Nghìn Năm Một Thuở

Đã đọc: 6018           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
image

Đối với Phật giáo, quy y tam bảo là bước đầu tiên vào đạo, là nền tảng của quá trình tu học Phật pháp. Tam quy và ngũ giới[3] là pháp hành trì căn bản nhất đưa đến an lạc giải thoát. Nếu không hành trì pháp căn bản này thì cơ sở nào để chứng minh rằng ‘ta hiểu và tu tập tốt’ như nhiều người biện minh.

Có lẽ không ai thắc mắc khi nói rằng để trở thành một học sinh của một trường học chính quy thì phải đăng ký ghi danh, trở thành nhân viên của một công ty chính thức thì phải đăng ký hồ sơ, trở thành đảng viên của một đảng phái chính trị thì phải kết nạp và tuyên thệ trung thành, trở thành tín đồ của tôn giáo nhất thần hay đa thần thì phải trải qua các nghi thức thâu nhận tín đồ do tôn giáo đó quy định. Cũng vậy, không ai thắc mắc khi nói rằng để trở thành một Phật tử đầy đủ, tín đồ Phật giáo cũng phải trải qua nghi thức Phật giáo được gọi là lễ quy y hay lễ truyền tam quy và ngũ giới. Vấn đề tưởng chừng như không cần thắc mắc ấy lại là một nghịch lý tồn tại trong Phật giáo. Một nghịch lý là có rất nhiều tín đồ Phật giáo muốn trở thành Phật tử nhưng lại ngại thọ tam quy và ngũ giới. Phải chăng Phật tử chưa hiểu lợi ích của việc quy y hay là lo sợ không giữ trọn giới khi đã thọ trì? Đâu là nguyên nhân cản trở Phật tử hướng đến con đường thánh thiện và làm cách nào để có thể tháo gỡ nghịch lý trên. Bằng cách nào để chứng minh rằng thọ tam quy và ngũ giới là cơ hội ‘nghìn năm một thuở’ mà Phật tử đang có và không thể bỏ qua. Đó là những câu hỏi đặt ra cho hàng Phật tử chúng ta để cùng suy ngẫm lời giải đáp.

Quy y là gì?

Câu hỏi này đã được giảng giải và phổ biến rất nhiều với sự nhất trí về nghĩa của từ quy y là quay về nương tựa. Quy y Phật tức là nương tựa Phật – bậc thầy chỉ đường dẫn lối đã giác ngộ và có đủ mười đức hiệu[1], là nương vào hình tượng Phật như là biểu tượng linh thiêng để khơi gợi nhớ đến công đức của Ngài mà hướng về tu tập cũng như để tỏ lòng tri ân sâu sắc. Nương tựa Phật cũng tức là nương tựa vào Phật tánh vốn có của mỗi người để từ đó nỗ lực hành trì mong đạt được tuệ giác như Phật. Quy y Pháp là nương tựa vào giáo pháp của đức Phật lưu lại trong ba tạng kinh, luật, luận để làm kim chỉ nam hướng đến con đường giác ngộ giải thoát vì pháp là bậc thầy – hiện thân của Phật như Kinh Đại Bát Niết Bàn chép. Biểu hiện của pháp là những đức tính từ, bi, hỷ, xả, vị tha, vô ngã, v.v….Quy y Tăng là nương tựa vào tập thể tăng thanh tịnh để được hướng dẫn đi trên con đường chân chánh hướng tới hạnh phúc an lạc. Quy y Tăng cũng có nghĩa là phát nguyện sống hòa hợp với mọi người xung quanh. Như vậy, quy y Phật, Pháp, Tăng tức là quay về nương tựa và đặt niềm tin chân chánh vào ‘ba ngôi báu’[2] để vững bước trên con đường hướng đến giác ngộ.

Tại sao phải quy y?

Một vấn đề được nhiều người đặt ra và tự hỏi là tại sao ta phải quy y cho bị ràng buộc, và tự phản biện rằng miễn ta hiểu và thực hành tốt là được rồi, không nhất thiết phải quy y mà không thực tập. Nghe qua câu nói ấy tưởng cũng logic và cũng có lý nhưng chính cái tưởng có lý ấy lại là tri thức sai lầm đã cản trở con đường trở thành Phật tử đầy đủ của tín đồ Phật giáo. Tại sao?

Như phần giới thiệu đã đề cập, chắc chắn rằng không ai thừa nhận ta trở thành một học sinh, một công nhân, một đảng viên v.v… nếu như ta không tuân thủ quy định bắt buộc. Cho dù ta có giỏi xuất chúng mà không nương vào khuôn phép thì cũng chỉ là người ngoài cuộc. Lý do tại sao chắc ai cũng rõ. Lại nữa, trong các tôn giáo đa thần như truyền thống của đạo Hindu (Ấn giáo), người con trai muốn trở thành người con thật sự trong dòng họ Vệ đà để có đầy đủ tư cách học kinh Vệ đà (kinh thánh của đạo Hindu) thì bắt buộc phải trải qua lễ upanayana (lễ công nhận người con trai sanh lần thứ hai tức sanh trong dòng Vệ đà, khác với lần thứ nhất do cha mẹ sanh), còn người con gái thông qua lễ cưới để được công nhận trở thành gia chủ, và có thể bước vào đời sống tâm linh. Trong truyền thống Cơ đốc giáo, các tín đồ đều phải trải qua lễ báp tít (baptism) để trở thành con chiên chính thức của giáo hội. Những dẫn dụ trên để chứng minh rằng các tổ chức xã hội hay truyền thống tôn giáo đều có những quy định về quyền lợi và bổn phận rõ ràng đối với người tham gia và đó cũng là cơ sở để xây dựng nên một tập thể kỷ cương và vững mạnh.

Đối với Phật giáo, quy y tam bảo là bước đầu tiên vào đạo, là nền tảng của quá trình tu học Phật pháp. Tam quy và ngũ giới[3] là pháp hành trì căn bản nhất đưa đến an lạc giải thoát. Nếu không hành trì pháp căn bản này thì cơ sở nào để chứng minh rằng ‘ta hiểu và tu tập tốt’ như nhiều người biện minh. Và tội gì khi ta có đủ tư cách để hành trì tam quy và ngũ giới một cách chính thức mà lại tu tập ‘không chính quy’ theo lời biện bạch. Cái chính quy chắc rằng tích cực hơn và hỗ trợ ta nhiều hơn so với cái không chính quy dù trong bất cứ lĩnh vực nào trong xã hội huống gì đời sống tâm linh vốn rất cần gần gũi những bậc thầy lành, bạn tốt. Thế thì, có lý nào ta muốn trở thành Phật tử chân chánh mà không quy y; có lý nào ta muốn xây nhà ba tầng mà không muốn xây nền móng, chỉ muốn xây tầng thứ ba như ông trưởng giả trong Kinh Bách Dụ; có lý nào ta mong muốn hạnh phúc an lạc mà pháp hành trì cơ bản nhất cũng khước từ; và có lý nào ta đủ tự tin hướng đến giải thoát sanh tử mà không cần nương tựa tam bảo?

Rất nhiều bài kinh trong kinh bộ Nikaya[4] chép rằng, sau khi tiếp kiến, đàm luận hay cật vấn đức Phật, tất cả các vị vua chúa, đại thần, thương gia, thường dân, cho đến các vị lãnh đạo của các giáo phái khác đều thừa nhận giáo pháp của đức Phật hoàn thiện cả ba thời[5] và họ đều mong cầu được quy y. Đức Phật, trước khi chấp nhận, luôn khuyến khích họ nên giữ truyền thống gốc khi đã quy y và thực hành giáo pháp của Ngài. Tại sao các vị ấy lại khát khao quay về đạo Phật, và tại sao đức Thế Tôn dạy pháp quy y thay vì cứ để họ tự hiểu và hành theo ý họ?! Câu trả lời là vì giáo pháp của đức Phật thật sự đem lại an lạc cho họ, và đức Phật hiểu rõ rằng chỉ có thể thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát khi nương tựa vào tam bảo.

Quy y được lợi ích gì?

Thông thường, khi làm việc gì chúng ta đều có mục đích. Mục đích có thể là kết quả hướng đến, là lợi ích mà ta mong muốn đạt được. Lợi ích có thể là vật chất, địa vị danh vọng, là an lạc hạnh phúc, v.v... Lợi ích của sự quy y tam bảo theo Kinh Nhật Tụng hằng ngày ghi là khỏi đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh. Theo lời dạy của Hòa thượng Thích Thiện Hoa trong sách Phật Học Phổ Thông thì quy y tam bảo có 2 lợi ích là ‘khỏi đi lạc đường đời vào nơi tăm tối và Phật tử hành trì Phật pháp hiệu quả hơn vì sợ thất hứa với lời phát nguyện quy y dưới sự chứng minh của chư Phật và chúng Tăng.’ Còn theo theo bài viết của Đại đức Thích Giải Hiền thì quy y có 8 lợi ích là ‘1. Trở thành đệ tử của Phật, 2. Là nền tảng của việc thọ giới, 3. Có thể tiêu trừ nghiệp chướng, 4. Có thể tích tập phước đức to lớn, 5. Không đọa ác đạo, 6. Người và phi nhơn không thể làm hại, 7. Có thể thành công trong mọi việc lớn, 8. Có thể thành Phật.’ (www.buddhismtoday.com). Nói một cách tổng quát thì lợi ích của sự quy y là duyên lành để nương tựa chánh pháp, nương tựa thầy lành bạn tốt, để phát triển đời sống tâm linh, để cùng đi trên con đường thánh thiện, và tất yếu là để thoát khỏi ba ác đạo, sanh vào các thiện đạo.

Như một quy luật tự nhiên, lợi ích là động lực thúc đẩy người ta đi đến một quyết định có ý thức nhất thời hay lâu dài. Lợi ích vừa nêu trên có vẻ trừu tượng và không mấy hấp dẫn đối với những người thiên về thực dụng và nhất là giới trẻ ngày nay sống trong xã hội chạy đua hưởng thụ vật chất như ở Việt nam. Cái mà nhiều người mong muốn hiện nay là có nhiều tài sản, có địa cao, có quyền lực lớn, hưởng thụ thoải mái, và sự hứa hẹn hấp dẫn ‘làm ít hưởng nhiều, không tu cũng chứng’.

Nắm được tâm lý này, các tôn giáo đã phát động chiến dịch ‘nhập tịch thiên đường’ bằng cách vận động tài chánh qua những lời hứa hẹn sẽ ‘cấp visa’ sớm nếu như số tài khoản đóng góp càng cao. Những tài khoản này sẽ được dùng vào một chiến dịch khác là ‘mở rộng thiên đường và phát triển tín đồ’ cũng với những lời hứa hẹn hấp dẫn cộng thêm những món quà tương đối giá trị đối với những vùng xa xôi nghèo khó. Nếu như chiến dịch chỉ dừng lại ở đó thì không có gì phải bàn và nếu cần bàn thì phải khâm khen và khuyến khích những hoạt động như thế. Điều không may mắn là đằng sau hoạt động tốt đẹp ấy là một ‘đại dự án’ ít ai có thể ngờ, nhất là bà con ở những nơi xa xôi thiếu thông tin.

Đây thật sự là bài học quý giá để Phật giáo suy ngẫm về sự chăm sóc tín đồ và phương cách truyền bá chánh pháp của mình. Phật giáo hầu như thờ ơ trong việc quan tâm đến Phật tử. Sau khi các chùa truyền tam quy cho tín đồ rồi thì xem như là xong nhiệm vụ. Các chùa không biết mình đã truyền tam quy cho bao nhiêu Phật tử và bây giờ họ làm gì ở đâu, sống hay chết, còn là Phật tử hay cải đạo rồi. Hơn nữa, nhiều vị xem việc truyền tam quy cho tín đồ như là ban phát một ân huệ và tự nghĩ rằng Phật tử phải biết ơn này và phải có bổn phận trách nhiệm với chùa. Lẽ dĩ nhiên, người Việt nam vốn có đức tính tôn sư trọng đạo và luôn đề cao đạo lý ấy. Tuy nhiên, sau khi quy y có nhiều Phật tử không tìm học được nhiều ở chùa đã quy y nhưng lại tìm thấy có nhiều điều cần phải học từ các chùa khác. Do đó, họ tìm đến các đạo tràng tu tập để phát triển đời sống tâm linh. Khi biết tin những người Phật tử mình truyền tam quy đi các chùa khác tu tập, nhiều vị thầy đã không hài lòng và đôi khi có những cách hành xử làm Phật tử nản lòng. Thử hỏi nếu những vị ấy bỏ đạo đi theo các tôn giáo khác hay theo tà pháp thì sao? Tại sao ta không tạo điều kiện cho Phật tử tu học, không khuyến khích họ tìm học mà còn cản trở họ đi tham học? Vậy thì, Phật tử quy y hơn gì so với những Phật tử không quy y[6] nếu không muốn nói là có những trường hợp còn rắc rối thêm. Phải chăng đây là yếu tố góp phần cản trở tín đồ quy y?!

Nếu như mỗi ngôi chùa đều có chương trình chăm sóc tín đồ cơ hữu của mình, thì sự hấp dẫn của sự quy y đâu phải là nhỏ. Một cộng đồng Phật tử ở đó có thể hỗ trợ lẫn nhau từ vật chất đến tinh thần thì chẳng phải là mong ước của những người quy y ư?! Một cộng đồng Phật tử có thể giúp đỡ cho con em mình có công ăn việc làm, có cơ hội học tập đời sống đạo đức thì chẳng phải là hữu ích và hấp dẫn sao?! Những cộng đồng Phật tử ở những nơi thành phố khá giả có điều kiện mở rộng hỗ trợ đến các