Những cánh hoa trí tuệ - phần 29

Đã đọc: 3168           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

“Này các Tỳ-kheo, thế nào là ba pháp đưa đến thối đoạ? Ưa hội chúng, ác ngôn, ác bạn hữu. Ba pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến thối đoạ.”

1

 “Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp cần phải ghi nhớ này. Thế nào là sáu?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú thân làm từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú lời nói từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú ý nghĩ từ đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát, vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các đồng Phạm hạnh có giới đức. Đây là pháp cần phải ghi nhớ.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đối với các Giới luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến Thiền định, Tỳ-kheo sống thành tựu Giới luật trong các Giới luật ấy đối với các đồng Phạm hạnh trước mặt lẫn sau lưng.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau, Tỳ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.

Này các Tỳ-kheo, đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 22 – 3)

 

“Monks, there are six ways of being considerate. What six?

Herein, monks, a monk’s part is amity in deed towards his fellows in the godly life, openly and in private; verily, this is a way of being considerate.

Then, those proper gains, gotten according to rule – be they but bowl-scraps – he loves to share them impartially, to have them in common with his virtuous frllows in the godly life; this also is a way of being considerate.

And those virtues that are unbroken, without flaw, spotless, without blemish, bringing freedom, praised by wise men, incorruptible, leading to concentration – he dwells one in virtue with them among his fellows in the godly life, openly and in private; this also is a way of being considerate.

And that Ariyan view, saving, leading him who acts accordantly to the utter destruction of Ill – he dwells one in view with that among his fellows in the godly life, openly and in private; this also is a way of being considerate.

Verily, monks, these are the six ways of being considerate.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 208)

 

2

 “Ai chuyên ưa hý luận,

Như thích thú hý luận,

Đi ngược lại Niết-bàn

Nơi an ổn vô thượng.

Ai từ bỏ hý luận,

Ưa thích không hý luận,

Thuận hướng đến Niết-bàn,

Nơi an ổn vô thượng.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 31)

 

“Fancy-ensnarled, fawn-like too fancy-fond,

Ne’er wins he blest Nibbāna’s boundless peace:

But fancy-rid, intent on freedom’s way,

He wins to blest Nibbāna’s boundless peace.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 211)

 

3

 “Này các Tỳ-kheo, thế nào là ba pháp đưa đến thối đoạ? Ưa hội chúng, ác ngôn, ác bạn hữu. Ba pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến thối đoạ.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 56)

 

“What, monks, are the three? Delight in company, evil speaking and friendship with bad men. Verily, monks, these are the three things that lead to failure.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 221)

 

4

 “Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sáu pháp không thối đoạ? Không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, thiện ngôn, thiện bạn hữu. Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp không thối đoạ này.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 56)

 

“And what, monks, are these six? Delighting not in worldly activity, in talk, in sleep, in company; fair speech and friendship with good men. Verily, monks, these are the six things which do not lead to the failure.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 222)

 

5

 “Sợ hãi và khổ đau,

Bệnh hoạn và cục bướu,

Cả hai tham dính bùn,

Được gọi là các dục,

Tại đấy kẻ phàm phu,

Tham đắm và chấp trước.

Thấy sợ trong chấp thủ,

Nguồn gốc của tử sanh,

Không chấp thủ, giải thoát,

Đoạn tận được sanh tử,

Chứng đạt được an ổn,

Được hiện tại tịnh lạc,

Vượt sợ hãi oán thù,

Mọi đau khổ vượt qua.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 58)

 

Fear, pain, disease, blain, bondage, bog are names

For sense-desires to which the worldlings cling.

They who see fear in grasping – source of birth

And death – grasp not and, ending both, are freed;

Won is the peace, blissful in perfect cool

They dwell here now, all fear and hate long gone,

All ill surpassed.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 222)

 

6

 “Thành tựu sáu pháp, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có thể phá vỡ vua núi Tuyết sơn, còn nói gì vô minh hạ liệt. Thế nào là sáu?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo thiện xảo nhập được Thiền định, thiện xảo trú được Thiền định, thiện xảo xuất khỏi Thiền định, thiện xảo trong sự an lạc Thiền định, thiện xảo trong cảnh giới Thiền định, thiện xảo trong sự dẫn khởi Thiền định.

Thành tựu sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có thể phá vỡ vua núi Tuyết sơn, còn nói gì vô minh hạ liệt.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 59)

 

“Monks, with six things endowed, a monk may cleave the mountain-king, Himalaya, but who shall say it of rude ignorance? What six?

Herein, monks, a monk is skilled in the attainment of concentration, skilled in maintaining concentration, skilled in emerging from concentration, skilled in the weal of concentration, skilled in the range of concentration, skilled in the resolve for concentration. Verily, monks, with these six things endowed, a monk may cleave the mountain-king Himalaya, but who shall say it of rude ignorance?”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 222)

 

7

 “Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?

Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tuỳ niệm vô thượng.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 74)

 

“Monks, these six are above all. What six?

The sight above all; the sound above all; the gain above all; the training above all; the service above all; the ever minding above all.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 229)

 

8

 “Ai thấy được tối thắng,

Và nghe được vô thượng,

Được lợi đắc vô thượng,

Vui học tập vô thượng,

An trú trong phục vụ,

Tu tập chuyên tuỳ niệm,

Liên hệ đến viễn ly,

Đạt an ổn, bất tử,

Hoan hỷ, không phóng dật,

Thận trọng, hộ trì giới,

Khi thời đã chin muồi,

Đau khổ được đoạn tận.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 79 - 80)

 

“They who have found the noblest sight, the sound

Above all sounds, the gain of gains; have found

Joy in the training, are on service set,

Who make the ever minding more-become:

They who have found, linked to right loneliness,

The deathless way to peace – joyous in zeal,

Restrained by virtue, wise, they verily

Shall in due time know where all ill doth end.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 232)

 

9

 “Có ba nhân duyên này, này các Tỳ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

Tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải từ tham, không tham khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ tham, chỉ có tham khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải từ sân, không sân khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ sân, chỉ có sân khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải từ si, không si khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ si, chỉ có si khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú. Này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bang sanh được nêu rõ, các loài ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú.”

Đây là ba nhân duyên, này các Tỳ-kheo, klhiến các nghiệp khởi lên.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 95 - 6)

 

“Monks, there are these three means to heap up deeds. What three?

Greed is a means to heap up deeds; hate is a means to heap up deeds; delusion is a means to heap up deeds.

Monks, not from greed does not-greed heap up, but from greed surely greed heaps up; not from hate does not-hate heap up, but from hate surely hate heaps up; not from delusion does non-delusion heap up, but from delusion surely delusion heaps up.

Monks, not of deeds, greed-born, hate-born, delusion-born, are devas, are men, nor they who fare along the happy way; monks, of deeds born of greed, hate, delusion, hell is, brute-birth is, the ghost-realm is, and they who fare along the evil way.

Verily, monks, these are the three means to heap up deeds.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 239)

 

10

 “Có ba nhân duyên này, này các Tỳ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

Không tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Không phải từ không tham, tham khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ không tham, chỉ có không tham khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải từ không sân, sân khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ không sân, chỉ có không sân khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải từ không si, si khởi lên. Này các Tỳ-kheo, chính từ không si, chỉ có không si khởi lên. Này các Tỳ-kheo, không phải do nghiệp từ không tham sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, không phải do nghiệp từ không si sanh, địa ngục được nêu rõ, loài bàng sanh được nêu rõ, cõi ngạ quỷ được nêu rõ và các loài khác đang ở trong ác thú. Nhưng này các Tỳ-kheo, chính do nghiệp từ không tham sanh, chính do nghiệp từ không sân sanh, chính do nghiệp từ không si sanh, chư thiên được nêu rõ, loài người được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong thiện thú.

Đây là ba nhân duyên, này các Tỳ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 97)

 

“Monks, there are these three means to heap up deeds. What three?

Not greed is a means to heap up deeds; not hate is a means to heap up deeds; non-delusion is a means to heap up deeds.

Monks not from not-greed does greed heap up, but from not-greed surely not-greed heaps up; not from not-hate does hate heap up, but from not-hate surely not-hate does hate heap up, but from not-hate surely not-hate does hate heap up; not from non-delusion does delusion heap up, but from non-delusion surely non-delusion heaps up.

Monks, not of deeds, born of not-greed, not-hate, not-delusion, is hell, brute-birth, the ghost-realm, nor they who fare along the evil way; monks, of deeds, born of not-greet, not-hate, non-delusion, devas are, men are, and they who fare along the happy way.

Verily, monks, these are the three means to heap up deeds.”

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 239)

 

 

11

 “Bạch đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, sau khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp không còn tồn tại lâu dài?

Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, sống không cung kính, không tuỳ thuận bậc Đạo sư; sống không cung kính, không tuỳ thuận Pháp; sống không cung kính, không tuỳ thuận chúng Tăng; sống không cung kính, không tuỳ thuận học pháp; sống không cung kính, không tuỳ thuận không phóng dật; sống không cung kính, không tuỳ thuận tiếp đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên khiến cho khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp không tồn tại lâu dài.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 98)

 

““Lord, what reason is there, what cause, whereby, when the Tathāgata has passed away, Saddhamma shall not endure?”

“Consider, Kimbila, monk, nun, and lay disciple, man and woman, how, when the Tathāgata has passed away, they may dwell without reverence, without respect for the Master; without reverence, without respect for Dhammal;  without reverence, without respect for Order; without reverence, without respect for the training; without reverence, without respect for zeal; without reverence, without respect for good-will. This Kimbila, is a reason, this a cause, whereby, when the Tathāgata has passed away, Saddhamma shall not endure.””

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 240)

 

12

 Do nhân duyên gì, do duyên gì khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu dài?

Ở đây, này Kimbila, khi đức Thế Tôn nhập diệt, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tuỳ thuận bậc Đạo sư; sống cung kính tuỳ thuận pháp; sống cung kính tuỳ thuận chúng tăng; sống cung kính tuỳ thuận học pháp; sống cung kính tuỳ thuận không phóng dật; sống cung kính tuỳ thuận tiếp đón. Đây là nhân, đây là duyên, khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu dài.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 98 - 9)

 

““But what reason is there, lord, what cause, whereby, when the Tathāgata has passed away, Saddhamma shall endure?”

“Kimbila, let monk and nun, lay-disciple, man and woman, live with reverence and respect for the Master, Dhamma, Order, training, zeal and good-will; and it shall be a reason, a cause, whereby, when the Tathāgata has passed away, Saddhamma shall endure.””

(The Book of the Gradual Sayings III, p. 239)

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập