Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Nghe Pháp & thực hành Pháp Những cánh hoa trí tuệ - Phần 11

Những cánh hoa trí tuệ - Phần 11

Đã đọc: 4804           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

1
 
Dầu sống một trăm năm
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.
(Pháp Cú, kệ số 110)

Better than a hundred years in the life of an immoral person who has no control over his senses, is a day in the life of a virtuous person who cultivates Tranquillity and Insight Development Practice. (Dhammapada, v 110)

 


2

Tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt. Sáu pháp này là thuộc về minh phần. (Tăng Chi Bộ Kinh III, 88)

The idea of impermanence, the idea of the ill I impermanence, the idea of not-self in ill, the idea of renunciation, of dispassion, of ending. Thesse six things are parts of wisdom. (The Book of the Gradual Saying III, 235)

 

3

Trước bố thí, ý vui,
Khi bố thí, tâm tín,
Sau bố thí, hoan hỷ,
Đây lễ thí đầy đủ.
(Tăng Chi Bộ Kinh III, 93)
     
Gladsome before the gift, giving satisfied,
Uplifted having givenĐ that’s bounty’s fulness.
(The Book of the Gradual Saying III, 237)

 

4

Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. (Tăng Chi Bộ Kinh II, 352)

The alms-giver, as man, surpasses the non-giver in five ways: in human life-span, beauty, happiness, honour and power. (The Book of the Gradual Saying III, 24)


5

Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục.
(Tăng Chi Bộ Kinh III, 211-212)
     
In passionate purpose lies man’s sense-desire*
The world’s gay glitters are not sense-desires,
In passionate purpose lies man’s sense-desire.
The world’s gay glitters as they are abide,
But wise men hold desire therefor in check.
(The Book of the Gradual Saying III, 291)

 

6

Tỷ-kheo chánh niệm đi ra, chánh niệm đi vào, chánh niệm ngồi, chánh niệm nằm, chánh niệm trong khi làm việc. Đây là chỗ để tùy niệm, như vậy tu tập, như vậy làm cho sung mãn, được đưa đến chánh niệm tỉnh giác. (Tăng Chi Bộ Kinh III, 74)

A monk goes out mindful, comes in mindful, stand mindful, sits mindful, lies down mindful and is mindful in performing action. This state of ever minding, thus made become, thus made to increase, leads to mindfulness and self-possession.(The Book of the Gradual Saying III, 229)

 


7

A-tu-la, nên biết,
Xưa vậy, nay cũng vậy,
Ngồi im, bị người chê,
Nói vừa phải, bị chê,
Làm bhười không bị chê,
Thật khó tìm ở đời.
(Pháp Cú, kệ số 227)

It is not new, O Atula! It has always been done from ancient times. They blame one who is silent, they blame one who speaks much, and they blame one who speaks little. There is no one in this world who is not blamed. (Dhammapada, v. 227)

 


8

Ai với mẹ hay cha,
Già yếu, tuổi trẻ hết,
Tuy giàu không giúp đỡ,
Chính cửa vào bại vong.
(Kinh Tập, kệ 98)

If anyone, (although) being able, does not support his mother or father when they are old and past their youth, that is the cause of the unsuccessful (man). (Suttanipata, v. 98).

 


 9

Chớ chê khinh điều thiện,
Cho rằng "chưa đến mình,"
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi bình cũng đầy tràn.
Người trí chứa đầy thiện,
Do chất chứa dần dần.
(Pháp Cú, kệ số 122)

One should not think lightly of doing good, imaging "A little will not affect me"; just as a water-jar is filled up by falling drops of rain, so also, the wise one is filled up with merit, by accumulating is little by little. (Dhammapada, v 122)

 

10

Nếu một Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn. (Tương Ưng Bộ Kinh II, trang 204)

If a brother because of revulsion from decay-and-death, because of its fading away and ceasing be freed from grasping, this is enough for him to be called Brother who has won Nibba na in this life. (The Book of the Kindred Saying II, p. 81)

 


11

Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Đúng thời, nghe chánh pháp,
Là điềm lành tối thượng.
(Kinh Tập, kệ 265)


Reverence, and humility, and contentment, (and) gratefulness, (and) hearing the doctrine at the right time Đ this is supreme good fortune. (Suttanipata, 265)

 


12

Một số sinh bào thai,
Kẻ ác sinh địa ngục,
Người thiện lên cõi trời,
Vô lậu chứng Niết Bàn.
(Pháp Cú, kệ số 126)

Some are reborn as human beings, the wicked are reborn in a place of continuous torment (niraya), the righteous go to the deva world, and those who are free from moral intoxicants (viz., the arahats) realize Nibbaana. (Dhammapada, v 126)

 


13

Nếu ngươi không ưa khổ,
Dầu bất cứ chỗ nào,
Chớ làm các nghiệp ác,
Trước mặt hay sau lưng.
Nếu ngươi làm, sẽ làm,
Các nghiệp ác, bất thiện,
Ngươi không giải thoát khổ,
Dầu nhảy vọt và chạy.
(Kinh Phật Tự Thuyết, Udana, 51)
     
If ye are afraid of pain, if pain is hateful to you,
Do not an evil deed openly or in secret.
If ye shall do an evil deed or do one now,
There’s no escape from pain, tho’ ye spring up and flee.
(Udana, 51)

 

14

Dễ làm là việc lành,
Đối với kẻ làm lành.
Khó làm là việc ác,
Đối với kẻ làm lành.
Dễ làm là việc ác,
Đối với kẻ làm ác.
Khó làm là việc ác,
Đối với các bậc Thánh.
(Kinh Phật Tự Thuyết, Udana, 61)
     
Easy to do for the seemly are seemly things,
But hard to do are seemly things for the wicked;
Easy to do for the wicked are wicked things,
But hard to do is wickedness for Ariyans.
(Udana, 61).

 

15

Phật dạy: Làm sao lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không thể xảy ra. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác. (Tương Ưng Bộ Kinh V, 258)

The Buddha taught: "How is it possible, I say, in the case if what is born, what is become, what is compounded, what is transitory,Đ how is it possible to have one’s wish fulfilled: Oh! may it not perish? Nay, such a thing cannot be. Wherefore, monks, do ye abide grounded in self, self-refuged, taking refuge in none other; grounded on the Norm, with the Norm for refuge, taking refuge in none other, Đ they shall be my monks, they shall be atop of the gloom: that is, they who are anxious to learn. (S. V, 164; KS. V, 144f).

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập