nghiệp thân khẩu ý. Ðây là điều căn bản khác biệt giữa đạo Phật với các tôn giáo hay tín ngưỡng khác.

 

Các tôn giáo hay tín ngưỡng khác thường tôn thờ một vị thượng đế hay thần linh tưởng tượng nào đó, họ cho là đấng toàn năng, có khả năng sáng tạo hay hủy diệt vũ trụ và muôn loài (người, vật, cỏ cây); và là đấng toàn quyền, có khả năng ban phúc cho người tuân phục thờ phượng và giáng họa cho những ai không công nhận vị thượng đế không tưởng đó.

 

Các tôn giáo hay tín ngưỡng khác thường cho rằng: con người chỉ có đời này thôi, cuối đời không còn gì cả (gọi là chấp đoạn); con người cuối đời này hoặc lên nước thiên đàng gặp thượng đế vĩnh viễn, hoặc đọa hỏa ngục đời đời, vì bất khâm tuân thượng đế (gọi là chấp thường).

 

Trái lại, đạo Phật không chấp hai bên (gọi là nhị biên) như thế. Cốt tủy của đạo Phật là chỉ cho con người thấy rằng: mọi người đều có khả năng sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, để giác ngộ trở thành một vị chánh đẳng chánh giác; còn gọi là đắc đạo, thành đạo, hay thành Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm, có câu: Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh, chính là nghĩa đó vậy.

 

Cái khả năng sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, để giác ngộ đó, tạm gọi là Chân tâm, hay Phật tánh. Cái khả năng này người nào cũng có, không dành riêng cho bất cứ ai, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc, màu da, xuất xứ, quốc gia, già trẻ lớn bé, giàu sang hay nghèo hèn, học thức hay bình dân. Nghĩa là không biệt gì cả, gọi là bất tùy phân biệt.

 

Làm sao nhận ra rằng mình có cái khả năng đó, chính là các pháp môn tu tập. Mục đích chính của các pháp môn là giúp con người, bất tùy phân biệt, trở lại với bản tâm bản tánh thanh tịnh đó. Mặt trời luôn sáng tỏ, chỉ vì bị mây đen che khuất tạm thời thôi. Cũng vậy, bản tâm bản tánh con người luôn sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, chỉ vì bị tham lam, sân hận và si mê che khuất tạm thời thôi. Các pháp môn giúp con người từ từ dẹp tan mây đen (tham, sân, si), dần dần bản tâm bản tánh con người trở về nguyên trạng. Khi đó, con người vẫn sống như bao nhiêu con người khác trên thế gian này, hình tướng bề ngoài không khác, nhưng nội tâm trở về sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh (gọi là tam bảo). Khi thái tử Tất đạt đa thành đạo, trở thành một vị Phật, tâm của ngài hoàn toàn thanh tịnh khác hẳn trước đây, nhưng hình tướng bề ngoài vẫn chỉ là một vị tu hành, gọi là sa môn Cồ đàm. Chỉ có những người chân thật, những vị giác ngộ mới nhận ra được một vị Phật đang sống trên thế gian này như mọi người, hình tướng không khác mọi người. Như vậy nghĩa là: một vị Phật không phải là thần linh, thượng đế không tưởng.

 

Bát nhã tâm kinh tuy là bản kinh ngắn gọn, nhưng bản kinh này chỉ rõ đầy đủ thế nào và làm sao nhận ra rằng mình có cái khả năng đó. Muốn nhận ra cái khả năng vô hình tướng đó, con người cần phải thấy rõ thân xác (hình tướng) của con người là không thật - không tồn tại mãi mãi. Con người khi sinh ra đời là có hình tướng, đẹp xấu khác nhau, tùy theo nghiệp báo mỗi người khác nhau. Con người trải qua sinh lão bệnh tử, là hình tướng kia bị hủy diệt.

 

Thêm nữa, muốn nhận ra cái khả năng vô hình tướng đó, con người cần phải thấy rõ tâm thức (vô hình tướng, có khi gọi là tâm linh, tâm tư, tâm trạng, ..) của con người là không thật - không tồn tại mãi mãi. Tâm thức của con người thay đổi liên miên, nay thương mai ghét, nay thân mai thù, nay tốt mai xấu, nay hiền mai dữ, nay bồ tát mai dạ xoa, nay bảo vệ chánh pháp mai phá hoại chánh pháp, nay huynh đệ mai đối nghịch, nay tán dương mai cơ bài, nay ngồi cùng bàn mai cưa cẳng ghế. Tâm thức lăng xăng lộn xộn như vậy gọi là vọng tâm (kinh Lăng nghiêm).

 

Lắng hết mọi vọng tâm nhờ các pháp môn tu tập, chân tâm sáng suốt thanh tịnh hiển bày, hiển lộ. Khi mọi cơn sóng to gió lớn trên biển (ví như vọng tâm) lặng hết, mặt biển bao la thanh tịnh hiện ra trước mắt (gọi là chân tâm hiển lộ). Khi mọi cặn cáu trong ly nước đục lắng hết, nước trong hiện ra rõ ràng. Mặt biển sóng gió cuồng nộ đen tối và mặt biển phẳng lặng thanh bình sáng sủa, tuy khác trạng thái nhưng không phải là hai (pháp môn bất nhị). Nước trong sạch dùng trong sinh hoạt có nguồn gốc từ nơi sông hồ không trong sạch, sau khi thanh lọc trở thành nước trong sạch.

 

Cũng vậy, một con người dù có quá khứ không tốt, không sạch (do vô minh, nên tạo nghiệp), nếu biết tu tâm dưỡng tánh, quyết tránh các điều xấu ác, quyết làm các việc thiện lành, quyết giữ tâm ý thanh tịnh, người đó chuyển hóa thành vị Phật. Cho nên, đạo Phật chủ trương chuyển hóa tam nghiệp bất thiện thành tam nghiệp thanh tịnh, chuyển hóa phàm nhân thành thánh nhân, chứ đạo Phật không chủ trương tiêu diệt tất cả người xấu ác, như các tôn giáo hay tín ngưỡng khác. Một vị Phật tùng địa dũng xuất, nghĩa là từ nơi tâm địa chuyển hóa từ xấu thành tốt mà thành Phật. Câu nói: đồ tể buông dao cũng thành Phật, chính là nghĩa như vậy.

 

Do đó, bông sen từ bùn nhơ ngoi lên, cố vượt qua thế giới đen tối, vươn lên trong không gian tỏa hương thơm ngát, là hình ảnh tượng trưng cho sự tu tập, cố gắng vượt bực để chuyển hóa từ phàm phu thành một vị giác ngộ hoàn toàn, gọi là toàn giác.

 

Cái khả năng vô hình tướng đó không phải là cái thân xác này, cho nên không có mắt tai mũi lưỡi (gọi là: vô nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt). Cái thân xác có lục căn (nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý) và cảnh trần bên ngoài trên đời có lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Cho nên, khi lục căn (nơi con người) tiếp xúc với lục trần (6 cảnh trong trần đời), con người sanh ra lục thức (gọi chung là tâm thức, gồm có: nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức).

 

Ví dụ: mắt (nhãn căn) của con người nhìn thấy lượng vàng (sắc trần), sanh tâm tham, muốn chiếm đoạt (gọi là nhãn thức). Ví dụ: tai (nhĩ căn) của con người nghe thấy tiếng (thanh trần), sanh tâm khen chê hay dở (gọi là nhĩ thức). Tương tự như thế, các căn khác như: mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp xúc với các trần cảnh như: hương, vị, xúc, pháp, bèn sanh vọng tâm thương ghét, khen chê, thị phi, phải quấy. Chính đây gọi là nghiệp lực, là động cơ, là nguyên nhân chính của sự sinh tử luân hồi.

 

Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: "Tâm cảnh không dính nhau là giải thoát". Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần đời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm không dính mắc, thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản! Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn, tại gia hay xuất gia. Tâm không phan duyên chạy theo cảnh trần là: giải thoát!

 

Tu theo Phật không cần phải cố chấp thờ lạy Phật hình tướng một cách mê tín, tu mù, với vọng tâm mong cầu điều nọ điều kia cho riêng mình, gia đình mình, đoàn thể mình, giáo hội mình, dân tộc mình, tôn giáo mình, không cần chọn chùa to tượng lớn, không cần theo giáo hội giáo phái nào, không cần phải là giáo phẩm cao thấp, không cần phải xưng là chính thống hay tiếm danh, không cần phải xưng là Phật tử hay không là Phật tử, không cần được khen thuần thành thường hay đi chùa, không cần khoe gõ mõ, tụng kinh bao nhiêu bộ, không cần hành tam bộ nhất bái, nhất tự nhất bái, không cần phải niệm Phật om trời vang vang chính điện, không cần vỗ ngực tự xưng đã tu và làm việc Phật sự năm bảy chục năm, không cần khoe khoang đã xây năm bảy chục cảnh chùa, không cần khoe có năm bảy chục hay hằng trăm đệ tử, không cần tự hào là danh môn chánh phái, đệ tử của vị này vị kia, không cần phải quì lụy, van xin thế quyền, giáo quyền, tìm kiếm chức phẩm danh vị trong đạo cũng như trong đời, không cần tất cả hình thức nghi lễ rườm rà của một tôn giáo, kể cả Phật giáo !

 

Tu theo Phật là để giác ngộ cái khả năng (vô hình tướng) thành một vị chánh đẳng chánh giác và thoát ly khỏi sanh tử luân hồi. Người nào phát tâm tu cũng được, bất tùy phân biệt !

 

Tóm lại, Bát nhã tâm kinh là bài kinh tuy ngắn gọn, nhưng giải thích để hiểu rõ tường tận thật không thể ngắn gọn, tùy theo mỗi người, mỗi hoàn cảnh và sở thích của cá nhân. Bài viết này chỉ đơn giản, sơ lược đại ý mà thôi. Chúng tôi đề nghị quí ÐH tham khảo thêm các bài viết khác để vấn đề được sáng tỏ hơn, thấu đáo hơn. Chúng ta nên nhớ một điều khá quan trọng trong lịch sử của đức Phật Thích ca mâu ni là: Thái tử Tất đạt đa ra đi tầm đạo giải thoát năm 29 tuổi và thành đạo năm 35 tuổi, trong khi các vị tu sĩ thời bấy giờ cao tuổi hơn nhiều, tu lâu năm hơn nhiều, nhưng vẫn không giác ngộ và giải thoát như Ngài. 

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Ty-Khuu Thich-Chan-Tue
Chu-Nhiem
PHAT-HOC TINH-QUANG
108 - 123 Railroad St.,
Brampton, ON, L6X-1G9.
CANADA
Tel.: 647-828-1016
Email: cutranlacdao@yahoo.com

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (1 đã gửi)

avatar
Nguyen Kim Bang 18/08/2010 06:15:43
Xin cảm ơn Tỳ kheo Thích Chân Tuệ đã có bài viết ngắn gọn, dễ hiểu và điều quan trọng nhất là đã mang lại sự tự tin cho tôi, sẽ qui y Tam bảo vào ngày rằm tháng bảy tới.
tổng số: 1 | đang hiển thị: 1 - 1

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

1.50

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập