Trang chủ Phật Pháp Giáo Pháp Giác ngộ - Giải thoát Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ

Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ

Đã đọc: 3413           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Sự tán dương việc thực hành giới luật không chỉ tìm thấy trong tạng Luật mà cũng trong kinh điển Đại thừa, chẳng hạn như kinh điển Bồ tát và trong mật điển Tantra Yoga Tối thượng. Trong mật điển Kalachakra Tantra, thí dụ, có một lời tuyên bố rõ ràng rằng tất cả những đạo sư Kim cương của Kalachakra, đạo sư Kim cương có thệ nguyện cụ túc giới là tối cao.

Chương 9 
QUAN ĐIỀM VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA BỒ TÁT

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  đoạn thứ mười tám

Đã phát sinh nguyện vọng cho giác ngộ 
Tiếp tục nâng cao nó qua nổ lực phối hợp 
Hãy nhớ nó trong đời này và cũng trong những đời sống khác 
Giữ gìn những giới luật thích hợp như đã giảng giải.

Nếu chúng ta đã tiếp nhận chí nguyện bồ đề tâm, chúng ta phải kiêng cữ khỏi bốn nhân tố tiêu cực và trau dồi bốn nhân tố tích cực để bảo đảm rằng sự thực tập của chúng ta không bị thối thất trong đời này và những đời sau nữa.

Bốn nhân tố tiêu cực là:

1- Làm thất vọng vị thầy của mình và những chúng sinh đáng được tôn kính bởi nói lời dối trá. 
2- Nguyên nhân là những người khác cảm thấy ăn năn vì những hành vi đạo đức của họ. 
3- Nổi giận, nói lời thô ác đến những vị bồ tát. 
4- Với động cơ tiêu cực làm thất vọng những chúng sinh khác.

Bốn nhân tố tích cực là:

1- Không bao giờ nói dối vì lý do vị kỷ, ngay cả cái giá mạng sống của mình. 
2- Hướng dẫn những chúng sinh khác đến con đường của đạo đức. 
3- Trau dồi nhận thức về những vị bồ tát những người đã phát sinh bồ đề tâm như những vị thầy và làm hiển lộ những đạo đức của họ. 
4- Tiếp tục duy trì lòng từ bi và ý thức trách nhiệm đối với tất cả chúng sinh.

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn thứ mười chín

Không có thệ nguyện của mục tiêu dấn thân 
Nguyện vọng toàn thiện sẽ không thể lớn mạnh 
Nổ lực một cách xác định để tiếp nhận nó 
Vì con muốn ước nguyện cho sự giác ngộ lớn mạnh.

Ở đây, luận giải đang tuyên bố rằng mặc dù phát sinh nguyện vọng đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh có công đức vô lượng, nhưng lợi ích lớn hơn tùy thuộc vào sự tiếp nhận thệ nguyện Bồ tát để sống cho lý tưởng của bồ đề tâm.  Luận giải khuyến nghị tiến trình sau đây:

1- Phát sinh mục tiêu vị tha 
2- Tham gia trong một nghi thức và tiếp nhận một chí nguyện để tiếp tục duy trì nó. 
3- Trau dồi khao khát dấn thân vào những hành vi của Bồ tát. 
4- Tiếp nhận những thệ nguyện Bồ tát.

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn thứ hai mươi

Những ai duy trì bất cứ điều nào về bảy loại (thất chúng) 
Của thệ nguyện giải thoát cá nhân  
Có lý tưởng [cần trước hết] cho 
Thệ nguyện Bồ tát, chứ không phải những thứ khác

Ở đây, luận giải chỉ ra rằng những hành giả tiếp nhận thệ nguyện Bồ tát một cách lý tưởng nên đặt nền tảng của những nguyên tắc đạo đức bằng quán chiếu bất cứ điều nào của bảy lớp của những thệ nguyện cho giải thoát cá nhân.

1-    Thệ nguyện của nam cư sĩ (ưu bà tắc giới) 
2-    Thệ nguyện của nữ cư sĩ (ưu bà di giới) 
3-    Thệ nguyện của nam sa di 
4-    Thệ nguyện của nữ sa di 
5-     Thệ nguyện của thức xoa ma na ni 
6-    Thệ nguyện của nam đại giới  
7-    Thệ nguyện của nữ đại giới 

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn thứ hai mươi mốt

Đức Thế Tôn nói về bảy loại 
Của thệ nguyện giải thoát cá nhân 
Tốt nhất của những điều này là đạo hạnh tinh khiết huy hoàng 
Được nói là thệ nguyện của của một người cụ túc giới

Đoạn này nói rằng trong bảy đặc trưng của thệ nguyện biệt giải thoát, cao nhất là đại giới.  Đức Phật tuyên bố rất rõ ràng rằng chúng ta có thể quyết định khả năng sống được, nẩy nở được, đứng vững được với giáo thuyết của Ngài trên căn bản của sự thực hành Luật tạng, những giới luật của nguyên tắc đạo đức.  Bất cứ nơi đâu sự thực hành Luật tạng được thiết lập, đặc biệt ba hành vi chính của nó – nghi thức bố tát định kỳ (nghi thức sám hối bố tát), an cư kiết hạ (khóa tu mùa hè), và lễ tự tứ (kết thúc khóa tu mùa hạ) – giáo nghĩa của Đức Phật cũng tồn tại.  Điều cũng được nói rằng bất cứ nơi đâu sự thực hành Luật tạng hưng thịnh, chính Đức Phật cũng cảm thấy một cảm giác khiêm cung.  Bất cứ nơi đâu sự thực hành Luật tạng vắng bóng, giáo thuyết của Đức Phật không thể được nói là thật sự hiện hữu tại nơi đó.

Sự tán dương việc thực hành giới luật không chỉ tìm thấy trong tạng Luật mà cũng trong kinh điển Đại thừa, chẳng hạn như kinh điển Bồ tát và trong mật điển Tantra Yoga Tối thượng.  Trong mật điển Kalachakra Tantra, thí dụ, có một lời tuyên bố rõ ràng rằng tất cả những đạo sư Kim cương của Kalachakra, đạo sư Kim cương có thệ nguyện cụ túc giới là tối cao.

Ngọn Đèn Cho Con Đường: Đoạn thứ hai mươi hai

Căn cứ theo nghi thức diễn tả trong 
Chương về nguyên tắc trong những tầng bậc của Bồ tát 
Tiếp nhận thệ nguyện từ một vị thầy tâm linh 
Có  phẩm chất rộng lượng và đức hạnh

Không giống như những thệ nguyện biệt giải thoát và mật pháp tantric, chúng ta có thể tiếp nhận thệ nguyện Bồ tát trước sự hiện diện của một vị Phật mà không có sự hiện diện của một vị thầy.  Tuy thế, đoạn thứ hai mươi hai nói rằng một cách lý tưởng, chúng ta nên tiếp nhận nó từ một vị thầy tâm linh đủ phẩm cách.  Đoạn thứ hai mươi ba diễn tả những phẩm chất của một vị thầy như thế nên sở hữu:

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn thứ hai mươi ba

Hãy hiểu rằng một vị thầy tâm linh đạo đức 
Là một người thiện xảo trong nghi lễ phát nguyện 
Người sống bằng thệ nguyện và có 
Sự tin cậy và từ bi để ban bố nó

Luận bản sau đó nói rằng nếu chúng ta không thể tìm ra một vị thầy tâm linh như vậy, chúng ta vẫn có thể tiếp nhận thệ nguyện trong cách như sau:

Ngọn đèn cho con đường: đoạn 24:

Tuy nhiên nếu trong trường hợp con cố gắng nhưng không thể
Tìm ra một vị thầy tâm linh như vậy,
Tôi sẽ giải thích một tiến trình đúng đắn khác 
cho việc tiếp nhận thệ nguyện

Từ đoạn hai mươi lăm trở đi, luận giải trình bày diễn tiến cho việc tiếp nhận thệ nguyện Bồ tát nếu một vị thầy không sẵn sàng.  Điều này được trích từ Bản Trích Yếu Những Hành Vi của tôn giả Tịch Thiên (Shantideva)

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn thứ 25 đến 31

25-  
Tôi sẽ viết ở đây rất rõ ràng, như giải thích 
Trong kinh Văn Thù Sư Lợi Trang Nghiêm Phật Địa, 
Làm thế nào, từ xa xưa, khi Văn Thù Sư Lợi là Ambaraja 
Ngài đánh thức ý định trở nên giác ngộ

(Đoạn 26 trở về sau trích trực tiếp từ luận bản của tôn giả Tịch Thiên)

26-  
“Trong sự hiện diện của những đấng hộ vệ, 
Con đánh thức mục tiêu đạt đến toàn giác 
Con cung thỉnh tất cả chúng sinh như những khách quý của con 
Và sẽ giải thoát họ khỏi vòng luân hồi.

27
“Từ giờ phút này trở về sau 
Cho đến khi con đạt được giác ngộ, 
Con sẽ không nuôi dưỡng những tư tưởng tổn hại, 
Sân hận, tham lam, và đố kỵ

28
“Con sẽ trau dồi đạo đức tinh khiết, 
Từ bỏ hành động sai quấy và khát vọng 
Và với niềm vui trong thệ nguyện của giới luật 
Rèn luyện chính mình để theo chư Phật.

29
“Con sẽ không vị kỷ để đạt đến 
Giác ngộ trong phương pháp nhanh nhất, 
Nhưng sẽ ở lại phía sau cho đến ngay lúc cuối cùng 
Vì lợi ích của một chúng sinh đơn lẻ

30
“Con sẽ tịnh hóa vô lượng 
Bất khả tư nghì quốc độ 
Và ở lại trong mười phương cõi 
Vì tất cả những ai gọi đến tên con

31
“Con sẽ tịnh hóa tất cả thân tướng của con 
Và những hình thức hành động của lời nói  
Những hành động của tinh thần, con cũng sẽ tịnh hóa 
Và không làm điều gì phi đạo đức

Trong đoạn 32, luận giải trình bày những thực hành hay những giới điều mà hành giả phải dấn thân một khi chúng ta đã tiếp nhận thệ nguyện Bồ tát.  Đây là những điều thực hành chính yếu của sáu toàn thiện (lục ba la mật) – rộng lượng [bố thí], nguyên tắc đạo đức [trì giới], nhẫn nại [nhẫn nhục], vui thích nổ lực [tinh tấn], thiền quán tập trung [thiền định], và tuệ trí.  Tất cả những điều toàn thiện của thực hành Bồ tát có thể được hiểu trong hình thức của ba nguyên lý đạo đức của Bồ tát:

1-    Không làm những hành động tiêu cực 
2-    Tích tập đạo đức 
3-    Hành động vì lợi ích của những chúng sinh khác

Ngọn Đèn Cho Con Đường: Đoạn thứ 32

Khi những ai đấy quán chiếu thệ nguyện 
Của mục tiêu hành động vị tha đã được rèn luyện thuần thục 
Trong ba hình thức của nguyên tắc, sự quan tâm của họ 
Cho ba hình thức này của nguyên tắc (đạo đức) lớn mạnh 
Những điều làm nhân để tịnh hóa thân thể, lời nói, và tâm ý

SỰ THỰC HÀNH NĂM ĐIỀU TOÀN THIỆN ĐÀU TIÊN 

Bây giờ chúng ta liên hệ đến luận giải của đạo sư Tông Khách Ba để đọc những lời giải thích về sáu toàn thiện.  Thứ nhất là toàn thiện về lòng rộng rải.

Rộng LượngToàn Thiện (Bố thí ba la mật)

Thi Kệ Chứng Nghiệm:  Đoạn 15

Rộng lượng bố thí là ngọc minh châu ước nguyện với nó các con có thể hoàn thành những hy vọng của chúng sinh.  Nó là vũ khí tuyệt hảo nhất để cắt đứt gút mắc của lòng bỏn xẻn.  Nó là đạo đức (vị tha) làm nổi bật sự tự tin lòng dũng cảm không bị khuất phục của các con.  Nó là căn bản cho thanh danh tốt đẹp của các con được truyền đi trong mười phương hướng.  Biết điều này, những người thông tuệ đã phát triển chính mình bằng con đường xuất sắc của sự hoàn toàn bố thí thân thể, tài sản, và công đức.  Ta, hành giả du già, đã thực tập như thế.  Các con những người cũng tìm cầu giải thoát, hãy vui thích trau dồi chính mình trong cùng cách như thế.

Dịch kệ:

15. Thí ba la mật  
Là ngọc Như Ý  
Có được khả năng  
Hoàn thành ước nguyện  
Của mọi chúng sinh;  
Là loại vũ khí  
Hữu hiệu bậc nhất  
Chặt phăng nút thắt  
Của lòng keo bẩn.  
Thái độ vì người  
Sẽ làm tăng nguồn  
Can đảm, tự tín.  
Người có hạnh Thí  
Mười phương thế giới  
Sẽ đều tán dương.  
Vì biết điều này  
Nên người có trí  
Dốc tâm tinh tấn  
Tu hành hạnh Thí,  
Cho đi toàn vẹn  
Thân thể, của cải,  
Cho cả hai bồ  
Tư lương công đức.  
Thầy là hành giả  
Đã tu như vậy.  
Các con ai người  
Đang cầu giải thoát  
Hãy tự thuần dưỡng  
Đúng theo lối này.

Chúng ta phải hiểu rằng mục tiêu chính của rộng lượng là để hoàn thành nguyện ước của đối tượng rộng lượng, đấy là những chúng sinh khác.  Mục tiêu của nó cho những hành giả là để giúp họ vượt thắng những cảm xúc của sự chiếm hữu và vướng mắc bỏn xẻn.  Luận giải chứa đựng những chi tiết giải thích làm thế nào để thực hiện việc ban cho: thời gian thích hợp, động cơ, tình trạng tâm lý, v.v… Cũng thế, khi thể hiện một hành động bố thí, những hành giả bồ tát phải bảo đảm rằng tất cả sáu sự toàn thiện được hoàn toàn trong một hành động đơn lẻ ấy.

Nguyên Tắc Đạo Đức Toàn Thiện (Trì Giới Ba La Mật)

Thi Kệ Chứng Nghiệm:  Đoạn 16

Nguyên tắc đạo đức(Trì Giới) là nước để gột sạch đi những cấu bẩn của những hành động sai lầm.  Nó là tia sáng của ánh trăng làm mát dịu sức nóng thiêu đốt của sự ô uế.  (Nó làm các con) sáng rực như Núi Tu Di trong chín loại chúng sinh.  Với năng lực của nó, các con có thể chinh phục tất cả chúng sinh (bằng sự ảnh hưởng tốt đẹp) của các con) mà không có (phương sách) của sự hào nhóang mê hoặc (hay giận dữ).  Biết điều này, những ngưởi thánh thiện có sự bảo vệ an toàn, như họ bảo vệ đôi mắt của họ, (để giữ) sự tinh khiết những giới luật mà họ đã tiếp nhận.  Ta, hành giả du già, đã thực tập đúng như thế.  Các con cũng tìm sự giải thoát, hãy vui thích tự trau dồi mình trong cùng cách như thế.

Dịch kệ: 

. 16. 
Giới là nước trong 
Giặt sạch tất cả 
Vết nhơ ác nghiệp  
Giới là trăng thanh 
Xoa dịu tất cả 
Vết bỏng nhiễm tâm 
Ai người tu giới  
Thân thể rạng ngời 
Như núi Tu Di 
Chiếu soi khắp cả 
Chín loại chúng sinh 
Năng lực của giới 
Sẽ giúp các con 
Thuần phục tất cả 
Không cần thị oai 
Chúng sinh cứng cõi 
Sẽ đều quy thuận. 
Vì biết điều  này  
Nên các bậc Thánh 
Giữ gìn giới hạnh 
Như giữ đôi mắt 
Thầy là hành giả 
Đã tu như vậy 
Các con ai người 
Đang cầu giải thoát 
Hãy tự thuần dưỡng 
Đúng theo lối này.

Đoạn thi kệ này liên hệ chủ yếu đến sự thực tập về nguyên tắc đạo đức trong hình thức cấm giới hay kiềm chế, đấy là sự ngăn ngừa đới với những hành động tiêu cực (ác nghiệp), đặc biệt trong luận văn của những lời thệ nguyện về sự giải thoát cá nhân.  Đối với một vị bồ tát, sự thực hành đạo đức chính yếu (trì giới) về cấm chỉ là ngăn ngừa khỏi trung tâm tự ngã và những tư tưởng tự yêu mến mình.

Kiên Nhẫn Toàn Thiện (Nhẫn Nhục Ba La Mật)

Thi Kệ Chứng Nghiệm:  Đoạn Thứ 17

Kiên nhẫn là sự trang nghiêm tốt nhất của những ai với năng lực và sự thực hành đầu đà (khổ hạnh) toàn thiện cho những nổi đau đớn bởi vọng tưởng.  Nó là sự vươn cao đôi cánh của đại bàng đối với kẻ thù là con rắn của sân hận, và là áo giáp dày nhất chống lại những vũ khí của ngôn ngữ lăng mạ.  Biết điều này, (người thông tuệ) đã tự quen thuộc trong những phương sách và hình thức đa dạng với áo giáp của sự nhẫn nhục siêu việt.  Ta, hành giả du già, đã thực tập đúng như thế.  Các con là những người cũng tìm cầu sự giải thoát, hay vui thích hành trì cũng cách như thế.

Dịch kệ

17- 
Nhẫn là trang sức 
Đẹp nhất cho ngưòi 
Có nhiều quyền năng 
Nhẫn là pháp tu 
Khổ hạnh tốt nhất 
Cho người thường bị 
Vọng tâm tác hại 
Là cánh chim ưng 
Bay vút trời cáo 
Khắc tinh của rắn 
Sân hận giận dữ 
Là áo giáp dày 
Ngăn chận tất cả 
Vũ khí thóa mạ 
Vì biết điều này 
Nên người có trí 
Tu tập đủ cách thích ứng tâm mình 
Với lớp áo giáp 
Hạnh nhẫn tối thượng 
Thầy là hành giả 
Đã tu như vậy 
Các con ai ngưòi 
Đang cầu giải thoát 
Hãy tự thuần dưỡng 
Đúng theo lối này

Sự thực hành nhẫn nhục ở đây liên hệ chính yếu đến sự phát triển kiên nhẫn đề chịu đựng bất cứ điều tổn hại nào có thể xảy ra cho chúng ta, những điều như vậy chúng ta phát triển một cảm xúc dửng dưng đối với nó.  Chúng ta học hỏi để tự nguyện chấp nhận sự thử thách cho những nguyên nhân cao hơn.  Cũng có một phạm trù thứ ba để thực hành nhẫn nhục, đấy là được trau dồi như một kết quả của sự liên tục phản chiếu trên những lời dạy của giáo Pháp.  Những sự giải thích chi tiết nhất của những sự thực hành này có thể được tìm thấy trong chương thứ sáu Hướng Dẫn về Đời Sống của Bồ Tát của tôn giả Tịch Thiên (Shantideva)_[38]

Vui Mừng Nổ Lực Toàn Thiện (Tinh Tấn ba la mật)

Thi Kệ Chứng Nghiệm: Đoạn 18

Một khi các con mặc áo giáp của vui mừng nổ lực kiên quyết không thể đảo ngược, sự tinh thông trong kinh điển và tuệ giác nội quán sẽ tăng trưởng như ánh trăng rằm.  Các con sẽ lảm tất cả mọi hành động đầy đủ ý nghĩa (để đạt đến giác ngộ) và sẽ đem đến bất cứ điều gì các con định làm đến kết quả đã định của nó.  Biết điều này, những vị bồ tát đã xử dụng hàng lớp sóng to lớn của vui mừng nổ lực, xóa tan đi tất cả những sự lười biếng.  Ta,  hành giả du già, đã thực tập như thế.  Các con những người cũng tìm sự giải thoát, hãy vui thích tự trau dồi chính mình trong cùng cách như thế.

Dịch kệ:

18- 
Khoác được áo giáp  
Của hạnh tinh tấn 
Khi ấy sức học, 
Tu hành, chứng ngộ 
Sẽ tăng trưởng nhanh 
Như vầng trăng non 
Đang đến độ rằm 
Hành động nào cũng 
 Tràn đầy ý nghĩa 
Hướng về giải thoát 
Và đều mang lại 
Kết quả mong cầu. 
Vì biết điều này,  
Nên chư bồ tát 
Cuộn sóng tinh tấn 
Quét sạch hết thảy 
Giải đãi biếng lười. 
Thầy là hành giả 
Đã tu như vậy 
Các con ai người  
Đang cầu giải thoát 
Hãy tự thuần dưỡng 
Đúng theo lối này.

Sự thực hành về trau dồi sự toàn thiện về vui mừng nổ lực được chi tiết trong chương thứ bảy của Hướng Dẫn về Đời Sống của Bồ Tát của tôn giả Tịch Thiên.

Tập Trung Toàn Thiện (Thiền định ba la mật)

Ngọn Đèn Cho Con Đường:  Đoạn 33 đến 38

Từ đoạn 33 trở đi, Ngọn đèn cho một giải thích chi tiết của những sự thực hành để trau dồi tịch tĩnh và tuệ giác nội quán.

33- 
Vì thế, qua nổ lực trong thệ nguyện đã phát 
Bởi những bồ tát vì sự giác ngộ tinh khiết toàn vẹn, 
Những sự tích tập vì sự giác ngộ hoàn toàn 
Sẽ được hoàn thành toàn hảo

34- 
Tất cả chư Phật nói nguyên nhân để hoàn thành 
Những sự tích tập, bản nhiên của những người là  
Công đức và tuệ trí cao thượng, 
Là sự phát triển nhận thức cao thượng.

Công đức và tuệ trí cao thượng đề cập ở đây liên hệ đến hai loại tích tập của công đức hay phước đức và tuệ trí và liên hệ đến hai loại thánh thân giác ngộ của sắc thân và pháp thân tương ứng.  Những lời tuyên bố của luận giải rằng căn bản của sự hoàn toàn của hai loại tích tập là sự trau dồi của nhận thức cao thượng ([Tib: ngön-she]).  Điều liên hệ này đến một sự tỉnh thức cao thượng nơi mà một người có khả năng hiểu biết qua trực giác của những khuynh hướng và ý định tinh thần của những chúng sinh khác và có thể hành động để giúp đở họ trong phương cách hiệu quả nhất.

35- 
Giống như một con chim đang phát triển 
Đôi cánh không thể bay trong bầu trời, 
Những ai không có năng lực của tỉnh thức cao thượng  
Không thể hành động cho sự tốt đẹp của những chúng sinh.

Điểm đề ra ở đây là nếu chúng ta thiếu sự tỉnh thức này về tâm thức của những chúng sinh khác, trong khi những khuynh hướng của chúng ta có thể là rất cao quý, chúng ta có thể biểu hiện những hành động của thân thể, lời nói, và tâm ý sau cùng kết thúc tổn hại trên những kẻ tiếp nhận.

36- 
Những công đức tiếp nhận trong một ngày đơn lẻ 
Bởi một người sở hữu một tỉnh thức cao thượng 
Không thể được tiếp nhận ngay cả trong một trăm đời sống 
Bởi một người không có nhận thức cao thượng như thế.

37- 
Những ai muốn nhanh chóng hoàn thành 
Những sự tích tập vì sự toàn giác 
Sẽ hoàn hảo nhận thức cao thượng  
Qua nổ lực, chứ không qua sự lười biếng.

38- 
Không đạt đến tịch tĩnh bất động 
Nhận thức cao thượng sẽ không xảy ra 
Vì thế hãy liên tục nổ lực 
Để hoàn hảo tịch tĩnh bất động

Tổ sư A Để Sa trình bày sự thực tập về tịch tĩnh bất động như một điều kiện để trau dồi nhận thức cao thượng này, hay tỉnh thức cao thượng.  quan trọng hơn, sự đạt đến tịch tĩnh bất động là một tiền đề bắt buộc để đạt đến tuệ quán – tuệ giác nội quán sâu sắc vào trong bản nhiên của tính không.  Mặc dù có thể phát triển tuệ trí thực chứng tính không nhưng nếu không có tịch tĩnh bất động, rõ ràng không thể phát triển tuệ trí mà nó là một sự hợp nhất của tịch tĩnh bất động và tuệ quán thâm sâu.  Tuệ quán thâm sâu chân thực tập trung trên tính không đạt đến chỉ khi chúng ta trải qua sự nhuần nhuyễn của thân thể và tinh thần chuyển hóa từ tiến trình thẩm tra phân tích.  Để đạt đến sự nhuần nhuyễn chuyển hóa qua phân tích, chúng ta phải có một sự nhuần nhuyễn của thân thể và tinh thần mà nó phát sinh qua nhất tâm bất loạn.  Luận giải của Đạo sư Tông Khách Ba tiếp theo diễn tả những phẩm chất đặc biệt của tâm một khi người ấy đã đạt đến tịch tĩnh bất động (tĩnh trụ).

Thi Kệ Chứng Nghiệm: Đoạn thứ 19

Thiền định tập trung là vua vận dụng năng lực qua tâm.  Nếu chúng ta xử dụng nó (trên một điểm), nó sẽ duy trì ở đấy, bất động như núi Tu di vĩ đại.  Nếu chúng ta áp dụng nó, nó có thể phối hợp trọn vẹn với bất cứ đối tượng đạo đức nào.  Nó đưa sự vui mừng hoan hỉ phấn khích nhất của thân và tâm hiện diện làm cho sự phụng sự tiện lợi.  Biết điều này, những hành giả du già thông thạo đã tận lực liên tục nhất tâm bất loạn, là điều sẽ vượt thắng kẻ thù tán loạn tinh thần.  Ta, hành giả du già, đã thực tập đúng như thế.  Các con những người cũng tìm cầu sự giải thoát, hãy vui thích tự trau dồi trong cùng cách ấy.

Dịch kệ: 

19- 
Định là đại vương 
Ngự trị tâm thức 
Như núi Tu di 
Vững không lay động 
Khi mở tâm ra 
Tâm sẽ thâu nhiếp 
Toàn bộ thiệp pháp 
Định khiến thân tâm 
Nhu nhuyễn bén nhạy 
Hỉ lạc khinh an 
Vì biết điều này 
Nên các hành giả  
Ai người khéo tu 
Cũng đều dốc sức 
Miên mật thiền chỉ 
Cố gắng hàng phục 
Kẻ thù tán tâm 
Thầy là hành giả 
Đã tu như vậy 
Các con ai người 
Đang cầu giải thoát 
Hãy tự thuần dưỡng 
Đúng theo lối này

Trong hai dòng đầu, tác giả đã nói rằng khi chúng ta đạt được tịch tĩnh bất động, chúng ta cũng đạt được một sự hiểu biết thành thạo đối với tâm thức chính mình, bởi vì chúng ta có khả năng quyết định là có nên tiến hành (một hành động nào đấy) với một đối tượng hay không.  Nếu chúng ta muốn đặt sự nhất tâm trên một đối tượng chọn lựa, nó sẽ duy trì ở đấy một cách hoàn toàn không dao động, như núi Tu di.  Loại thiền định tập trung diễn tả trong đoạn này được đạt đến sau cấp độ thứ chín của tinh thần ổn cố, là điểm mà chúng ta kinh nghiệm một cảm giác hạnh phúc hoan hỉ vui mừng. [39]  Niềm hạnh phúc này không nên lầm lẫn với đại hỉ lạc trong mật điển tantric; đúng hơn, nó là niềm hạnh phúc xuất phát từ sự nhuần nhuyễn thân thể và tinh thần phát sinh như một kết quả hợp nhất của sự nhất tâm của chúng ta với một đối tượng thiền quán lựa chọn.

Ngọn Đèn Cho Con Đường: Đoạn thứ 39&40

39- 
Trong khi những điều kiện cho tịch tĩnh bất động 
Không hoàn toàn, (thì) sự ổn cố thiền định 
Sẽ không hoàn thành, thậm chí nếu một người thiền tập 
Một cách hăng hái tích cực hàng nghìn năm

40- 
Vì vậy hãy đặt trọng tâm vào những điều kiện được đề cập 
Trong chương Tích Tập cho Thiền Định  Ổn Cố 
Đặt tâm thức trên bất cứ một 
Đối tượng đạo đức trọng điểm nào.

Như luận giải trình bày, nếu những điều kiện trau dồi nhất tâm bất loạn và tịch tĩnh bất động (nhất tâm và tĩnh trú)  không hoàn toàn, tất cả những nổ lực của chúng ta để đạt đến thiền định ổn cố sẽ vô ích.  Do thế, nếu chúng ta muốn tiến hành một sự thực hành tập trung trau dồi tịch tĩnh bất động, trước nhất chúng ta phải bảo đảm rằng năm điều kiện đòi hỏi phải hiện diện.

1-    Căn bản đúng đắn về lối sống trên nguyên tắc đạo đức (giới luật). 
2-    Ít ham muốn cá nhân hay những việc lặt vặt thế gian phải được hoàn tất. 
3-    Có một sự thông hiểu về tất cả những nhân tố chìa khóa và những tầng bậc của việc thực hành. 
4-    Có một sự kiêng khem thích hợp và tránh một sự ăn uống thừa thải. 
5-    Càng ít sự xao lãng càng tốt, với một sự giới hạn về sự tiếp xúc với những người lạ hay những người khác.

Trong cách này, chúng ta có thể tạo nên những điều kiện cần thiết cho sự thực hành nhất tâm tĩnh trú.  Những hành giả Phật giáo xúc tiên nổ lực tập trung để trau dồi sự nhất tâm bất loạn này phải tiến hành sự thực tập này trong hai cách.  Chúng ta phải biết những kỷ thuật cho cả sự nâng cao trình độ tâm thức và sự phát sinh những tư tưởng đúng đắn của chúng ta.  Chúng ta có thể nghĩ rằng ngồi ngay thẳng sẽ nâng cao tâm thức ta và rướn người qua (cúi người) sẽ đưa đến những kết quả này , nhưng chẳng phải là trường hợp nào cả.  Chúng ta phải học những tiến trình tâm thức và quán chiếu tư tưởng để mang đến những tác dụng này.

Ở đây, chúng ta đang nói về những hành giả thực tập con đường tiệm tiến (lam-rim), những người đã từng tiến hành trong những sự thực tập lên đến điểm này – những người ở giai đoạn bắt đầu và giai đoạn kế tiếp theo, kể cả Ba sự Rèn luyện Cao cấp (tam vô lậu học: giới-định-tuệ) – và  đạt đến một trình độ kinh nghiệm nào đấy như một kết quả của sự áp dụng phối hợp về thiền quán phân tích và  thiền định nhất tâm (liễu biệt thiền và tam muội thiền).

Như những bước thực tiễn tiến triển trong sự tiến hành việc trau dồi tịch tĩnh bất động, có nhiều phương pháp khác nhau được giải thích trong luận giải, chẳng hạn như trong Trung Biên Phân Biệt Luận Sớ của Di Lặc/Vô Trước (Maitreya/Asanga’s Madhyantavibhaga [Tib: U-tha-nam-che]), chúng ta có thể tìm thấy nhiều thảo luận về năm chướng ngại chính đến sự thành công của thiền tập và tám đối trị với những chướng ngại này.  Đối với đối tượng mà chúng ta xử dụng cho thiền định nhất tâm, luận giải trình bày nhiều thứ lớp của đối tượng.  Có những đối tượng thích hợp cho việc tịnh hòa những ác nghiệp hay khử trừ những phiền não, có những đối tượng thích hợp hơn để phân tích những tính khí, v.v… Có ba loại đối tượng chính được đề cập:

1-    Một đối tượng bao quát, thông thường cho cả tịch tĩnh bất động và tuệ quán thâm sâu. 
2-    Những đối tượng phối hợp với những tính khí hay thói quen quá khứ của chúng ta. 
3-    Những đối tượng liên hệ hơn để vượt thắng những phiền não.

Cho dù chúng ta đem một đối tượng vật lý ngoại tại như đối tượng của sự thiền tập hay một thí dụ về một kinh nghiệm cá nhân của chính chúng ta, điều quan trọng  là chọn chỉ  một đối tượng và duy trì trên đối tượng ấy mà không thay đổi nó.  Càng nhiều đối tượng mới mà chúng ta đem vào như một tiêu điểm của sự thiền tập, chúng ta càng thu thập ít tiến triển hơn.  Chọn một đối tượng độc nhất và đem toàn bộ sự chú tâm của chúng ta vào đấy.  Thí dụ, những hành giả Phật giáo có thể tập trung về hình tướng một Đức Phật.  Tuy nhiên, nếu làm điều này không nên quán tưởng một vị Phật quá to hay quá nhỏ - khoảng ba hay bốn ngón tay chiều rộng và chiều cao là quá hữu dụng.  Trong bất cứ trường hợp nào, sự quán tưởng của chúng ta phải nên rõ ràng và rực rở, như một kỷ thuật tạo ảnh ba chiều khi có ánh sáng thích hợp.

Khi chúng ta trau dồi thiền định nhất tâm trên một Đức Phật, mặc dù chúng ta có thể dùng một sự tiểu biểu vật lý, chẳng hạn như một bức tượng hay một bức họa, khi chúng ta mới bắt đầu, điều này không là thứ mà chúng ta dùng trong sự thiền tập thực sự của chúng ta.  Ở đấy, chúng ta tập trung trên một hình tượng mà chúng ta tạo nên trong tâm thức chúng ta và trau dồi sự tập trung nhất tâm trong thứ ấy.  Thí dụ cũng có những phương pháp để trau dồi tịch tĩnh bất động trên căn bản của bổn tôn du già (deity yoga), chúng ta sẽ quán tưởng chính chúng ta như một bổn tôn, hay năng lượng sinh lý của chúng ta, ở đấy chúng ta tập trung trên những tư tưởng vi tế của mình.  Điều sau là sự thực tập Kim Cương thừa.

Chìa khóa để phát triển tịch tĩnh bất động (tĩnh trú) là chính niệm, điều này phối hợp nội quán tự tâm và chuyên cần. Đấy là sự tiếp tục áp dụng chính niệm duy trì sự chú tâm của chúng ta trên đối tượng mà chúng ta đã chọn lựa.  Đây là trung tâm của thiền bố trí (thiền chỉ).  Trước đây, chúng ta đã thấy, trên căn bản áp dụng chính niệm, chúng ta bảo đảm ngăn ngừa khỏi những hành động tiêu cực như thế nào.  Do vậy, ngay cả nguyên tắc đạo đức (giới luật) cũng liên hệ đến sự thực tập chính niệm.

Cũng thế, những điều đầu tiên trong ba mươi bảy phương diện của con đường giác ngộ (37 phẩm trợ đạo) là bốn nền tảng của chính niệm (tứ niệm xứ) – tỉnh thức về thân thể, cảm thọ, tâm thức và những hiện tượng (niệm thân, thọ, tâm, pháp).

Trong phương sách của tập trung nhất tâm, then chốt là để phát triển chính niệm đến một trình độ mà chúng ta có thể duy trì nó mà không bị lôi cuốn bởi một đối tượng tức thời.  Khi chúng ta tiến hành trong sự tập trung nhất tâm qua phát triển tịch tĩnh bất động, chúng ta phải cành giác với những lỗi lầm đa dạng mà chúng có thể ảnh hưởng đến sự thực tập của chúng ta.  Thí dụ, ngay cả nếu chúng ta có thể duy trì sự chính niệm nhất tâm, việc thiền tập của chúng ta có thể thiếu sự trong sáng, hay có thể nó trong sáng và không bị mất tập trung trên đối tượng, nhưng tâm thức chúng ta lại thiếu khả năng tồn tại ổn định lâu dài.

Một cách tổng quát, những lỗi lầm của thiền tập là tán loạn và tinh thần hôn trầm. Có hai loại tán loạn:

1-    Một là hoàn toàn mất chú tâm, không còn tiếp tục chính niệm trên đối tượng. 
2-    Hai là quá vi tế, và xảy ra khi ngay vả mặc dù không mất tập trung trên đối tượng, một tư tưởng khác khởi lên đâu đấy nơi hóc hẻm của tâm thức chúng ta.Tán loạn là dấu hiệu mà tâm thức chúng ta quá trạo cử và chúng ta cần tiến hành trong một tiến trình tâm thức để đem nó xuống một trạng thái trầm tĩnh hơn.

Một cách khác mà chúng ta mất chính niệm với đối tượng là khi tâm thức chúng ta hôn trầm, hay giải đãi (lõng lẻo).  Điều này đơn giản có nghĩa là chúng ta không thể tập trung trên đối tượng của thiền tập.  Ở những thời điểm khác, mặc dù chúng ta có thể tập trung trên đối tượng, lại thiếu sự trong sáng, hay khả năng ổn định lâu dài.  Đây là sự hôn trầm vi tế, hay giải đãi, và nó là một dấu hiệu cho biết rằng tâm thức chúng ta quá trì trệ.  Ở đây, chúng ta cần tiến hành trong sự quán chiếu nâng cao tâm thức chúng ta bằng việc tạo nên một cảm giác vui mừng hoan hỉ.

Nếu chúng ta thấy rằng tâm thức chúng ta quá trạo cử và tán loạn xảy ra không bao lâu khi chúng ta tiến hành thiền định nhất tâm, chúng ta nên quán chiếu trên sự kiện rằng chúng ta vẫn đang bị khống chế dưới những tư tưởng và cảm xúc tiêu cực; rằng đây là những phiền não vẫn đang hoạt động trong chúng ta.  Quán niệm sự kiện rằng chúng ta vẫn đang bị vướng mắc trong xiềng xích phiền trược của vòng luân hồi, và phản chiếu trên sự vô thường và sự chết.  Điều này sẽ có một tác dụng tĩnh táo lập tức cùng giảm bớt những sự phấn khích trạo cử và tán loạn của tinh thần.

Mặt khác, nếu chúng ta thấy rằng tâm thức chúng ta trì trệ và thiếu khả năng ổn định lâu dài, chúng ta cần nâng cao nó.  Ở đây, chúng ta có thể quán chiếu trên sự kiện rằng chúng ta sở hữu Phật tính – trung tâm của Phật quả - hay trên giá trị quý báu to lớn đối với sự tồn tại của con người và những cơ hội nó ban cho chúng ta.  Chúng ta cũng có thể quán chiếu trên những phẩm chất của tam bảo: Phật, Pháp và Tăng, đặc biệt là những phẩm chất giác ngộ của Đức Phật, hay sự việc rằng chúng ta có thể đạt đến sự chấm dứt khổ đau.  Những tư tưởng tích cực như thế này sẽ truyền cảm hứng hoan hỉ và tin tưởng trong chúng ta cùng củng cố sự can đảm của chúng ta.

Khi chúng ta bắt đầu trau dồi tịch tĩnh bất động (tĩnh trú) và tập trung nhất tâm, chúng ta phải học hỏi để làm thế nào những tiến trình liên hợp này phát huy, điều thiết yếu là chúng ta khám phá những kỷ thuật điềm tĩnh và nâng cao, những điều ấy sẽ hoạt động trong sự thực hành thiền tập của chính chúng ta và trình độ cân bằng đúng mức cho chúng ta, nhưng chỉ qua tiếp tục sự thực tập và kinh nghiệm cá nhân, chúng ta mới có thể khám phá những điều này là gì.  Tuổi tác và thể trạng vật lý của chúng ta cũng có thể làm nên một sự khác biệt, đặc biệt là tình trạng sức khỏe của chúng ta.

Tuy nhiên, khi chúng ta tiếp tục thực hành qua một thời gian dài, chúng ta sẽ tiến triển qua chín tầng bậc ổn cố của  tinh thần.  Cùng lúc chúng ta đạt đến tầng thứ chín, chúng ta sẽ đạt đến một trình độ cao cấp của tập trung nhất tâm, điều này rồi thì sẽ đưa chúng ta tới  chỗ đạt đến hạnh phúc hỉ lạc mà nó đến từ sự nhuần nhuyễn của thân thể và tinh thần.  Tại điểm này, chúng ta đã đạt đén tịch tĩnh bất động (tĩnh trú) và bậc thứ nhất của bốn trình độ tập trung (sơ thiền: định sinh hỉ lạc).

Nếu trên căn bản của tịch tĩnh bất động chúng ta tiếp tục tiến triển theo con đường bằng việc quán chiếu trên những sự không hoàn hảo của thế giới dục vọng, cuối cùng chúng ta sẽ trau dồi những tầng bậc cao hơn của tỉnh thức, chẳng hạn như ba trình độ cao hơn của tập trung (nhị, tam, tứ thiền).  Khi chúng ta tiếp tục tiến lên xa hơn, chúng ta sẽ đạt đến những những định an chỉ vô sắc (tứ không định).  Tại những tầng bậc cao hơn của tập trung (thiền định), tâm thức chúng ta sẽ rất vi tế mà chúng ta có thể tạm thời được tự do với nhiều khía cạnh của phiền não.

 

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

4.00

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập