Ý Nghĩa Tập Trung Phân Thân

Đã đọc: 4467           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Đức Phật và chư Tổ cũng đã dạy chúng ta rằng nói nhiều thì lỗi nhiều, nói ít thì lỗi ít, không nói thì không lỗi. Lỗi này là gì? Nói sai phạm là có lỗi đã đành, nhưng nói đúng cũng lỗi, nghĩa là chúng ta bị hao hơi tổn sức và làm mất lòng người.

Tại tỉnh Bình Dương có trên 150 Tăng Ni an cư tập trung và cũng có nhiều Tăng Ni cấm tức an cư tại chỗ; điều này thể hiện sự hưng thạnh của Phật pháp tại tỉnh nhà Đức Phật dạy rằng Tỳ Ni tạng trụ, Phật pháp cửu trụ nghĩa là chúng ta còn tuân thủ lời Đức Phật dạy thì Phật pháp còn tồn tại trên thế gian này. Phật giáo tỉnh Bình Dương chẳng những tồn tại, mà còn từng bước phát triển trong thời đại mới. Đó là điều đáng mừng cho tỉnh nhà nói riêng và cho Phật giáo cả nước nói chung.

 Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã tổ chức Lễ Phật đản quốc tế và tỉnh Bình Dương là tỉnh đầu tiên khởi sắc cho mùa Phật đản năm nay. Tăng Ni, Phật tử tham dự Lễ Phật đản rất đông, chứng tỏ tấm lòng của quý vị đối với ngày lễ trọng đại này và cũng chính trong ngày Đại lễ Phật đản được tổ chức tại Đại Nam, gợi cho tôi suy nghĩ nhiều về ý nghĩa Đức Phật ra đời.

 Điều tôi tâm đắc nhất là nhận được ý nghĩa Đức Phật đản sanh mà chúng ta kỷ niệm hôm nay không phải chỉ là tưởng nhớ đến Đức Phật đã ra đời tại Lâm Tỳ Ni, Ấn Độ vào thời xa xưa và nay Ngài không còn nữa; nhưng quan trọng hơn nữa, chúng ta đang hướng về Đức Phật hằng hữu miên viễn, đó là Pháp thân của Phật, là sự sống của Giáo hội chúng ta và là niềm tin của nhân loại đối với một Bậc Toàn giác, toàn thiện, toàn mỹ.

 Thật vậy nếu chúng ta chỉ kỷ niệm sự ra đời của Đức Phật cách nay hơn 2.500 năm thì chẳng qua đó chỉ là sự hoài niệm, thương tiếc của chúng ta mà thôi. Theo tinh thần Phật giáo nhập thế và phát triển, chúng ta có tầm nhìn đúng với sự thật khách quan. Điều này đã được Đức Phật dạy trong kinh Pháp Hoa là thế gian tướng thường trụ. Vì vậy, thường ngày chúng ta vẫn niệm Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo, nghĩa là chúng ta nghĩ đến Tam bảo thường trụ, hay Tam bảo cửu trụ, tức sự tồn tại của Tam bảo đã có từ lâu. Kinh Pháp Hoa cũng nói ý này rằng Đức Phật Đa Bảo đã nhập diệt từ vô số kiếp xa xưa, nhưng khi Đức Phật Thích Ca thuyết pháp, Ngài cững hiện thân đề nghe pháp và để làm chứng tín.

 Lời dạy này nhằm gợi nhắc chúng ta rằng Đức Phật Thích Ca nhập diệt, nhưng thật ra không phải Ngài chết và Đức Phật Thích Ca Đản sanh cũng không phải là Ngài mới sanh ra. Đó cũng là điều mà lâu nay chư Tổ chúng ta thường nhắc nhở. Từ trước đến nay, trong mùa Phật đản, chúng ta thường đọc bài kệ tắm Phật, nhưng ít bao giờ nhận ra ý nghĩa sâu sắc này:

 Ngã kim quán mộc chư Như Lai

Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ

Ngũ trược chúng sanh tịnh ly cấu

Đồng chứng Như Lại tịnh Pháp thân

Tỳ Gia thành lý vị tằng sanh

Sa La thọ gian vị tằng diệt

Bất sanh bất diệt lão Cồ Đàm

Nhãn trung khán kiến trùng thêm tiết

Kim triêu chính thị tứ ngoạt bát

Tịnh Phạn vương cung sanh Tất Đạt

Củu long phúng thủy thiên ngoại lai

Bỗng túc Liên hoa tùng địa phát

 

Bài kệ này khẳng định sự hiện hữu của Đức Phật không sinh diệt, Đức Phật vĩnh hằng mới là biểu tượng cho loài người kính ngưỡng và phát tâm sống theo lời chỉ dạy của Ngài từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi mãi về sau. Đức Phật Thích Ca không phải chỉ đơn thuần là Đức Phật mang thân tứ đại, đã ra đời cách đây hơn 25 thế kỷ và Ngài đã vào Niết bàn; nhưng Đức Phật còn đang sống. Ngài đang sống ở đâu Đức Phật đang sống trong lòng Tãng Ni, Phật tử, Ngài đang sống trong lòng của nhân loại. Đức Phật thường hằng miên viễn đó mới quan trọng.

 Kỷ niệm ngày Lễ Phật đản, điều vô cùng cần thiết đối với hàng đệ tử Phật là làm cho Đức Phật sống trong lòng của tự thân mỗi người chúng ta và sống trong lòng của quần chúng. Không phải chúng ta thương tiếc một hình ảnh quá khứ không còn; vì Đức Phật có mất đâu.

  Khi nhắc đến cuộc đời của Đức Phật Thích Ca, một số người không biết, cho rằng Đức Phật đã từ bỏ ung vàng điện ngọc để xuất gia, là Ngài từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý mà mọi người ước mơ nhưng không được thật là đáng tiếc. Nhưng đối với Đức Phật, sự nghiệp vật chất là cái đáng bỏ và Ngài đã dấn thân trên con đường cát bụi, chịu đựng sự nhọc nhằn đến thấu xương. Tuy nhiên, trải qua con đường chông gai đó, cả bầu trời trong sáng hiện ra trước Ngài, tâm trí Ngài hoàn toàn an vui giải thoát thế giới huy hoàng là Phật giới đã chào đón Ngài. Ngày nay, bước theo dấu chân Phật, chắc chắn chúng ta cũng đi trên chông gai, nhưng vẫn hoan hỷ vì đã mang đến nhiều đóng góp có ý nghĩa cho sự sống an lạc của nhân loại.

 Trên bước đường tu, yếu nghĩa của bộ kinh Bát Nhã giúp chúng ta phát triển trí tuệ, nhìn sự vật đúng như thật, hiểu rõ thân tứ đại là sự giả hợp mà có, ngũ uẩn của chúng ta là không. Tu Bát Nhã phải thấy như vậy để chúng ta không chấp vào thân tứ đại và không kẹt với ngũ uẩn. Đa số người tu vấp phải sai lầm, thường chấp ngã và chấp pháp. Điển hình là trong thời đại Kamakura, có vị Tăng rất hiền lành và khoan dung, nên được Tăng Ni thời đó kính trọng, nhà vua mới phong cho ông làm Quốc sư. Nhưng khi ông đạt được vị trí lãnh đạo cao tột này thì tâm chấp vào địa vị mỗi ngày nặng thêm. Vì vậy, ngài Nhật Liên lúc đó mới 30 tuổi, tuyên bố một câu làm chới với vị lãnh đạo này. Ngài nói Quốc sư, Đại sư mà còn chấp pháp, chấp ngã thì còn thua tiểu Tăng. Ngài Lương, khoan nghe như vậy, chịu không nổi, chống gậy vào triều đòi xử ngài Nhật Liên. Qua câu chuyện lịcn sử này, nhắc nhở tất cả chúng ta nên cân nhắc trên bước đường tu, đừng để mình chấp ngã nặng thêm; vì khi chưa có địa vị, ai nói gì mình cũng nhịn được, nhưng có địa vị rồi, tâm lại trở nên hẹp hòi, cho nên được ca ngợi thì mình mới vui, ai xem thường thì mình khổ đau. Thiết nghĩ quý thầy từng bước đi lên, nên xóa ngã chấp, ai khen mình cũng được, chê cũng không sao; đừng vui buồn với lời khen tiếng chê của thiên hạ. Còn tụng một ngàn bộ kinh Bát Nhã mà gặp việc cảm thấy chướng tai gai mắt, không chấp nhận được là chưa vào đạo. Cửa đạo gọi là Không môn, tâm chúng ta hoàn toàn thanh thản, không vướng mắc gì cả mới được giải thoát.

 Hòa thượng Trí Thủ khi còn sinh tiền, ngài đã khuyên tôi rằng người quân tử ví như cây tre, cây trúc:

 

Vị xuất thời tiên địa tiết

Đáo lăng vân xứ cánh hư tâm

 

Nghĩa là cây tre, hay cây trúc khi chưa ra khỏi mặt đất, nó đã có từng lóng mắt. Người tu khi chưa thành danh, phải tập sống tiết tháo, vì sống bừa bãi thì sau này khó tiến tu. Người tu sống có chừng mực, không nói điều không đáng nói và khi nào cần mới ăn. Ăn và nói là hai việc quan trọng mà nhờ có nếp sống tiết tháo, sẽ giúp chúng ta trở thành người đức hạnh, mới được xã hội quý trọng và tin dùng.

 Đức Phật và chư Tổ cũng đã dạy chúng ta rằng nói nhiều thì lỗi nhiều, nói ít thì lỗi ít, không nói thì không lỗi. Lỗi này là gì? Nói sai phạm là có lỗi đã đành, nhưng nói đúng cũng lỗi, nghĩa là chúng ta bị hao hơi tổn sức và làm mất lòng người.

 Tôi còn nhớ Hòa thuợng Thiện Hòa nổi tiếng ít nói, ngài cũng dạy rằng:

 

Khẩu khai thần khí tán

Động thiệt thị phi sanh

 

Mở miệng nói thì cái thần của chúng ta bị tán, cái khí của chúng ta bị tổn hại; vì khi nói, nghe, tranh cãi chúng ta bị sự vật bên ngoài tác động, chi phối nhiều, nên thần tan, trí sáng suốt không còn. Vỉ vậy, khi ngồi thiền, chúng ta tập trung được; còn nói thì khó tập trung. Sử dụng được thần thông như ngài Mục Kiền Liên là nhờ sức tập trung cao độ gọi là định lực. Có lực tập trung là có "Thần" thì mới có "Thông", tức biến hóa được. Thần không có thì thông cũng hết.

 Người tu có sức tập trung, giữ được cái thần sẽ thể hiện ra nét mặt rất sáng mà trong kinh biểu thị bằng hào quang. Thần khí đầy đủ, chúng ta không mệt mỏi, không buồn ngủ; thần bị tản, khí bị hao , chúng ta mệt và ngủ say. Thiền sư nhờ tập trung, nên họ thiền thay cho ngủ, họ không ngủ nhưng không buồn ngủ, không mệt, vì thần khí đầy đủ. Người tu phải dưỡng thần khí của chúng ta, để tạo sức sống khỏe mạnh, đức hạnh và thanh tịnh; đừmg để tiêu hao thần khí khó tiến tu. Riêng tôi, sau một thời pháp, hay sau một việc quan trọng, tôi luôn dành thì giờ tập trung để giữ thần khí lại; vì vượt mức cho phép sẽ ngã bệnh.

 "Động thiệt thị phi sanh", nghĩa là cái lưỡi cục cựa là thị phi sẽ có liền. Và thị phi trên cuộc đời này là nói phải trái qua lại thì tất cả đều sai; nói đúng cũng sai, huống chi là nói sai. Ít nói, thậm chí không nói, càng hay.

 Đời sống chúng ta phải có tiết tháo ví như cây tre, cây trúc có lóng mắt rõ ràng. Tiết tháo trong đạo Phật đặt nặng việc ăn uống, ăn uống có chừng mực. Đức Phật dạy không ăn nhiều, không ăn ít. Tổ Thiên Thai dạy không ăn những gì không thích hợp với cơ thể, dù có ngon miệng cũng không ăn.

 Ngoài đời sống vật chất có tiết tháo tâm hồn chúng ta phải mở rộng lần giống như cây tre, cây trúc ở dưới gốc đặc ruột, nhưng lên càng cao thì ruột càng mỏng lần cho đến rỗng không, là "Đáo lăng vân xứ cánh hư tâm", nghĩa là tâm chúng ta đừng hẹp hòi, cố chấp, tu càng lâu thì tâm càng rộng rãi, bao dung được mọi người. Người tu khi chưa làm Thánh, làm Phật được, nên làm nguời quân tử trước; ai nói gì, chúng ta cũng bỏ qua, đừng để trong tâm. Lưu giữ trong lòng mình quá nhiều thì ruột bị đặc lại rất nguy hiểm; nói cách khác, biết nhiều thì phiền não nhiều, không biết thì không khổ. Tôi không bận tâm, không biết việc phải trái hơn thua, nên sống rất an lạc.

 Đức Phật dạy chúng ta thực hành xả tâm. Tâm Phật là tâm từ bi hỷ xả. Quý thầy muốn giải thoát đầu tiên phải tập xả tâm, xả việc sai quấy cho đến xả luôn cái tốt. Theo kinh nghiệm tu hành của riêng tôi, ở giai đoạn đầu, ai làm gì tốt cho tôi tôi nhớ cả đời; nhưng xử sự xấu với tôi tôi vội bỏ điều xấu đó ra khỏi tâm mình, nhờ vậy tôi được an lạc. Và cuối cùng, chúng ta xả bỏ luôn cả việc xấu lẫn tốt.

 Chỉ tu xả tâm, chứng được Bát Nhã, bước vào cánh cửa Không, đó là ranh giới giữa không và có. Thế giới chúng ta sống là thế giới Hữu, gọi là Tam hữu, chúng ta còn trôi lăn trong Tam hữu này (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới) Đối với chúng ta, từ thế giới vật chất sanh thế giới tâm linh, cả hai thế giới này đều nằm trong Tam hữu, cho đến chứng được Phi phi tưởng xứ, cũng còn kẹt trong thế giới Hữu; phải bứt phá được thế giới này để bước qua thế giới Không, mới có Phật, Bồ tát, La hán.

 Thực tập xả bỏ tất cả, không bận tâm, là rời được thế giới Hữu. Tuy nhiên, quý thầy nên thực tập chừng mực, biết rõ khi nào nên bỏ, khi nào cần phải giữ; vì bỏ hết, để không còn gì nữa là sai lầm. Nếu tiền nhân chúng ta xả bỏ tất cả, thì ngày nay không có chùa Hội Khánh cho chúng ta tu hành. Chùa này hiện hữu do công sức lớn của các người trước và của Hòa thượng Từ Văn . Nhưng nay giao sự nghiệp này cho quý vị, mà quý vị bỏ, không giữ gìn, thế hệ kế tiếp sẽ không còn chùa này để tu hành là phạm lỗi lớn.

 Phải cân nhắc pháp xả. Đức Phật dạy không giữ trong lòng mình bất cứ điều gì để tiến đến chân lý; nhưng còn thêm một điều nữa là phương tiện độ đời thì không bỏ cái nào hết. Phiền não, trần lao nghiệp chướng phải bỏ; còn phương tiện độ đời do phước đức sinh ra, thì không bỏ. Trên bước đường tu, quý thầy bỏ khôn dại của con người, để sinh được phước đức thì dù có bỏ sở hữu vật chất cũng không mất; vì phước đức gắn liền với cuộc sống của chúng ta, còn sở hữu vật chất xây dựng bằng tính toán khôn dại của thế nhân thì luôn chuyển đổi từ người này sang người khác. Người xưa cũng nói ý này rằng "Nhứt khoảnh điền, thiên niên vạn chử", chỉ một thửa ruộng thôi mà đã có cả vạn người thay nhau làm chủ nó, không một người nào có thể giữ mãi tài sản vật chất làm của riêng cho mình.

 Đa số Tăng Ni và Phật tử tỉnh Bình Dương tu hành tốt, nên các chùa của tỉnh nhà mỗi ngày được dựng lớn hơn và quần chúng tu tập đông hơn. Tu sai, cuộc sống cứ xuống lần, lại cứ vác đơn đi thưa để cuối cùng mất hết. Người tu giữ được đạo đức thì dân chúng thương quý và chính quyền ủng hộ, sẽ có thêm, chứ không thể mất được. Nhưug nếu ta khởi ý hơn thua tranh chẩp với người đời thì họ có đủ mạnh khỏe, thủ đoạn, làm sao người tu đối chọi lại được người đời và đưa đến việc thưa kiện, chính quyền xử ta là họ kéo ta từ người tu giải thoát xuống ngang hàng với người tranh chấp; như vậy là chúng ta mất trắng dù có thắng kiện cũng chỉ là cái được trong cái thua.

 Thực tế cho thấy từ xưa, chùa chiền phát triển đều nhờ người hằng tâm hằng sản đóng góp, nhờ vua chúa ủng hộ. Ngày nay cũng vậy, tất cả mọi sinh hoạt đạo pháp thành tựu cũng do Phật tử cúng dường và chính quyền cho phép. Người tu xả vật chất, xả phải trái hơn thua, nhưng giữ đạo đức, nên còn tất cả những gì của người tu.

 Theo lý Bát Nhã, phải xả bỏ tẩt cả vì trong thế giới không thì phức đức mới sinh ra. Tổ Huệ Năng dạy rằng "Bản lai vô nhất vật" , đó là sở đắc mà người tu từ nghìn xưa cho đến bây giờ cần phải đạt được, không để dính mắc bất cứ điều gì trên cuộc đời này. Một vị Tổ khác e ngại chúng ta hiểu lầm ý nghĩa của pháp xả, nên đã dạy rằng "Vô nhất vật trung vô tận tạng". Phải tìm được vô tận tạng bên kia cánh cửa Không bằng cách xả bỏ thế giới bên ngoài tức tìm ra kho báu, hay Bảo sở theo kinh Pháp Hoa.

 Trên lộ trình đi đến Bảo sở, phải vượt qua 500 do tuần đường hiểm, nghĩa là trải qua sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thâm nhập thế giới Không, kho báu mới hiện ra, đó là "Vô tận tạng" ở trong "Vô nhất vật". Kinh Pháp Hoa diễn tả rằng tháp Đa Bảo chứa nhiều của báu dành cho người tu với điều kiện phải mở được tháp mới sử dụng được của báu. Trên bước đường tu, suốt đời chúng ta vẫn hoàn nghèo, vì không bước vào cửa Không, không mở được cửa tháp báu.

 Đức Phật Thích Ca cho biết Đức Phật Đa Bảo có thệ nguyện rằng ai muốn mở tháp báu, phải tập trung phân thân. Năm nay, dự Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc gợi cho tôi suy nghĩ nhiều về ý nghĩa tập trung phân thân.

 Thực tế cho thấy Phật giáo chúng ta xưa kia hầu như bị phân tán, không có sự tập trung; cho nên sinh hoạt yếu kém. Ngày nay, chúng ta thể hiện được ý nghĩa của sự tập trung phân thân, để mở cửa tháp báu. Đó là đầu tiên chúng tập trung được tất cả các hệ phái Phật giáo ở đất nước ta thành một Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trải qua suốt 27 năm, một Giáo hội duy nhất của chúng ta đã sinh hoạt hài hòa theo Hiến chương và nội quy của các ban ngành, đã tạo thành giềng mối vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam. Với sự hưởng dẫn của trí tưệ tập thể là Giáo hội chúng ta, Tăng Ni, Phật tử mới có điều kiện học chung, tu chung, làm việc chung và tạo thành sức mạnh hòa hơp đúng theo lời Phật dạy.

 Thật vậy, trên thế giới, chỉ có Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tập trung sinh hoạt trong một Giáo hội duy nhất. Ngay như Phật giáo Thái Lan theo tinh thần Nguyên thủy, vẫn giữ hai Giáo hội, một Giáo hội của Hoàng gia và một Giáo hội của đại chúng. Và Trường Đại học Phật giáo Thái Lan cũng có một trường dành cho đại chúng và một trường của Hoàng gia. Giáo hội Phật giáo Campuchia cũng giống như vậy.

 Có thể khẳng định rằng với sức lực tập trung tất cả mọi sinh hoạt Phật pháp trong một Giáo hội, giới Phật giáo Việt Nam chúng ta đã đủ lớn mạnh, dù đất nước chúng ta chưa giàu, nhưng đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc năm nay.

 Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng tạo được lực tập trung lớn mạnh mang tính toàn cầu, thể hiện qua sự tham dự của hơn 75 quốc gia trên thế giới trong Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc năm nay.

 Năm 2004, Thái Lan là quốc gia đầu tiên tổ chức Lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc, nhưng chỉ có khoảng 20 nước tham dự. Đến năm 2008, số quốc gia tập trung về Việt Nam tham dự Đại lễ Phật đản vượt trội gần gấp bốn lần. Điều này thể hiện uy tín và vị trí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tăng cao đối với các nước bạn trên thế giới Có thể nói thành quả này tiêu biểu cho một phần yếu nghĩa của tháp Đa Bảo được mở ra, hay mở kho tàng giáo pháp của Đức Phật Thích Ca để lại cho chúng ta.

 Thật vậy, từ trước đến nay, tất cả Tăng Ni, Phật tử trên thế giới đều thể nghiệm những giáo pháp phương tiện khác nhau để thích hợp với phong tục, tập quán, văn hóa... của  từng nơi khác nhau. Vì vậy mà việc tu tập, hành đạo của Phật giáo Việt Nam khác với Phật giáo Thái Lan, Nhật Bản, hay Pháp, Mỹ, v.v...

 Và thực tế cho thấy chính sự khác biệt trong sinh hoạt Phật pháp đã dẫn đến tình trạng các nước tuy cùng theo đạo Phật nhưng lại không công nhận nhau, xem thường nhau... Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào thực hiện một pháp để tất cả mọi người chấp nhận được.

 Phật giáo Việt Nam chúng ta đã có mô hình sáng tạo cho sinh hoạt Phật pháp chẳng những tồn tại mà còn phát triển bền vững và sự thành công này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã được các nước Phật giáo bạn nhìn nhận và suy nghĩ.

 Năm 1980, giới Phật giáo Việt Nam đã có ý tưởng thống nhất sinh hoạt Phật giáo, nhưng thống nhất theo phương cách nào để mọi người đều chấp nhận, vì lúc bấy giờ, chúng ta có nhiều Giáo hội.

 May mắn thay, với trí tuệ tập thể, chúng ta đã có được phương châm thống nhất rất đúng đắn, dựa trên ba tiêu chuẩn là thống nhất lãnh đạo và tố chức, thống nhất ý chí và hành động. Mọi người được toàn quyền tu tập pháp môn riêng biệt thích hợp cho mình, nhưng phải đúng Chánh pháp.

 Thành quả của chúng ta gần 30 năm qua đã thể hiện rõ nét rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam tồn tại vì thích hợp với thời đại và giới Phật giáo chúng ta được quý trọng vì có nhiều đóng góp lợi ích cho xã hội. Còn pháp tu biệt truyền theo Bắc tông, Nam tông, hay Khất sĩ thì tùy theo hạnh nguyện của mỗi người. Thầy thuyết pháp hay thầy làm nghi lễ tín ngưỡng, hoặc tu thiền, hay niệm Phật cũng được. Tất cả phương tiện tu hành theo Phật đều có cùng một mục đích, nhằm giúp tất cả chúng ta dẹp trừ phiền não, đạt giải thoát, giác ngộ và mang lại lợi ích cho cuộc đời.

 Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ khi thành lập cho đến ngày nay, trải qua 27 năm đã từng bước lớn mạnh, tham gia vào các diễn đàn Phật giáo thế giới, các hội nghị Phật giáo toàn cầu cho đến tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc. Điều này thể hiện sự phát triển bền vững của Phật giáo Việt Nam cũng như đã mở ra cho giới Phật giáo thế giới nhận thấy được việc thống nhất sinh hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã gặt hái được những kết quả tốt đẹp vô cùng. Các quốc gia đến tham dự Đại lễ Phật đản mang đủ màu sắc của các hệ phái Phật giáo, đều được chúng ta tôn trọng và họ cũng tôn trọng chúng ta. Đó chính là sự tồn tại hỗ tương trên tinh thần tương kính, hiểu biết và cùng chia sẻ kinh nghiệm hành đạo giữa các nước Phật giáo, giữa các hội đoàn Phật giáo trên thể giới. Một sự cộng tôn phát triển của Phật giáo trên khắp năm châu bốn biển vì lợi ích cho nhiều cộng đồng xã hội, cho cả nhân loại nói chung. Chắc chắn Phật giáo của thế kỷ XXI đều chấp nhận sự sinh hoạt cộng tồn trên nền tảng chung nhất này.

 Trước kia, Phật giáo Thái Lan và Phật giáo Việt Nam thành thật mà nói đã có một khoảng cách rất lớn. Nhưng trước Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc năm nay, Trường Đại học Mahachulalongkorn của Phật giáo Hoàng gia Thái Lan đã trao tặng tôi bằng Tiến sĩ Danh dự và trong sáu vị nhận văn bằng này, chỉ có một nguời Thái Lan, còn lại là người Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc vàViệt Nam. Điều này cho thấy giữa Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông không còn cái nhìn phân biệt, không còn khoảng cách, nhưng là một sự thân thiện, cởi mở, hoan hỷ chấp nhận những phương tiện hành đạo khác nhau. Đó chính là mô hình tương lai của Phật giáo toàn cầu, theo đó pháp môn tu khác biệt vẫn được tôn trọng nếu còn thích hợp với thời đại, còn được đa số quần chúng quý trọng, sử dụng, chứ không đố kỵ. Vì theo tinh thần Phật dạy, điều gì mà quần chúng cần, chúng ta sẵn sàng cho. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã ví Ngài như người thợ làm đồ gốm; ai cần món đồ gì người thợ nặn ra món đó, cần cái nồi thì không thể cho cái chai. Vì vậy tùy theo nhu cầu xã hội của từng nơi khác nhau mà giới Phật giáo đáp ứng để quy về chân lý; đó là phương tiện hành đạo muôn màu muôn vẻ của mọi hình thái Phật giáo trên thế gian này.

 Trong mùa an cư, Tăng Ni có điều kiện suy nghĩ những việc làm của quá khứ còn thích hợp, thì tiếp tục phát triển; những gì không thích hợp thì gác lại. Cầu mong tất cả hành giả luôn an lành trong ánh hào quang của chư Phật.

 

 Nguồn: Báo Giác Ngộ số 441 & 442

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập