Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Nghe Pháp & thực hành Pháp Những cánh hoa trí tuệ - Phần 18

Những cánh hoa trí tuệ - Phần 18

Đã đọc: 4502           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

1.        

“Mẹ cha gọi Phạm Thiên,
Bậc Đạo Sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương tưởng con cháu.
Do vậy, bậc Hiền triết,
Đảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn, đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp (cả thân mình)
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Đối với mẹ và cha,
Đời này người Hiền khen,
Đời sau hưởng an lạc.”
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 237)
 
“Parents are called “Brahma”, “teachers of old.”
Worthy of gifts are they, compassionate
Unto their tribe of children. Thus the wise
Should worship them and pay them honours due,
Serve them with food and drink, clothing and beds,
Anoint their bodies, bathe and wash their feet.
For service such as this to parents given
In this life sages praise a man, and he
Hereafter has reward of joy in Heaven.”
(The Book of the Gradual Sayings I, p. 115)
 
 
2
 
“Do tư sát, ở đời,
Các sự vật thắng, liệt,
Không vật gì ở đời,
Làm vị ấy dao động.
An tịnh, không mờ mịt,
Không phiền não, không tham,
Ta nói vị ấy vượt,
Qua khỏi sanh và già.”
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 637)
 
“By searching in the world things high and low,
He who hath naught to stir him in the world,
Calm and unclouded, cheerful, freed of longing,
He hath crossed over birth and eld, I say.”
(The Book of  the Gradual Sayings II, p. 53)
 
 
3
 
“Hữu học và vô học,
Cả hai ở trong đời,
Đều đáng được cúng dường,
Đối với người dâng lễ,
Họ giữ thân chánh trực,
Cả lời nói, ý nghĩ,
Phước điền người dâng cúng,
Đây thí có quả lớn.”
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 121)
 
“Worthy of gifts from those that sacrifice
In this worth are the learner and adept.
They walk upright in body, speech and mind,
A field of merit unto them that give:
And great the fruit of offerings unto them.”
(The Book of the Gradual Sayings I, p. 58)
 
 
4
 
“Mẹ cha lo phục vụ,
Vợ con thường thương tưởng,
Vì hạnh phúc nội nhân,
Cùng với kẻ tùng sự,
Vì hạnh phúc cả hai,
Lời hoà nhã giữ giới,
Vì hạnh phúc bà con,
Vì hương linh đi trước,
Vì mạng sống hiện tại,
Vì Sa-môn, Phạm chí,
Vì chư Thiên, bậc Trí,
Thành người ban hạnh phúc.
Sống gia đình đúng pháp,
Vị ấy làm thiện sự,
Được cúng dường tán thán,
Đời này họ được khen,
Đời sau sống hoan hỷ,
Trong cảnh giới chư Thiên.”
(Tăng Chi Bộ Kinh II, trang 432)
 
“To mother, father dutiful, to child and wife
A blessing ever, for the weal of both:
Of those within the home and those who live
By him, moral and wise in word is he.
For him, for those gone on before, for such
As live e’en here, for SamaÏa and Brahman,
Breeder of welfare doth the wise become.
(In that) by Dhamma in the home he lives.
Author of lovely (conduct) worshipful
Doth he become, and worthy praise. E’en here
Men praise him and to the hereafter gone,
In the bright world he dwells in happiness.”
(The Book of the Gradual Sayings III, p. 64)
 
 
5
 
“Vì lợi ích nhiều người,
Bậc Trí sống gia đình,
Không mệt mỏi ngày đêm,
Cúng dường thật đúng pháp,
Mẹ cha và tổ tiên,
Nhớ ngày trước đã làm,
Đối xuất gia, không nhà,
Kính lễ bậc Phạm hạnh.
Tin vững trú, cúng dường,
Biết pháp, khéo xử sự,
Là người đem lợi ích,
Cho vua, cho chư Thiên
Là người đem lợi ích,
Cho bà con, bạn bè,
Là người đem lợi ích,
Cho tất cả mọi người,
Khéo an trú diệu pháp,
Nhiếp xan tham cấu uế,
Hưởng cuộc đời hạnh phúc.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 620)
 
“Ah, well it is for many when within
The home a wise man’s born! Untiring, night
And day, he honours mother, father, forebears,
In fitting manner, mindful of their care
In former days. The homeless wanderers,
Who live the godly life, he honours, firm
In faith, he knows therefor things proper, right.
He is the rejah’s friend and favourite.
The friend of devas, kith and kin and all.
Firm set in Saddhamma, with stain of stint
Put by, he wayfares to the world of bliss.”
(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 167)
 
 
 
6
 
“Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ không kéo dài,
Nội tâm an lạc, trú thiền định,
Như thoát áo giáp tự ngã mang.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 703)
 
“The measurable and the measureless,
Birth and the sum of life the Sage renounced –
With inward joy composedly he broke
The [scaly] shell-like growth around the self.”
(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 208)
 
 
7
 
“Sợ hãi, khổ và bệnh,
Cục bướu và mũi tên,
Trói buộc và bùn lầy,
Cả hai cùng thai tạng,
Chúng được gọi tình dục.
Chỗ phàm phu ái nhiễm,
Chìm đắm trong sắc đẹp,
Chúng lại vào thai tạng.
Khi Tỳ-kheo nhiệt tình,
Không thả lỏng tỉnh giác,
Vượt đường hiểm nạn này,
Con đường khó vượt qua.
Vị ấy nhìn chúng sanh,
Đang sống trong sợ hãi,
Vì bị sanh và già,
Ám ảnh và chinh phục.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 670)
 
“Fear, ill, disease, blain, barb, bond, bog and womb
Alike are lusts, clinging to which the worldling,
Steeped in delights, goes to the womb again:
But when an ardent monk relaxes not
Rapt watchfulness, by crossing o’er the bog
So hard to pass – ’ tis such an one beholds
Poor trembling folk o’erwhelmel by birth and eld.”
(The Book of the Gradual Sayings IV, p.192)
 
 
8
 
“Tháo vát trong công việc,
Không phóng dật nhanh nhẹn,
Sống đời sống thăng bằng,
Giữ tài sản thâu được,
Có tin, đầy đủ giới,
Bố thí, không xan tham,
Rửa sạch đường thượng đạo,
An toàn trong tương lai,
Đây chính là tám pháp,
Bậc tín chủ tìm cầu,
Bậc chân thật tuyên bố,
Đưa đến lạc hai đời,
Hạnh phúc cho hiện tại,
Và an lạc hiện tại,
Đây trú xứ gia chủ,
Bố thí tăng công đức.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 667-668)
 
“Up and alert about his task and toil,
A careful man, he minds his wealth and lives
The even life; and he is virtuous,
Believing, kind and bountiful; he clears
The onward Way to faring well hereafter.
Thus for the believing home-seeker eight states
Have been declared by him whose name is Truth
As leading unto happiness both here and then,
To bliss hereafter and to welfare now.
This is the standard for a householder.
For merit grows by generosity.”
(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 191)
 
 
9
 
“Tỳ kheo kính Đạo Sư,
Cung kính Pháp và Tăng,
Học pháp không phóng dật,
Cung kính nghinh tiếp đón,
Không thể bị thối đoạ,
Nhất định gần Niết-bàn.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 83)
 
“Deep reverence for the Master, Dhamma, Order,
Reverence for earnestness and for good-will:
Not thuswise fails a monk, he’s nigh Nibbana.”
(The Book of the Gradual Sayings, p. 233.)
 
 
10
 
“Cung kính bậc ĐaÏo Sư,
Cung kính lớn Pháp Tăng,
Đầy đủ tàm và quý,
Kính nhường và cung kính,
Không thể bị thối đọa,
Nhất định gần Niết-bàn.”
(Tăng Chi Bộ Kinh III, trang 84)
 
“Deep reverence for the Master, Dhamma, Order,
Esteem for modesty and fear of blame:
Not thuswise fails a monk, he’s nigh Nibbana.”
(The Book of the Gradual Sayings, p. 233.)
 
 
11
 
“Với đi không bao giờ,
Đạt tận cùng thế giới.
Nếu không, không đạt được,
Chỗ tận cùng thế giới,
Thời không có giải thoát,
Ra khỏi ngoài khổ đau.
Do vậy, bậc có trí,
Hiểu biết rõ thế giới,
Đi tận cùng thế giới,
Với Phạm hạnh thành tựu,
Bậc đạt được an tịnh,
Biết tận cùng thế giới,
Không mong cầu đời này,
Không mong cầu đời sau.”
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 643-644)
 
“Not to be reached by going is world’s end.
Yet there is no release for man from ill
Unless he reach world’end. Then let a man
Become world-knower, wise, world-ender,
Let him be one who liveth the God-life.
Knowing the world’s end by becoming calmed
He longth nor for this world or another.”
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 57)

 

12 

“Có những pháp này, này các Tỳ-kheo, là đặc tính của người ngu, là tướng trạng của người ngu, là ấn tích của người ngu. Thế nào là ba ? Ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu suy nghĩ ác, nói ác và làm ác. Nếu người ngu này, này các Tỳ-kheo, không suy nghĩ ác, không nói ác, và không làm ác, thời lấy gì người hiền trí biết được : “Người này là kẻ ngu, không phải là bậc chân nhân” ? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, người ngu suy nghĩ ác, nói ác và làm ác, nên các người hiền trí biết được : “Người này là kẻ ngu, không phải là bậc chân nhân”. Có những pháp này, này các Tỳ-kheo, là đặc tánh của người ngu, là tướng trạng của người ngu, là ấn tích của người ngu.”  (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 183)

 “Monks, there are these three characteristics, features, stamps of a fool. What three ? Herein, monks, the fool thinks thoughts, speaks words, does deeds that are wrong. Were it not so, how would the wise know : This is a fool, my good sir ! This is a depraved man ? But inasmuch as the fool thinks thoughts, speaks words, does deeds that are wrong, therefore the wise know: My good sir, this is a fool ! This is   a depraved man ! These are the three characteristics, features, stamps of a fool.” (The Book of the Gradual Sayings I, p. 88)

 

 

13  

“Có những pháp này, này các Tỳ-kheo, là đặc tính của người hiền trí, là tướng trạng của người hiền trí, là ấn tích của người hiền trí. Thế nào là ba ? Ở đây, này các Tỳ-kheo, người hiền trí suy nghĩ thiện, nói thiện, và làm thiện. Nếu người hiền trí này, này các Tỳ-kheo, không suy nghĩ thiện, không nói thiện, và không làm thiện, thời lấy gì người hiền trí biết được : “Người này là người hiền trí, bậc chân nhân” ? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, người hiền trí suy nghĩ thiện, nói thiện, và làm thiện, nên các người hiền trí biết được : “Người này là người hiền trí, là bậc chân nhân”. Có những pháp này, này các Tỳ-kheo, là đặc tánh của người hiền trí, là tướng trạng của người hiền trí, là ấn tích của người hiền trí.” (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 183-184) 

“Monks, there are these three characteristics, features, stamps of a wise man. What three ? Herein, monks, the wise man thinks thoughts, speaks words, does deeds that are right. Were it not so, how would the wise know : This is a wise man, my good sir ! This is a good man ? But inasmuch as the wise man thinks thoughts, speaks words, does deeds that are right, therefore the wise know : My good sir, this is a wise man ! This is a good man ! These are the three characteristics, features, stamps of a wise man. (The Book of the Gradual Sayings I, p. 88)

 

 

14

 “Thành tựu với ba pháp, này các Tỳ-kheo, người ngu được biết đến. Thế nào là ba ? Phạm tội, không thấy là có phạm tội; phạm tội sau khi thấy là có phạm tội, không như pháp sám hối; được thấy người khác phát lồ có tội, không như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỳ-kheo, người ngu được biết đến.”  (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 184)

 “Monks, by three characteristics a fool is to be known. What three ? He sees not an offence as such, and when he sees an offence as such he does not make mends, but when another acknowledges his offence he does not pardon it as he ought. By these three things a fool may be known.” (The Book of the Gradual Sayings I, p. 89)

 

15

“Thành tựu ba pháp này, này các Tỳ-kheo, người hiền trí được biết đến. Thế nào là ba? Phạm tội, thấy là có phạm tội; phạm tội sau khi thấy là có phạm tội, như pháp sám hối; được người khác phát lồ có tội, như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỳ-kheo, người hiền trí được biết đến.” (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 184) 

“Monks, by three characteristics a wise man may be known. What three ? He sees an offence as such, and when he sees an offence as such he makes mends, but when another acknowledges his offence he pardons it as he ought. By these three things a wise man may be known.” (The Book of the Gradual Sayings I, p. 89)

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập