Những cánh hoa trí tuệ - phần 26

Đã đọc: 3511           Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font

“Này các Tỳ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là không hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỳ-kheo, là hai kẻ ngu.”

1

 Có hai loại hội chúng, này các Tỳ-kheo. Thế nào là hai? Hội chúng bất hoà và hội chúng hoà hợp. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng bất hoà? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng bất hoà.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng hoà hợp? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo hoà hợp, hoà kính, không có đấu tranh, hoà hợp như sữa với nước, sống nhìn nhau với cặp mắt từ ái, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng hoà hợp.

Này các Tỳ-kheo, có hai hội chúng này. Hội chúng tối thượng giữa hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng hoà hợp.

(Kinh Tăng Chi Bộ I, trang 134)

 

Monks, there are these two companies. What two? The discordant and the harmonious. And what is the harmonious company?

Herein, monks, in whatsoever company the monks dwell quarrelsome, wrangling, disputatious, wounding each other with the weapons of the tongue, - such a company is called “discordant.”

And what, monks, is the harmonious company?

Herein, monks, in whatsoever company the monks dwell in harmony, courteous, without quarrels, like milk and water mixed, looking on each other with the eye of affection, - such a company is called “harmonious.”

(The Book of the Gradual Sayings I, p. 66)

 

2

 “Này các Tỳ-kheo, các pháp ác, bất thiện khởi lên có tướng, không phải không có tướng. Do đoạn tận chính tướng ấy, như vậy các pháp ác, bất thiện ấy, không có mặt.”

(Kinh Tăng Chi Bộ I, trang 152)

 

“Monks, with characteristics are evil, unprofitable states, not without them. By abandoning just those characteristics, those evil, unprofitable states exist not.”

(The Book of the Gradual Sayings I, p. 75)

 

3

 “Này các Tỳ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là không hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỳ-kheo, là hai kẻ ngu.”

(Kinh Tăng Chi Bộ I, trang 155)

 

“Monks, there are these two fools. What two? He who deems unlawful what is lawful, and the reverse. These two.”

(The Book of the Gradual Sayings I, p. 76)

 

4

 “Này các Tỳ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỳ-kheo, là hai bậc hiền trí.”

(Kinh Tăng Chi Bộ I, trang 156)

 

“Monks, there are these two wise ones. What two? He who deems unlawful what is unlawful, and he who deems lawful what is lawful.”

(The Book of the Gradual Sayings I, p. 76)

 

5

 “Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:

-          “Bạch Thế Tôn, không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả không?”

-          “Này Ànanda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay A-la-hán quả”.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 653)

 

“Ànanda spoke thus “Lord, if women go forth from the home to the homeless life into discipline of Dhamma, declared by the Tathàgata, can they realize the fruit of Stream-winning, of Once-returning, of Non-returning and of Arahantship?”

The Buddha answered: “They can, Ànanda, if women go forth from the home to the homeless life into discipline of Dhamma, declared by the Tathàgata, they can realize the fruit of Stream-winning, of Once-returning, of Non-returning and of Arahantship”.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 183)

 

6

 “Khéo làm các công việc,

Thâu nhiếp người phục vụ,

Sở hành vừa ý chồng,

Gìn giữ của cất chứa,

Đầy đủ tín và giới,

Bố thí, không xan tham,

Rửa sạch đường thượng đạo,

Đến đời sau an lành.

Như vậy là tám pháp,

Nữ nhân có đầy đủ,

Được gọi bậc có giới,

Trú pháp, nói chân thật.

Đủ mười sáu hành tướng,

Thành tựu tám chi phần,

Nữ cư sĩ như vậy,

Với giới hạnh đầy đủ,

Sanh làm vị Thiên nữ,

Với chân thật khả ái.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 648)

 

“Deft, capable, she manages amid

His folk at work, minding her husband’s wealth,

Sweet in her ways; and she is virtuous,

Believing, kind and bountiful; she clears

The onward Way to faring will hereafter.

They say a woman who is so endowed,

With these eight states, is virtuous indeed

And truthful, just. And where these eight unite,

Blessed sixteenfold, that virtuous devotee

Is born again where lovely devas dwell.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 180)

 

7

 “Hãy thường yêu thương chồng,

Luôn nỗ lực, cố gắng,

Người đem lại lạc thú,

Chớ khinh thường người chồng,

Chớ làm chồng không vui,

Chớ làm chồng tức tối,

Với những người ganh tị.

Chồng cung kính những ai,

Hãy đảnh lễ tất cả,

Vì nàng người có trí.

Hoạt động thật nhanh nhẹn,

Giữa các người làm việc,

Xử sự thật khả ái,

Biết giữ tài sản chồng.

Người vợ xử như vậy,

Làm thoả mãn ước vọng,

Ưa thích của người chồng,

Sẽ được sanh tại chỗ,

Các chư Thiên khả ái.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 643)

 

“Active, alert to cherish him always,

Not to that man who brings her every joy,

She offers slight, nor will a good wife move

To wrath her husband by some spiteful word;

And she reveres all whom her lord doth honour,

For she is wise. Deft, nimble, up betimes,

She minds his wealth amid his folk at work

And sweetly orders all. A wife like this,

Who with her husband’s wish and will complies,

Is born again where lovely devas dwell.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 178)

 

8

“Trong sạch và thù diệu,

Đúng thời và thích ứng,

Đồ uống và đồ ăn,

Luôn luôn làm bố thí,

Trong các ruộng tốt lành,

Sống theo đời Phạm hạnh.

Không có gì hối tiếc,

Bố thí nhiều tài vật.

Những bố thí như vậy,

Với tâm tín, giải thoát.

Được bậc Trí tán thán,

Bậc Trí thí như vậy,

Với tâm tín, giải thoát.

Không hại, tâm an lạc,

Bậc Trí sanh ở đời.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 618)

 

“Clean, choice and timely, proper drink and food

He gives in charity repeatedly

To them that live the life – fair field of merit –

Nor feels remorse at lavishing his gifts

Of things material. Gifts given thus

The seers extol. And sacrificing thus –

Wise man, believer, with his heart set free –

I’ the calm and happy world that sage is born.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 166)

 

9

“Tín, tàm và thiện chí,

Những pháp thiện sĩ cầu,

Đường này gọi Thiện đạo,

Đường này đi Thiên giới.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 607 - 608)

 

“Faith, modesty and faultless giving –

These are the things wise men pursue.

This is the way divine, they say,

The high way to the deva-world.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 161)

 

10

 “Với ai không run sợ,

Đến hội chúng bạo ngôn,

Không quên lời đã học,

Không che giấu giáo pháp,

Không nói lời nghi hoặc,

Được hỏi không phẫn nộ.

Vị Tỳ-kheo như vậy,

Xứng đáng đi sứ giả.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 555)

 

 

“Who, to some high assembled council come,

Wavers not, nor in discourse fails, nor hides

The Master’s word, nor speaks in doubtfulness,

Whoso by question ne’er is moved to wrath –

Worthy to go with message is that monk.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 135)

 

11

 “Không tụng làm nhớp kinh,

Không dậy làm nhớp nhà,

Biếng nhác nhớp dung sắc,

Phóng dật nhớp phòng hộ,

Ác hạnh nhớp mỹ nhân,

Xan tham nhớp bố thí,

Các pháp ác làm nhớp,

Đời này và đời sau,

Nhưng có loại cấu uế,

Hơn tất cả cấu uế,

Đây chính là vô minh,

Là cấu uế lớn nhất.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 553)

 

“In non-repeating lies the mantra’s stain:

Not rising, that of homes; and sluggishness

Is beauty’ stain; a guard’s is carelessness;

Misconduct is a woman’s stain; in gifts

The stain is stint. In sooth, all sins are stains

Hereafter and on earth. But greater stain

Than these is ignorance, the greatest stain.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 134)

 

12

 “Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,

Danh vọng, không danh vọng,

Chỉ trích và tán thán,

An lạc và đau khổ,

Những pháp này vô thường,

Không thường hằng, biến diệt,

Biết chúng, giữ chánh niệm,

Bậc trí quán biến diệt.

Pháp khả ái, không động,

Không khả ái, không sân,

Các pháp thuận hay nghịch

Được tiêu tan không còn.

Sau khi biết con đường,

Không trần cấu, không sầu,

Chơn chánh biết sanh hữu,

Đi đến bờ bên kia.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 497)

 

“Gain, loss, obscurity and fame,

And censure, praise, contentment, pain –

These are man’s states – impermanent,

Of time and subject unto change.

And recognizing these the sage,

Alert, discerns these things of change;

Pair things his mind ne’er agitate,

Nor foul his spirit vex. Gone are

Compliance and hostility,

Gone up in smoke and are no more.

The goal he knows. In measure full

He knows the stainless, griefless state.

Beyond becoming hath he gone.”

                            (The Book of the Gradual Sayings IV, p. 108)

 

13

 “Ví như, này các Tỳ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà mái. Các trứng ấy được con gà mái ấp một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng các con gà của ta, với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!”; tuy vậy các con gà con ấy có thể với chân, móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn.

Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống chú tâm tu tập, dầu cho vị ấy không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!”; tuy vậy, tâm vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Vì cớ sao? Phải nói rằng, vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần, có tu tập Bốn như ý túc, có tu tập Năm căn, có tu tập Năm lực, có tu tập Bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 456 – 7)

 

“Monks, it is just as if eight or ten or a dozen hen’s eggs were fully sat upon, fully warmed and fully made to become; although any such wish might not come to that hen: “Oh that my chicks might break the egg-shells with the spiked claws of their feet or with their beaks and bills, and hatch out safely!” – yet it is not possible for those chicks to break the shells with their claws and beaks and to hatch out safely. And why? Because the eggs were fully sat on, fully warmed, fully made to become.

In just the same way, monks, although a monk might not express such a wish: “Oh that my heart might be freed of the cankers and be without attachment!” – yet his heart is freed form the cankers and attachment. And why? Let it be said: “It is due to making-become.” Making what become? The four arisings of mindfulness, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five controlling faculties, the five powers, the seven parts in awakening and the eightfold Aryan Way.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 83)

 

 14

 “Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thợ nề hay đệ tử của người thợ nề, khi nhìn vào cán búa, tháy dấu các ngón tay và dấu ngón tay cái. Người ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay từng ấy cán búa của ta bị hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng người ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo chú tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay từng ấy lậu hoặc của ta được đoạn tận, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy.” Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được đoạn tận trên sự đoạn tận các lậu hoặc.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 457)

 

“Monks, just as a carpenter or a carpenter’s apprentice, inspecting the handle of his adze, sees thereon the marks of his fingers and thumb, nor knows how much of the adze-handle was worn away that day, nor the previous day, nor at any time, yet knows just  when the wearing away; even so, monks, a monk intent upon making-become knows not to what extent the cankers were worn away that day, nor the previous, nor at any time yet knows just when the wearing away has reached the end of wearing away.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, pp. 83 - 4)

 

 

15

 “Ví như, này các Tỳ-kheo, một chiếc thuyền đi biển, có đầy đủ cột buồm và dây buồm bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa đông, các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng. Rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng bị hư dần và mục nát một cách dễ dàng.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và mục nát.”

(Kinh Tăng Chi Bộ III, trang 457 - 8)

 

“Monks, just as in an ocean-going ship, rigged with mast and stays, after it has sailed the seas for six months and is beached on the shore for the winter, the stays, affected by wind and heat, rained upon in the rainy season, easily weaken and rot away; even so, monks, in a monk, abiding intent upon making become, the fetters easily weaken and rot away.”

(The Book of the Gradual Sayings IV, p. 84)

Đăng ký lấy RSS cho bình luận Bình luận (0 đã gửi)

tổng số: | đang hiển thị:

Gửi bình luận của bạn

  • Bold
  • Italic
  • Underline
  • Quote

Xin hãy nhập các ký tự bạn nhìn thấy ở ảnh sau:

Captcha

BÌNH LUẬN BẰNG TÀI KHOẢN FACEBOOK ( đã gửi)

Các bài mới :
Các bài viết khác :

Đánh giá bài viết này

0

Tags

Không có tags cho bài viết này

Đăng nhập