Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Nghe Pháp & thực hành Pháp Những cánh hoa trí tuệ - Phần 17

Những cánh hoa trí tuệ - Phần 17

Đã đọc: 4579           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

1. Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ. (Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 32).

Of slight account, monks, is the loss of such things as relatives. Miserable indeed among losses is the loss of wisdom. (The Book of the Gradual Sayings I, p. 10).

 

 2. Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng này, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ. (Tăng Bộ Kinh I, trang 32).

Of slight account, monks, is the increase of such things as relatives. Chief of all the increases is that of wisdom. (The Book of the Gradual Sayings I, p. 10).

 

3. Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. (Tăng Bộ Kinh I, trang 46).

 Monks, there is one perdon whose birth into the worth is for the welfare of many folk, for the happiness of many folk: who is born out of compassion for the world, for the profit, welfare and happiness of devas and mankind.

Who is that one person? It is a Tathagata who is Arahant, a fully enlightened One. This, monks, is that one person. (The Book of the Gradual Sayings I, pp. 14-15).

 

4. Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí tránh,
Như đường đầy sợ hãi.
(Kinh Trường Bộ II, trang 538).
 
The friend who’s ever seeking what to take,
The friend whose words are other than his deeds,
The friend who flatters, pleasing you withal.
The boon companion down the errant ways:
These four are foes. Thus having recognised,
Let the wise man avoid them from afar
As they were path of peril and of dread.
(Dialogues of the Buddha III. p. 178)

 

5. Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thuỷ khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy,
Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích,
Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Để kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.
(Kinh Trường Bộ II, trang 541)
 
The friend who is a helpmate, and the friend
Of bright days and of dark, and he who shows
What it is you need, and he who throbs for you
With sympathy: - these four the wise should know
As friends, and should devote himself to them
As mother to her own, her bosom’s child.
To him amassing wealth, like roving bee
Its honey gathering [and hurting naught].
Riches mount up as ant-heap growing high.
When the good layman wealth has so amassed
Able is he to benefit his clan.
In portion four let him divide that wealth.
So binds he to himself life’s friendly things.
One portion let him spend and taste the fruit.
His business to conduct let him take two.
And portion four let him reserve and hoard;
So there’ll be wherewithal in times of need.
(Dialogues of the Buddha II. pp. 179-180)
 
 
6. Người gần kẻ hạ liệt,
Rồi cũng bị hạ liệt,
Thân cận người đồng đẳng,
Được khỏi bị thối đoạ,
Ai gần bậc thù thắng,
Mau chóng được thăng tiến,
Do vậy hãy sống chung,
Bậc ưu thắng hơn mình !
(Tăng Bộ Kinh I, trang 223).
 
Who follows mean companions soon decays:
He never fails who with his equals mates:
Who leans towards the noble rises soon.
So do thou serve a better than thyself.
(The Book of the Gradual Sayings I, p. 108).
 
 
7. Biết bố thí thiện sĩ
Bất hại, chế ngự căn,
Tự điều, hầu mẹ cha,
Các vị sống Phạm hạnh,
Bổn phận kẻ thiện khen,
Người Hiền thực hiện chúng,
Bậc Thánh thấy rõ vậy,
Đạt được đời an lạc.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 270-271)
 
Giving and harmlessness and self-restraint,
Control of sense and servece to the parents
And holy ones who live the righteous life,
If any one be wise to do these things
By good men favoured, he, an Ariyan
Clear-sighted, will attain the world of bliss.
(The Book of the Gradual Sayings I, p. 135f).
 
 
8. Như núi đá sừng sững,
Trong rừng sâu, rừng rậm,
Các cây lớn dựa vào,
Lớn lên những thần rừng.
Cũng vậy, thiện nam tử,
Có lòng tinh giới đức,
Vợ con và gia quyến,
Dựa vào để lớn mạnh,
Với tuỳ tùng bà con,
Nhờ cậy để sinh sống,
Thấy vị giới hạnh làm,
Giới, bố thí, thiện hành.
Nếu chúng có mắt sáng,
Chúng làm theo vị ấy,
Ơû đây, làm đúng pháp,
Con đường đến cõi lành,
Trong thiên giới hỷ lạc,
Ước muốn được hoan hỷ.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 272-273)
 
Just as a mountain, all of solid rock,
Stands in a forest, in a mighty grove,
And neath its shelter grow the forest-lords:
So in this world, dependent on their head,
A virtuous believer, wife and children,
Kinsmen and friends and relatives, who live
Supported by that clan-head, grow apace.
When they behold that good man’s charity,
His virtue and the righteous life he leads,
If they have wits, they follows his example:
So in this life treading with righteousness
The path that leads unto the Happy Lot,
In the Heaven World they win the bliss they seek.
(The Book of the Gradual Sayings I, p. 136).
 
 
9. Ai là người thông minh,
Là người không sợ hãi,
Lại là người nghe nhiều,
Và cũng hạng trì pháp,
Đối với chánh diệu pháp,
Thực hành pháp, tuỳ pháp,
Người như vậy được gọi,
Vị chói sáng chúng Tăng,
Vị Tỳ-kheo đủ giới,
Tỳ-kheo-ni nghe nhiều,
Bậc cư sĩ tín nam,
Bậc cư sĩ tín nữ,
Họ chói sáng Tăng chúng,
Là ánh sáng chúng Tăng.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 563)
 
Whoso is wise and confident,
Of learning deep, a Dhamma-bearer,
And lives accordantly therewith,-
“Light of the Order” such is called.
The virtuous monk, the learned nun,
The layman and laywoman staunch,
These four illuminate the Order.
“Lights of the Order” they are called.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 9).
 
 
10. Đối với mẹ và cha,
Ai hành xử tà vạy,
Với Như Lai Chánh Giác,
Hay với đệ tử Ngài,
Người xử sự như vậy,
Tạo nhiều điều vô phước,
Những ai có ác hạnh,
Đối với mẹ và cha,
Đời này, bậc trí trách
Đời sau sanh đoạ xứ.
Đối với mẹ và cha,
Ai hành xử chơn chánh,
Với Như Lai Chánh Giác,
Hay với đệ tử Ngài
Người xử sự như vậy,
Tạo nhiều điều phước đức,
Những ai có chánh hạnh,
Đối với mẹ và cha,
Đời này bậc trí khen,
Đời sau hưởng Thiên giới.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 556-557)
 
Mother and father and the Enlightmened One,
Tathagata, and those who follow him,
Whoso entreateth ill stores up much woe.
For such ill deeds to parents, in this life
The sages blame that man, and in the life
That follows to the place of woe he goes.
Mother and father and the Enlightened One,
Tathagata, and those who follow him,
Whoso entreateth well stores up much merit.
For such good deeds to parents, in this life
The sages praise that man, and afterwards
In the world of heaven he wins happiness.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 4)
 
 
11. Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Kẻ ấy với miệng lưỡi,
Chứa chấp điều bất hạnh.
Do vì bất hạnh ấy,
Không tìm được an lạc.
Nhỏ nhen không đáng kể,
Là loại bất hạnh này,
Bất hạnh do cờ bạc,
Phá hoại các tài sản.
Lớn hơn, lớn hơn nhiều,
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người,
Và cả với riêng mình.
Những ai với ác ý,
Đối với bậc Thiện Thệ,
Trải qua một trăm ngàn,
Thời Nirabbuda,
Và cọng ba mươi sáu
Với năm Abbuda,
Bị sanh vào địa ngục,
Trong suốt thời gian ấy,
Nếu nhiếc mắng bậc Thánh,
Với lời ý, nguyện ác.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 554)
 
Who praiseth him who should be blamed,
Or blameth who should praised be,
He by his lips stores up ill-luck
And by that ill-luck wins no bliss.
Small is the ill-luck of a man
Who gambling loseth all his wealth.
Greater by far th’ill-luck of him
Who, losing all and losing self,
Gainst the Well-fares fouls his mind.
Whoso reviles the Worthy Ones,
In speech and thought designing ill,
For an hundred thousand periods,
For six and thirty, with five more
Such periods, to Purgatory’s doomed.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 4).
 
 
12. Bị trói buộc cả hai,
Dục ái và hữu ách,
Bị trói buộc kiến ách,
Với vô minh thượng thủ,
Chúng sanh bị luân chuyển,
Đi đến sanh và chết,
Những ai liễu tri dục,
Và toàn bộ hữu ách,
Nhổ vất bỏ kiến ách,
Và từ bỏ vô minh,
Ly hệ tất cả ách,
Họ vượt khỏi các ách.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 571)
 
Bound by the bond of passions and becoming,
Bound by the bond of view, by ignorance
Circled about, to birth and death returning
Creatures go faring on samsara’s round.
But they who, passions fully comprehending,
Have learned becoming’s bond and have thrown off
The bond of view and ignorance abandoned,
Freed from all bonds have surely bonds transcended.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 12f).
 
 
13. Biết đủ với sự vật,
Không quan trọng, dễ được,
Lại không có phạm tội,
Tâm không bị phiền nhiễu,
Về vấn đề trú xứ,
Y áo và ăn uống,
Tâm không bị lo lắng,
Về phương hướng phải đi,
Các pháp được tuyên bố,
Thuận lợi Sa-môn hạnh,
Chúng được có đầy đủ.
Với vị không phóng dật,
Tinh cần trong học tập.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 600)
 
Contented with what brings no blame,
A trifling, easy-gotten thing,
His mind untroubled by the thought
Of lodging, robes, or food and drink,
He is not worried where to go.
And thus the things declared to suit
The life of the recluse are won
By that contented, earnest monk.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 30).
 
 
14. Hãy sống không có tham,
Với tâm không có sân,
Chánh niệm và nhất tâm,
Nội tâm khéo định tĩnh.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 605)
 
Not covetous, with heart of malice void,
A man should dwell, with concentrated mind,
With mind one-poined, in the self controlled.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 32).
 
 
15. Tin tưởng vào tối thượng,
Biết được pháp tối thượng,
Tin tưởng Phật tối thượng,
Đáng tôn trọng vô thượng
Tin tưởng Pháp tối thượng,
Ly tham, an tịnh, lạc
Tin tưởng Tăng tối thượng
Là ruộng phước vô thượng,
Bố thí bậc tối thượng
Phước tối thượng tăng trưởng,
Tối thượng về thọ mạng,
Dung sắc và danh văn,
Tối thượng về an lạc,
Tối thượng về sức mạnh,
Bậc trí thí  tối thượng,
Pháp tối thượng chánh định,
Chư Thiên hay loài người,
Đạt được hỷ tối thượng.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, trang 615 – 616)
 
Of those who have faith at its best
Who comprehend best Dhamma
Of those who have faith in the Buddha,
Gift-worth, unsurpassed:
Of those who have faith in Dhamma,
Passionless, calming, blissful:
Of those who have faith in the Order,
The field of merit supreme:
Of those who give gifts of their best
The merit doth increase.
Best is their life and beauty,
Fame, good report, bliss, strength.
The sage who gives of his best,
In best of dhammas calmed,
Deva-become or human,
Winning the best rejoiceth.
(The Book of the Gradual Sayings II, p. 39f).

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập